Trận Cửa Thuận An

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận cửa Thuận An
Một phần của Chiến tranh Pháp xâm lược Đại Nam
Warships at Thuan An.jpg
Tàu chiến Pháp gần cửa Thuận An, 18 tháng 8 1883
.
Thời gian Tháng 8 năm 1883
Địa điểm gần Huế, miền trung Việt Nam
Kết quả Pháp chiến thắng
Tham chiến
Pháp Pháp Ensign of the Nguyen Dynasty (1802-85).png Thủy quân triều Nguyễn
Chỉ huy
Đô đốc Amédée Courbet Không rõ
Tổn thất
12 lính bị thương khoảng 1.000 chết và bị thương
.

Trận Cửa Thuận An (20 tháng 8 năm 1883) là trận đánh giữa quân PhápĐại Nam, trong thời gian xung đột trước khi Chiến tranh Pháp-Thanh (tháng 8 năm 1884 tới tháng 4 năm 1885) bùng nổ. Trong trận này một lực lượng đổ bộ của Pháp dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Amédée Courbet tiến công các pháo đài ven biển, bảo vệ đường sông tới kinh đô Huế.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8, Đô đốc Courbet rời Vịnh Hạ Long chỉ huy các tàu chiến Bayard, l'Atalante, le Chateau-Renaud, l'Annamite, le Drac, cùng với 2 hộ tống hạm le Lynx và la Vipère. Các tàu chiến chở quân đỗ bộ là tàu Bayard và l'Atalante. Tàu le Chateau-Renaud chuyển vận 2 đại đội thủy-bộ binh, một đại đội lính tập người An-nam (dưới quyền chỉ của các sĩ quan đại úy Pháp Monniot, Sorin và Radiguet một sĩ quan chỉ huy doanh trại thống đốc), hai đội trọng pháo do đại úy hải pháo Luce (sĩ quan tiếp vận của thống đốc) chỉ huy và 100 lao-công người An-nam. Tổng cộng hạm đội Pháp có khoảng 1000 người. Ngày 16 tháng 8 năm 1883, hạm đội Pháp vào cảng Đà Nẵng, tới ngày 18 tháng 8, đoàn tàu chiến thả neo trong vụng cảng Thuận-An.

Ngày 20/8, vào lúc 5 giờ sáng, Courbet ra lệnh pháo kích các hải đồn phòng thủ của biển Thuận-An. Ba mươi phút sau đó, đội quân thủy-bộ đầu tiên do Poidloue phó hạm trưởng tàu l' Atalante chỉ huy đổ bộ lên bờ và tiến chiếm ngay 2 hải đồn.

Vào lúc 8 giờ sáng ngày 20/8, tất cả đại đội thủy bộ binh đều đổ bộ lên bờ và tiến sâu vào làng và bao vây đại hải đồn Trấn-Hải. Quân Pháp có một sĩ quan và 5 binh sĩ bị thương. Quân Nam bắn lại suốt ngày hôm đó, nhưng do vũ khí quá thua kém nên đến cuối ngày các pháo lũy đều bị phá hủy, lực lượng phòng thủ bị tổn thất hết mà quân Pháp không bị thiệt hại gì. Các hải đồn ở đảo Cây Dừa và ở mặt phía Nam chống trả mạnh mẽ nhưng cũng bị tàu chiến và hải quân Pháp bắn hạ vào buổi sáng ngày 21/8. Cuộc đánh chiếm Thuận-An hoàn tất. Phía quân binh triều đình Huế có 600 tử trận và vô số bị thương. Các quan phòng giữ các hải đồn như quan trấn thành là Lê Sĩ, Lê Chuẩn tử trận, Lâm Hoành, Trần Thúc Nhân nhảy xuống sông tự tử. Quan thương-bạc của triều đình Huế là Nguyễn-Trọng-Hợp yêu cầu ngưng chiến nhưng chỉ được quân Pháp chấp thuận với điều kiện là quan binh Đại-Nam phải rút lui ra khỏi tất cả các đồn phòng thủ cửa biển Thuận-An và các đồn bót dọc trên tuyến đường Thuận-An đi vào Huế cũng như phải trả lại hai tàu chiến le Scorpion và le D' Entrcasteaux mà người Pháp đã trao tặng cho hoàng đế Tự Đức năm 1874.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Pháp chiếm được cửa Thuận An (Huế). Dưới sức ép quân sự của Pháp, ngày 25 tháng 8, nhà Nguyễn phải chấp thuận ký hòa ước Harmand với Pháp, theo đó chấp thuận sự bảo hộ của Pháp tại Bắc Kỳ.

Tuy nhiên các quan chủ chiến của nhà Nguyễn vẫn còn ở miền Bắc, và quân Cờ đen còn rất mạnh, nên chiến sự tiếp diễn. Cuộc tấn công của quân Pháp vào tháng 8 năm 1883, dưới thời chính phủ Jules FerryParis, khiến cuộc chiến tranh Pháp-Thanh trở nên không thể tránh khỏi, và gieo mầm cho nổi dậy của phong trào Cần Vương tháng 7 năm 1885.[1]

Hạm đội Pháp trong chiến dịch cửa Thuận An[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cahu, 10–18; Huard, 103–22; Loir, 13–22; Thomazi, Conquête, 165–6; Histoire militaire, 62–4

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Barbier, H., La division navale d'Extrême-Orient (1870/1940) (Nantes, 2006)
  • Berrong, R. M., In Love with a Handsome Sailor (Toronto, 2003)
  • Cahu, T., L'amiral Courbet en Extrême-Orient: notes et correspondance (Paris, 1896)
  • Duboc, E., Trente cinq mois de campagne en Chine, au Tonkin (Paris, 1899)
  • Eastman, L., Throne and Mandarins: China's Search for a Policy during the Sino-French Controversy (Stanford, 1984)
  • Ganneron, A., L'amiral Courbet, d'après les papiers de la Marine et de la famille (Paris, 1885)
  • Gervais, E., L'amiral Courbet (Paris, undated)
  • Huard, L., La guerre du Tonkin (Paris, 1887)
  • Lerner, M., Pierre Loti (New York, 1974)
  • Loir, M., L'escadre de l'amiral Courbet (Paris, 1886)
  • Lonlay, D. de, Au Tonkin, 1883–1885 (Paris, 1886)
  • Lonlay, D. de, L'amiral Courbet et le « Bayard »: récits, souvenirs historiques (Paris, 1886)
  • Loti, Pierre, Figures et choses qui passaient (Paris, 1931)
  • Lung Chang [龍章], Yueh-nan yu Chung-fa chan-cheng [越南與中法戰爭, Vietnam and the Sino-French War] (Taipei, 1993)
  • Thomazi, A., La conquête de l'Indochine (Paris, 1934)
  • Thomazi, A., Histoire militaire de l'Indochine française (Hanoi, 1931)