Thượng tọa bộ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Phật giáo Nguyên thủy)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thể loại 
Phật giáo

Dharma Wheel.svg
Chủ đề

Lịch sử
Thích-ca Mâu-ni
Các đệ tử

Thuật ngữ

Tứ diệu đế
Duyên khởi
Vô thường
Khổ · Vô ngã
Trung đạo · Tính không
Ngũ uẩn
Nghiệp chướng · Đầu thai
Luân hồi

Tam học

Tam bảo
Giới · Sự cứu cánh
Thiền (Phật giáo) · Bát-nhã
Bát chính đạo
Tam thập thất bồ-đề phần
Tăng-già · Cư sĩ

Tông phái · Kinh điển
Thượng tọa bộ · Tiểu thừa
Đại thừa
Đại Tạng Kinh Trung Quốc
Kim cương thừa
Đại Tạng Kinh Tây Tạng

Thượng tọa bộ (zh. shàngzuòbù 上座部, ja. jōzabu, sa. sthaviravāda, pi. theravāda, bo. gnas brtan sde pa གནས་བརྟན་སྡེ་པ་), còn gọi là Trưởng lão bộ hay Phật giáo Nguyên thủy, Theravàda, là một trường phái Phật giáo xuất phát từ Phân biệt thuyết bộ (sa. vibhajyavādin), do Mục-kiền-liên-tử Tu-đế (pi. moggaliputta tissa) thành lập (xem Kết tập). Phái này được Ma-hi-đà đưa về Tích Lan năm 250 trước Công nguyên và được các cao tăng tại Đại tự (pi. mahāvihāra) gìn giữ. Về giới luật cũng có một số bất đồng trong nội bộ phái Thượng tọa bộ. Ngày nay Thượng tọa bộ được lưu hành tại các nước Ấn Độ, Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, CampuchiaLào, nên còn được gọi là Nam tông Phật pháp hay Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nam Tông. Một số đại biểu phái Đại thừa xuất xứ từ Trung Quốc còn gọi tông phái này là Tiểu thừa (bánh xe nhỏ), với ý đả kích, chê bai, nên không là tên gọi của tông phái này.

Thượng Tọa bộ là chi nhánh lâu đời nhất của Phật giáo.[1] Từ này có nguồn gốc từ Sanskrit "sthaviravada", và nghĩa đen có nghĩa là "giáo lý của bậc Trưởng Lão". Đó là phái tương đối bảo thủ, và theo như tiến sĩ Rupert Gethin, giáo phái này gần với Phật giáo ban đầu hơn là các giáo phái truyền thống khác hiện có nay.[2]

Phật giáo Nguyên Thủy được các quốc gia khác nhau và rất nhiều người trên thế giới đi theo, như là:

  • Tây Phương nhánh Phật giáo Nguyên Thủy cũng tăng phổ biến gần đây.

Ngày nay, Phật tử Thượng Tọa bộ còn được gọi là Theravadin (tạm gọi là Nguyên Thủy giáo đồ), số lượng có 150 triệu người toàn thế giới, và trong suốt vài thập kỷ qua, Phật giáo Thượng Tọa bộ đã bắt đầu bén rễ ở Phương Tây [a] và ở tại Phật giáo hồi sinh tại Ấn Độ.[web 2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Wat Chaiwatthanaram trong quần thể di tích Công viên lịch sử Ayutthaya
Tăng sĩ Phật giáo hệ phái Nam Tông

Cái tên Theravāda xuất phát từ tổ truyền Thượng Tọa bộ (Sthaviravada), từ đó những người Theravadin khẳng định gốc gác. Sau khi cố gắng mà không thành công để thay đổi Luật tạng (Vinaya), một nhóm nhỏ của những bậc "Trưởng Tọa", tức Sthaviras, đã tách ra khỏi phần nhiều số Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) trong lúc Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ hai, dẫn đến việc dựng lên Sthaviravada.[3] Y theo bản báo cáo riêng của mình, trường phái Theravāda về cơ bản xuất phát từ nhóm Phân Biệt Thuyết bộ (Vibhajjavāda), hay "học thuyết về những phân tích"), đó cũng là một bộ phận của Sthaviravada.

