Axít

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
AxítBazơ:

Các thuyết phản ứng axít-bazơ
pH
Sự tự ion hóa của nước
Dung dịch đệm
Tên gọi hệ thống
Phản ứng ôxi hóa-khử
Điện hóa học
Axít:

Bazơ:

Axít (còn được viết là acid theo tiếng Anh hay acide theo tiếng Pháp; thông thường biểu diễn dưới dạng công thức tổng quát AH) nói chung là các hợp chất hóa học có thể hòa tan trong nước và có vị chua. Thông thường, axít là bất kỳ chất nào tạo được dung dịch có độ pH nhỏ hơn 7 khi nó hòa tan trong nước. Về mặt khoa học, nói chung axít là các phân tử hay ion có khả năng nhường prôton (ion H+) cho bazơ, hay nhận (các) cặp điện tử không chia từ bazơ. Phản ứng giữa axít và bazơ được gọi là phản ứng trung hòa, sản phẩm của phản ứng này là muốinước.

Tính chất chung[sửa | sửa mã nguồn]

Tính chất vật lí[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vị giác: nhìn chung là chua khi hòa tan trong nước
  • Xúc giác: có cảm giác nhói đau (với các axít mạnh).
  • Độ dẫn điện: Là các chất điện li nên có khả năng dẫn điện.

Tính chất hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

  • Làm đổi màu chất chỉ thị (làm quỳ tím hóa đỏ hoặc hồng)
  • Tác dụng với kim loại (Li, K, Ba, Ca, Na, Mg, Al, Mn, Zn, Cr, Fe, Co, Ni, Sn, Pb)
Ví dụ:
Mg + 2HClMgCl2 + H2
  • Tác dụng với bazơ (tạo thành muối và nước)
Ví dụ:
H2SO4 + Cu(OH)2CuSO4 + H2O
  • Tác dụng với oxit bazơ (tạo thành muối và nước)
Ví dụ:
CuO + HClCuCl2+ H2O
  • Tác dụng với muối (tạo axit mới và muối mới)
Ví dụ:
H2SO4 + ZnCl2ZnSo4 + HCl

== Tính điện li ==

Trong nước phản ứng sau diễn ra giữa axít (AH) và nước, là chất đóng vai trò của một bazơ:

AH + H2O -> A- +H3O+

Hằng số axít (hay hằng số điện li axít) là hằng số cân bằng cho phản ứng của AH với nước:

K_a={[A^-]\cdot[\mbox{H}_3\mbox{O}^+]\over[AH]}

Các axít mạnh có giá trị Ka lớn (có nghĩa là cân bằng của phản ứng nghiêng về bên phải, có rất nhiều ion H3O+ tồn tại; axít gần như điện ly hoàn toàn). Ví dụ, giá trị của Ka đối với axít clohiđric (HCl) là 107.

Các axít yếu có giá trị Ka nhỏ (có nghĩa là ở mức cân bằng thì có một lượng đáng kể của AH và A- tồn tại cùng nhau trong dung dịch; các ion H3O+ tồn tại ở mức vừa phải; axít chỉ điện ly một phần). Ví dụ, giá trị của Ka cho axít axêtic là 1,8 x 10−5.

Các axít mạnh bao gồm các axít của các halôgen như HCl, HBr, và HI. (Tuy nhiên, axít flohiđric (HF) lại tương đối yếu.) Các axít chứa ôxy, có xu hướng với các nguyên tử trung tâm ở các trạng thái ôxi hóa cao, được bao quanh bởi ôxy, cũng là các axít mạnh chẳng hạn HNO3, H2SO4, HClO4. Phần lớn các axít hữu cơ là axít yếu.

Chú ý:

  • Thuật ngữ "ion hiđrô" và "prôton" được sử dụng tương đương; cả hai đều chỉ tới H+.
  • Trong các phản ứng hóa học H+ thông thường được viết tuy rằng trong nước nó thực sự là H3O+.
  • Cường độ axít được đo bằng giá trị Ka của nó. Độ pH đo xem có bao nhiêu ion hiđrô tồn tại, điều này phụ thuộc vào dạng axít (bazơ) và phụ thuộc vào lượng của nó trong dung dịch.
  • Cường độ axít được định nghĩa bằng pKa= - log(Ka).

Phản ứng trung hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Phản ứng trung hòa là phản ứng hóa học giữa axít và bazơ. Sản phẩm tạo thành là muối và nước. Vì thế nó còn được gọi là phản ứng tạo nước. Ví dụ:

NaOH + HCl -> NaCl + H2O

Dạng phản ứng này tạo thành nền tảng của các phương pháp thử chuẩn độ để phân tích axít, trong đó các chất chỉ thị độ pH chỉ ra điểm trung hòa.

