Vương quốc Rattanakosin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
LỊCH SỬ THÁI LAN
PB Grand Palace Bangkok.jpg
Thời tiền sử
Thời sơ sử
Trước khi người Thái tới
   Raktamaritika
   Langkasuka
   Srivijaya
   Tambralinga
   Dvaravati
   Lavo
   Supannabhum
   Hariphunchai
   Phù Nam
   Đế quốc Khmer
Những nhà nước Thái đầu tiên
   Singhanavati - Lan Na - Nan - Phayao
   Kao - Nakhon Si Thammarat - Sukhothai
Vương quốc Ayutthaya (1351–1767)
Vương triều Thonburi (1768–1782)
Vương triều Chakri (1782 – nay)
   Vương quốc Rattanakosin (1768-1932)
   Thời kỳ 1932-1973
   Thời kỳ 1973-nay
sửa

Rattanakosin (tiếng Thái: รัตนโกสินทร์) hay Xiêm (สยาม) (1782-1932) là tên nước Thái Lan vào đầu thời Triều Chakri. Xiêm là một quốc gia quân chủ tuyệt đối hùng mạnh, có các chư hầuCampuchia, Lào, và một số vương quốc Mã Lai, và thường xuyên tranh giành ảnh hưởng với MyanmaViệt Nam. Lịch sử Xiêm chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu, tập trung xây dựng đất nước. Giai đoạn sau, khôn khéo trong cư xử với AnhPháp, nhờ đó Xiêm là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á thoát khỏi chủ nghĩa thực dân châu Âu. Đường biên giới hiện đại của Thái Lan được xác định thông qua một loạt đàm phán với các cường quốc phương Tây đang cai trị các nước Đông Nam Á xung quanh. Về đối nội, Xiêm đã phát triển thành một nhà nước tập quyền hiện đại. Vương quốc này đã đạt được các tiến bộ kinh tế - xã hội đáng kể, đẩy mạnh ngoại thương, bãi bỏ chế độ nô lệ và mở rộng giáo dục cho các tầng lớp trung lưu mới nổi. Tuy nhiên, không có cải cách chính trị đáng kể cho đến khi chế độ quân chủ tuyệt đối bị thay thế bởi chế độ quân chủ lập hiến thông qua một cuộc cách mạng vào năm 1932, đánh dấu sự kết thúc của Rattanakosin.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1767, sau khi xưng hùng xưng bá ở Đông Nam Á trong gần 400 năm, vương quốc Ayutthaya đã bị quân Myanma đánh bại.

Mặc dù thất bại hoàn toàn của trước cuộc xâm lược của Myanma, nước Xiêm sau đó đã phục hồi nhanh chóng. Taksin - một quý tộc người gốc Hoa có tài năng lãnh đạo quân sự - đã lãnh đạo cuộc khàng chiến chống Myanma đi đến thắng lợi hoàn toàn. Vương quốc Ayutthaya được tái lập với thủ đô ở Thonburi bên bờ tây của sông Chao Phraya, 20 km so với bờ biển. Năm 1768, ông lên ngôi vua Taksin (nay chính thức được gọi là Taksin Đại đế). Ông nhanh chóng tái thống nhất vùng đất miền trung Thái Lan dưới sự cai trị của mình, và năm 1769 ông cũng đã chiếm phía tây Campuchia. Ông sau đó hành quân về phía nam và tái cai trị bán đảo Mã Lai xa về phía nam như PenangTerengganu. Sau khi củng cố vị trí ở Xiêm, Taksin tấn công người Myanma ở phía bắc năm 1774 và chiếm Chiang Mai năm 1776, thống nhất vĩnh viễn Xiêm và Lan Na. Vị tướng hàng đầu của Taksin trong chiến dịch này là Thong Duang, mang tước hiệu Chao Phraya, còn được gọi là chúa Chakri. Năm 1778, Chakri dẫn một đội quân Xiêm chiếm Viêng Chăn, Luang Phrabang, và cuối cùng thiết lập sự thống trị của vương quốc Xiêm khắp xứ Lào. Chakri trở thành nhân vật quyền lực thứ hai trong Triều Thonburi, chỉ sau vua Taksin.

Năm 1782, vua Taksin bị thuộc hạ giết. Hiện chưa rõ thuộc hạ của ông mưu hại ông vì ông cuối đời mắc bệnh điên như chính sử Thái Lan ghi hay đây là kết quả của kế hoạch đảo chính của Chakri. Dù sao, ngay sau khi vua Taksin bị hại, Chakri kéo quân trở về Thonburi và được các tướng lĩnh ủng hộ lên làm vua, khai sáng Triều Chakri và lập nên vương quốc Xiêm (Rattanakosin).

Thời kỳ dựng nước[sửa | sửa mã nguồn]

Chakri làm vua, xưng là Ramathibodi. Đời sau quen gọi ông là Rama I. Ông quyết định rời đô từ Thonburi về Bang Makok, nay chính là Bangkok. Hoàng cung đặt ở khu vực Rattanakosin bốn phía là sông và kênh rạch tạo thành những hào nước phòng thủ tự nhiên. Sử gia phương Tây gọi vương quốc của Rama I là vương quốc Rattanakosin chính vì lý do này.