Theravadin (Nguyên Thủy giáo đồ) theo những thông tin có nguồn gốc riêng của mình kể rằng điều đó đã nhận lấy những sự giáo huấn được tán thành vào lúc trong Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ ba dưới sự bảo trợ của Hoàng đế Ấn Độ là A-dục vương, khoảng năm 250 TCN. Những lời giáo huấn này được biết đến là Phân Biệt Thuyết bộ.[4] Những giáo đồ Phân Biệt Thuyết bộ đều lần lược chia tách ra bốn nhóm: Hóa Địa bộ (Mahīśāsaka), Ẩm Quang bộ (Kāśyapīya), Pháp Tạng bộ (Dharmaguptaka), và Đồng Diệp bộ (Tāmraparṇīya).

Phật giáo Nguyên Thủy là xuất gốc từ phái Đồng Diệp bộ, đó có nghĩa "Dòng dõi người Sri Lanka." Vào thế kỷ thứ VII SCN, các du tăng Trung Quốc là sư Huyền TrangNghĩa Tịnh có nhắc đến các trường phái Phật giáo ở Sri Lanka là Shàngzuòbù (上座部, Thượng Tọa bộ), tương ứng với tiếng Sanskrit là "Sthavira Nikāya" và tiếng Pali là "Thera Nikāya."[b][c]. Trường phái này đã sử dụng chính cái tên Theravāda dưới dạng văn bản ít nhất từ thế kỷ thứ IV, thuật ngữ này được xuất hiện trong Đảo sử (Dīpavaṁsa).[d]

Truyền đến Sri Lanka[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nhà học giả Phật giáo A.K. Warder, thì Phật giáo Nguyên Thủy:

... nhanh chóng lan rộng về phía nam từ Avanti vào MaharastraAndhra và xuống đến nước Chola (Kanchi), cũng như ở Tích Lan. Trong một thời gian họ tự mình nắm giữ ở Avanti cũng như các vùng lãnh thổ mới của họ, nhưng dần dần họ có xu hướng tự mình tụ tập lại ở miền nam, tòa Đại Xá (Mahavihara) ở Anuradhapura, kinh đô của nước Tích Lan, trở thành trung tâm chính về tín ngưỡng lưu truyền của họ, còn Kanchi là trung tâm thứ cấp và ở vùng phía bắc dường như đã từ bỏ các trường phái khác.[7]

Theo như biên niên sử Pali của truyền thống người Sinhala, Phật giáo lần đầu tiên được đưa đến Sri Lanka do vị A-la-hán là Ma-hi-đà (Mahinda), người được cho là con trai của đức vua A-dục vương - vua của Đế quốc Maurya, ở thế kỷ thứ III TCN, một phần của dhammaduta (người truyền giáo) hoạt động vào thời vua A-dục. Ở Sri Lanka, ngài A-la-hán Ma-hi-đà đã thành lập Tu viện Đại Xá của Anuradhapura.

Phân nhánh phái Nguyên Thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Trong hơn nhiều về lịch sử đầu tiên ở Sri Lanka, ba phân khu của Phật giáo Nguyên Thủy còn tồn tại ở Sri Lanka, bao gồm các tu sĩ của phái Đại Tự (Mahāvihāra), Tịnh xá Abhayagiri, và Tịnh xá Kỳ Viên.[8] Tòa Đại Tự là nơi truyền bá đầu tiên được xây dựng, trong khi đó tịnh xá Abhayagiri and tịnh xá Kỳ Viên được thành lập do các nhà sư bị tan ra từ tín truyền Mahāvihāra (Đại Xá).[8] Theo như A.K. Warder, phái Hóa Địa bộ Ấn Độ cũng đã tự thành lập ở Sri Lanka cùng với phái Theravāda, và chúng được tiếp thụ sau này.[8] Khu vực phía bắc của Sri Lanka dường như cũng đã nhường lại cho các thể phái từ Ấn Độ trong thời gian nhất định.[8]

Đức Phật sơn vẽ ở chùa hang Dambulla tại Sri Lanka. Chùa hang Phật giáo phức tạp được thành lập như một tu viện Phật giáo ở thế kỷ III TCN. Các hang được chuyển đổi thành chùa chiền trong thế kỷ I TCN.[9]

Khi nhà sư Trung Quốc là Pháp Hiển du hành thăm hòn đảo này vào những năm đầu thế kỷ thứ V, ông lưu ý 5000 nhà sư ở Abhayagiri, 3000 nhà sư ở Đại Tự và 2000 nhà sư ở tịnh xá Cetiyapabbata.[10]

