Rama II

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rama II

Rama II (tiếng Thái: รัชกาลที่ ๒), có miếu hiệu đầy đủ là Phra Buddha Loetla Nabhalai (พระบาทสมเด็จพระพุทธเลิศหล้านภาลัย) là vị vua thứ hai của Vương triều Chakri, Xiêm La (Thái Lan). Vị quốc vương này sinh năm 1767, mất năm 1824, ở ngôi từ năm 1809 đến năm 1824. Thời Rama II, Xiêm La được hưởng thái bình, hầu như không có xung đột lớn nào.

Thuở thơ ấu, quốc vương có tên là Chim. Khi cha lên làm vua (quốc vương Phra Buddha Yotfa Chulaloke tức Rama I), ông có tên mới là Đại vương Isarasundhorn. Sau đó, theo truyền thống Thái Lan, ông đi tu ở chùa một thời gian. Đến năm 1806, vị phó vương của Xiêm La và đồng thời là chú của ông qua đời; ông xưng làm phó vương. Năm 1809, phụ vương qua đời, ông lên làm quốc vương.

Trước khi làm vua, Rama II từng theo phụ vương đi chinh chiến và lập không ít võ công. Khi lên làm vua, ông tiến hành chinh phạt Miến Điện, nhưng thất bại. Năm 1813, được Việt Nam hậu thuẫn, Campuchia nổi dậy kháng cự lại Xiêm La, song ông đã không thể dẹp yên và chịu để mất kiểm soát vùng phía Đông của Campuchia. Ông từng chinh phạt vùng ngày nay là bang Kedah của Malaysia, phế truất vị hồi vương của xứ đó. Điều này khiến cho quan hệ giữa Xiêm La và công ty Đông Ấn của Anh xấu đi.

Rama II còn là một thi sĩ nổi tiếng và có quan hệ với nhiều nhà thơ đương thời của Xiêm La.

Rama II có nhiều thê thiếp trong đó vương phi Chao Chom Manda Riam là mẹ của hoàng tử Jessadabodindra sau này là Rama III (Phra Nangklao Chaoyuhua). Còn hoàng hậu Bunrod là mẹ của thái tử Mongkut sau này là Rama IV (Phra Chom Klao Chaoyouhua).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]