| Trận cửa Thuận An |
| Một phần của Chiến tranh Pháp xâm lược Đại Nam |
|
Tàu chiến Pháp gần cửa Thuận An, 18 tháng 8 1883
|
| . |
| Thời gian |
Tháng 8 năm 1883 |
| Địa điểm |
gần Huế, miền trung Việt Nam |
| Kết quả |
Pháp chiến thắng |
|
| Tham chiến |
Pháp |
Nhà Nguyễn |
| Chỉ huy |
| Đô đốc Amédée Courbet |
Không rõ |
|
|
| Tổn thất |
| 12 lính bị thương |
khoảng 1.000 chết và bị thương |
| . |
|
Trận Cửa Thuận An (20 tháng 8 năm 1883) là trận đánh giữa quân Pháp và Đại Nam, trong thời gian xung đột trước khi Chiến tranh Pháp-Thanh (tháng 8 năm 1884 tới tháng 4 năm 1885) bùng nổ. Trong trận này một lực lượng đổ bộ của Pháp dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Amédée Courbet tiến công các pháo đài ven biển, bảo vệ đường sông tới kinh đô Huế.
Ngày 16 tháng 8 năm 1883, một hạm đội nhỏ gồm 7 tàu chiến, trong đó có hai tàu bọc thép, chở hơn một ngàn quân Pháp do Đô đốc Amédé Coubert chỉ huy tiến vào cảng Đà Nẵng. Hai ngày sau, quân Pháp dùng thuyền đi ngược lên sông Hương bắn phá pháo đài Trấn Hải của quân Nam. Quân Nam bắn lại suốt ngày hôm đó, nhưng do vũ khí quá thua kém nên đến cuối ngày các pháo lũy đều bị phá hủy, lực lượng phòng thủ bị tổn thất hết mà quân Pháp không bị thiệt hại gì, quan trấn thành là Lê Sĩ, Lê Chuẩn tử trận, Lâm Hoành, Trần Thúc Nhân nhảy xuống sông tự tử. Quân Pháp chiếm được cửa Thuận An (Huế). Dưới sức ép quân sự của Pháp, ngày 25 tháng 8, nhà Nguyễn phải chấp thuận ký hòa ước với Pháp, theo đó chấp thuận sự bảo hộ của Pháp tại Bắc Kỳ.
Tuy nhiên các quan chủ chiến của nhà Nguyễn vẫn còn ở miền Bắc, và quân Cờ đen còn rất mạnh, nên chiến sự tiếp diễn. Cuộc tấn công của quân Pháp vào tháng 8 năm 1883, dưới thời chính phủ Jules Ferry ở Paris, khiến cuộc chiến tranh Pháp-Thanh trở nên không thể tránh khỏi, và gieo mầm cho nổi dậy của phong trào Cần Vương tháng 7 năm 1885.[1]
Hạm đội Pháp trong chiến dịch cửa Thuận An[sửa]
Chú thích[sửa]
- ^ Cahu, 10–18; Huard, 103–22; Loir, 13–22; Thomazi, Conquête, 165–6; Histoire militaire, 62–4
Tài liệu tham khảo[sửa]
- Barbier, H., La division navale d'Extrême-Orient (1870/1940) (Nantes, 2006)
- Berrong, R. M., In Love with a Handsome Sailor (Toronto, 2003)
- Cahu, T., L'amiral Courbet en Extrême-Orient: notes et correspondance (Paris, 1896)
- Duboc, E., Trente cinq mois de campagne en Chine, au Tonkin (Paris, 1899)
- Eastman, L., Throne and Mandarins: China's Search for a Policy during the Sino-French Controversy (Stanford, 1984)
- Ganneron, A., L'amiral Courbet, d'après les papiers de la Marine et de la famille (Paris, 1885)
- Gervais, E., L'amiral Courbet (Paris, undated)
- Huard, L., La guerre du Tonkin (Paris, 1887)
- Lerner, M., Pierre Loti (New York, 1974)
- Loir, M., L'escadre de l'amiral Courbet (Paris, 1886)
- Lonlay, D. de, Au Tonkin, 1883–1885 (Paris, 1886)
- Lonlay, D. de, L'amiral Courbet et le « Bayard »: récits, souvenirs historiques (Paris, 1886)
- Loti, Pierre, Figures et choses qui passaient (Paris, 1931)
- Lung Chang [龍章], Yueh-nan yu Chung-fa chan-cheng [越南與中法戰爭, Vietnam and the Sino-French War] (Taipei, 1993)
- Thomazi, A., La conquête de l'Indochine (Paris, 1934)
- Thomazi, A., Histoire militaire de l'Indochine française (Hanoi, 1931)