Bậc điện li axít[sửa | sửa mã nguồn]

Một số phân tử axít có thể cung cấp nhiều hơn một ion H+ (prôton). Các axít mà chỉ có thể cho một ion H+ trên một phân tử được gọi là axít mônôprôton, các phân tử axít nào mà có thể cung cấp hai ion H+axít điprôton, các phân tử axít nào có thể cho ba ion H+axít triprôton, v.v. Một axít mônôprôton chỉ có một nấc điện li (đôi khi gọi là ion hóa) như sau và đơn giản chỉ có một hằng số điện li:

AH + H2O → A- + H3O+       Ka

Một axít điprôton (được ký hiệu tượng trưng là AH2) có thể có một hoặc hai nấc điện ly phụ thuộc vào các điều kiện môi trường (tức pH). Mỗi nấc điện li có hằng số điện li riêng, là Ka1 và Ka2.

AH2 + H2O → AH- + H3O+       Ka1
AH- + H2O → A-2 + H3O+       Ka2

Thông thường hằng số điện li thứ nhất lớn hơn so với hằng số điện li thứ hai; hay Ka1 > Ka2. Ví dụ, axít sulfuric (H2SO4) có thể cho một ion H+ để tạo ra một anion bisulfat (HSO4-), với hệ số Ka1 là rất lớn; sau đó nó có thể cho tiếp ion H+ thứ hai để tạo ra anion sulfat (SO4−2) trong đó Ka2 là có giá trị trung bình. Giá trị lớn của Ka1 cho nấc điện li thứ nhất làm cho sulfuric là một axít mạnh. Tương tự, axít yếu và không ổn định như axít cacbonic (H2CO3) có thể mất một ion H+ để tạo ra anion bicacbonat (HCO3-) và mất tiếp ion H+ thứ hai để tạo ra anion cacbonat (CO3−2). Cả hai giá trị Ka đều nhỏ, nhưng Ka1 > Ka2.

Tương tự, một axít triprôton (AH3) có thể có 1, 2, 3 nấc điện li và có ba hằng số điện li, trong đó Ka1 > Ka2 > Ka3.

AH3 + H2O → AH2- + H3O+       Ka1
AH2- + H2O → AH-2 + H3O+       Ka2
AH-2 + H2O → A-3 + H3O+       Ka3

Một ví dụ của axít triprôton vô cơ là axít octhophốtphoric(H3PO4), thông thường gọi là axít phốtphoric. Ba nguyên tử H của nó có thể kế tiếp nhau mất đi như là ion H+ (hay H3O+ trong nước) để sinh ra H2PO4-, sau đó là HPO4−2, và cuối cùng là PO4−3, ion octhophốtphat mang điện tích -3, thông thường gọi là phốtphat. Ví dụ của axít triprôton hữu cơ là axít xitric, nó cũng có thể kế tiếp nhau mất ba ion H+ để cuối cùng tạo ra ion citrat mang điện tích -3. Mặc dù vị trí của cả ba nguyên tử H trong phân tử gốc có thể là tương đương, nhưng các giá trị Ka kế tiếp nhau sẽ giảm dần do về mặt năng lượng, nó càng khó mất ion H+ hơn nếu ion mang điện tích âm cao dần lên và thường giảm khoảng 1000 lần qua mỗi bậc.

Các định nghĩa khác[sửa | sửa mã nguồn]

Từ axít có nguồn gốc từ tiếng Latinh acidus có nghĩa là "chua". Trong hóa học thuật ngữ axít có nhiều nghĩa khác biệt. Mỗi định nghĩa được áp dụng hiệu quả trong một phạm vi xác định