Rama I khôi phục lại chế độ chính trị xã hội Ayutthaya, nhưng ban hành và áp dụng chế độ pháp luật mới. Ông không áp dụng chế độ tể tướng, mà thay vào đó là chế độ 6 đại thần do 6 người trong hoàng gia nắm giữ. Có 1 phó vương kiêm chỉ huy quân đội do em trai của Rama I giữ chức. Về đối ngoại, Rama I vẫn giữ vững sự cai trị của Xiêm đối với Campuchia. Song có 2 sự kiện đối ngoại đáng chú ý trong thời Rama I. Năm 1785, chiếm giữ một số nơi ở Bắc và Nam Thái Lan. Quân Xiêm đẩy lui được quân Myanma ở phía tây. Sự kiện thứ hai là việc quân Xiêm lấy cớ giúp Nguyễn Ánh, tiến công Việt Nam vào khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nhưng bị quân Tây Sơn đánh cho thảm bại. Rama I mất năm 1809.

15 năm tiếp theo dưới sự cai trị của Rama II là thời kỳ ổn định và hòa bình. Vì vua Rama I có 42 người con, em của ông (phó vương) có 43 người con, và bản thân Rama II có 73 người con, nên hoàng gia có đủ người của mình để nắm giữ mọi vị trí quan trọng trong chính quyềntôn giáo. Năm 1810, Xiêm cử 1 sứ đoàn tới Thanh. Năm 1818, sứ đoàn Bồ Đào Nha từ Ma Cao tới Xiêm. Đây là lần đầu tiên có sứ đoàn phương Tây tới Xiêm.

Giữa năm 1824, Rama III nối ngôi vua. Dưới thời ông, Xiêm tích cực tiến hành chiến tranh với Lào, Campuchia, Đại Nam, và với Myanma (theo yêu cầu của Anh). Khi Mengrui, lúc đó thuộc Xiêm nhưng nay của Myanma, bị quân Anh tấn công, Rama III cho sơ tán toàn bộ người Xiêm khỏi đây, và ra lệnh tránh đụng độ với quân Anh. Năm 1826, Xiêm và Anh ký Hòa ước Burney, theo đó Xiêm mở cửa cho Anh buôn bán và công nhận Penang nằm dưới sự cai trị của Anh. Đổi lại, Anh chỉ ghi nhận đòi hỏi của Xiêm ở Kedah, Kelantan, PerlisTerengganu. Năm 1827, Xiêm chấn áp thành công cuộc nổi dậy định giành lại tự chủ của vương quốc Viêng Chăn, tàn phá kinh đô Viêng Chăn, bắt rất nhiều người Lào tới Isan để giảm sức kháng cự của Viêng Chăn. Thời kỳ 1841-1845, Xiêm giành chiến thắng trong cuộc xung đột với Đại Nam ở Campuchia, củng cố sự cai trị của mình ở xứ này. Trước sức ép của các cường quốc phương Tây đòi mở cửa cho thương mại, Xiêm phải hạn chế chiến tranh với Myanma và Việt Nam, cự tuyệt các đề nghị mở cửa. Thay vào đó, Rama III lại tăng cường trao đổi thương mại với nhà Thanh. Từ thời còn là bộ trưởng thương mại khi cha mình ở ngôi, Rama III đã có quan hệ mật thiết với thương nhân người Hoa và từ đó chịu ảnh hưởng lớn của Trung Quốc. Xiêm thời Rama III đã chào đón người Hoa di cư từ Trung Quốc sang. Nhiều người gốc Hoa được trọng dụng làm quan lại. Nhiều tác phẩm Trung Quốc được biên dịch sang tiếng Thái.

Năm 1851, Rama IV (Mongkut) lên ngôi. Trái với vua anh (Rama III), Rama IV có thái độ cởi mở hơn với phương Tây. Năm 1855, Xiêm ký với Anh Hòa ước Bowring, theo đó thuế nhập khẩu các loại vào Xiêm giảm xuống chỉ còn 3%, các độc quyền thương mại của hoàng gia bị loại bỏ, một số lãnh thổ hải ngoại phải nhường cho Anh. Các cường quốc phương Tây khác cũng lập tức yêu cầu tương tự và đều được chấp nhận. Rama IV cho rằng đe dọa thực sự đối với sự tồn vong của Xiêm không phải là từ Anh mà từ Pháp vì Anh thích chiếm ưu thế thương mại còn Pháp thì thích xây dựng đế chế thuộc địa. Rama IV nhượng bộ Anh vì muốn Anh sẽ ủng hộ Xiêm nếu Pháp tấn công Xiêm. Thực tế thì Anh cũng muốn biến Xiêm làm vùng đệm giữa xứ Myanma thuộc Anh với xứ Đông Dương thuộc Pháp. Trước những sức ép từ phương Tây, Rama IV muốn cải cách thể chế chính trị trong nước. Song ông không làm được nhiều vì sự phản đối của hoàng gia và quan lại. Dù sao, những nỗ lực của ông đã cho phép những cải cách sau đó.

Thời kỳ cải cách[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]