Nhà hóa học người Thụy Điển Svante Arrhenius định nghĩa axít, theo thuyết điện li, là chất cho các ion (H+) khi hòa tan trong nước (sản phẩm của dung dịch, H2O + H+, gọi là ion hiđrôni, H30+) và anion gốc axit; bazơ là chất cho các ion hiđrôxít (OH-). Định nghĩa này giới hạn axít và bazơ chỉ là những chất có thể hòa tan trong nước. Sau này, BrønstedLowry định nghĩa axít là chất cung cấp prôton và bazơ là chất nhận prôton. Theo định nghĩa này thì các chất mặc dù có thể không hòa tan trong nước, nhưng cũng có thể là axít hay bazơ. Định nghĩa chung nhất của axít và bazơ là định nghĩa Lewis, được đưa ra bởi nhà hóa học người Mỹ Gilbert N. Lewis. Thuyết Lewis định nghĩa "Axít Lewis" như là chất nhận cặp điện tử và "Bazơ Lewis" như là chất cho cặp điện tử. Theo định nghĩa này thì các chất không chứa một nguyên tử hiđrô nào, chẳng hạn như clorua sắt(III) cũng là một axít. Acid/base systems are different from redox reactions in that there is no change in oxidation state. Định nghĩa Lewis có thể giải thích với thuyết quỹ đạo phân tử. Nói chung, axít có thể nhận cặp điện tử vào trong quỹ đạo rỗng thấp nhất (LUMO) từ quỹ đạo chiếm cao nhất (HOMO) của bazơ. Điều này có nghĩa là HOMO từ bazơ và LUMO từ axít tổ hợp thành quỹ đạo phân tử liên kết.

Định nghĩa Brønsted-Lowry, trong đó axít được coi như chất cho prôton, là khiếm khuyết trong nhiều trường hợp. Trong trường hợp này, prôton (H+) là axít thực sự và độ axít của hợp chất cấp prôton, chẳng hạn như axít hữu cơ, được xác định bởi độ ổn định của nó khi nó cho các prôton vào dung dịch mà nó được hòa tan. Vì thế nếu axít hữu cơ ưa cho prôton đi, nó sẽ có độ axít cao vì nó cấp các prôton với các quỹ đạo phân tử rỗng vào dung dịch. Điều này giải thích tại sao các axít hữu cơ chẳng hạn như các axít cacboxylic hoạt động. Ở đây Định nghĩa Brønsted có tiíh dịnh lượng cao nhất được sử dụng chủ yếu cho phản ứng trung hòa và phản ứng thuỷ phân trong môi trường nước; Định nghĩa Lewis được sử dụng cho phản ứng tạo phức còn Định nghĩa Ubanovich được sử dụng chủ yếu cho phản ứng pha rắn.

Chỉ số axít[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ số này được sử dụng để định lượng số lượng axít tồn tại, chẳng hạn như trong dầu điêzen sinh học. Nó là lượng bazơ, biểu diễn theo lượng miligam hiđrôxít kali (KOH), cần phải có để trung hòa các thành phần axít trong 1 g mẫu thử.

AN = (Veq - beq) × N × 56,1 / Wdầu.

Veq là lượng chất thử chuẩn (ml) được tiêu thụ bởi một mẫu dầu mỏ và 1 ml (spiking solution??) ở diểm tương đương, và beq là lượng chất thử chuẩn (ml) được tiêu thụ bởi 1 ml (spiking solution??) ở điểm tương đương.

Nồng độ phân tử gam của chất thử chuẩn (N) được tính như sau:

N = 1000 × WKHP / (204,23 × Veq).

Trong đó, WKHP là lượng (g) của KHP trong 50 ml dung dịch KHP tiêu chuẩn, và Veq là lượng của chất thử chuẩn (ml) được tiêu thụ bởi 50ml dung dịch KHP tiêu chuẩn ở điểm tương đương.

Chỉ số axít (mg KOH/g dầu) cho dầu điêzen sinh học được ưa chuộng phải thấp hơn 3.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Các axít được đặt tên phù hợp với aion của chúng. Phần cuối của ion bị bỏ đi và thay thế với các hậu tố mới theo bảng dưới đây.

Phần cuối anion Hậu tố axít
at axít+ ic
it axít + ơ
ua axít + hiđric

Ví dụ:

  • sulfat --> axít sulfuric
  • sulfit --> axít sulfurơ
  • sulfua --> axít sulfuhiđric
  • peclorat --> axít pecloric
  • clorua --> axít clohiđric

Các axít thông dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Axit được phân thành 2 loại lớn có cấu tạo phân tử rất khác nhau: axit hữu cơaxit vô cơ.

Axít vô cơ mạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Axít vô cơ yếu hay trung bình[sửa | sửa mã nguồn]

Axít hữu cơ yếu[sửa | sửa mã nguồn]

Axít trong chế biến thực phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Hóa học
Hóa vô cơHóa hữu cơHóa dượcĐiện hóaHóa phân tíchHóa học lượng tửHóa lýHóa keoHóa sinhHóa polymeQuang hóa họcTinh thể họcHóa dầuDược phẩmHóa hạt nhânHóa lý thuyếtHóa môi trườngHóa vũ trụHóa thực phẩmHóa nhiệtHóa từHóa tin họcHóa siêu phân tửKhoa học vật liệu