Ảnh hưởng của Phật giáo Đại Thừa[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng sĩ Phật giáo Nam tông tại Thái Lan đi khất thực

Qua nhiều thế kỷ, những Nguyên Thủy giáo đồ ở Abhayagiri đã duy trì chặt chẽ mối quan hệ với những tín đồ Phật giáo Ấn Độ và thu nhận nhiều giáo lý mới mẻ từ Ấn Độ.[11] bao gồm nhiều yếu tố của giáo lý Đại thừa, trong khi những Nguyên Thủy giáo đồ tịnh xá Kỳ Viên tiếp thu Đại-thừa ở mức độ ít hơn.[10][12]

Huyền Trang đã viết về hai sự phân chia của Nguyên Thủy giáo ở Sri Lanka, đề cập đến truyền thống của Abhayagiri là "Những người Thượng Tọa bộ Đại Thừa," và truyền thống của phái Đại Tự là "Tiểu thừa Thượng Tọa bộ."[13] Huyền Trang còn tiếp tục viết rằng:[14]

Những người phái Đại Tự (Mahāvihāravāsins) đã từ chối Phật giáo Đại Thừa và thực hành Tiểu Thừa, trong khi những người Abhayagiri đã học tập cả giáo lý của Đại Thừa và Tiểu Thừa cùng việc truyền bá Tam tạng.

Akira Hirakawa có những ghi chú rằng những chú luận Pāli còn được tồn tại (Aṭṭhakathā) của trường phái Mahāvihāra, khi đã có sự duyệt kiểm chặt chẽ, cũng bao gồm một số các vị trí có sự ăn khớp với giáo lý Đại Thừa.[15] Kalupahana cũng ghi chú những tương tự về Thanh tịnh đạo (Visuddhimagga), là chú dẫn của Theravāda mang tính quan trọng nhất.[16]

Trong thế kỷ thứ VIII, được biết rằng cả Đại Thừa và phái bí truyền Kim cương thừa (Vajrayāna) - hình thức của đạo Phật đã được thực hành ở Sri Lanka, và hai nhà sư Ấn Độ có trách nhiệm truyền bá Phật Giáo Bí Truyền tại Trung Quốc là Kim Cương Trí (Vajrabodhi) và Bất Không Kim Cương (Amoghavajra), đã từng đến thăm hòn đảo trong suốt thời gian này.[17] Tinh xá Abhayagiri có vẻ như là nơi trung tâm gộp những giáo lý của Nguyên Thủy, Đại Thừa và Kim Cương Thừa.[18]

Bãi bỏ các truyền thống Phái Nguyên Thủy khác[sửa | sửa mã nguồn]

Một số học giả cho rằng những người lãnh đạo của Sri Lanka đã bảo đảm rằng Theravāda vẫn giữ nguyên truyền thống, và điều này có đặc điểm tương phản với Phật giáo Ấn Độ.[19] Tuy nhiên, trước thế kỷ XII, nhiều nhà lãnh đạo của Sri Lanka đã đem sự ủng hộ và bảo trợ cho những người Thượng Tọa bộ ở Abhayagiri, và những du khách ví như Pháp Hiển thấy được phái Thượng Tọa bộ Abhayagiri như đã trở thành truyền thống Phật giáo chính Sri Lanka.[20][21]

Khuynh hướng của tịnh xá Abhayagiri trở thành phái Theravāda chiếm ưu thế đã thay đổi ở thế kỷ XII, khi phái Đại Tự được sự hỗ trợ về chính trị của nhà vua Parakkamabāhu I (1153–1186), và hoàn toàn bãi bỏ các truyền thống Nguyên Thủy giáo của Abhayagiri và Kỳ Viên.[22][23] Các nhà sư Theravāda của hai truyền thống này sau đó bị buộc phải hoàn tục và định sẵn sự chọn lựa về điều hướng thành người thế tục vĩnh viễn, hoặc cố gắng để tái phối theo truyền thống phái Đại Tự như "Sa-di" (sāmaṇera).[23][24]

Dòng tu ni cô[sửa | sửa mã nguồn]

Lan đến Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Tàn tích của Bagan, cố đô của Miến Điện. Hiện có hơn 2000 ngôi chùa Phật giáo. Trong thời đỉnh cao quyền lực của Bagan có đến 13'000 ngôi chùa.[web 3]

Hiện đại hóa và lan rộng đến Tây phương[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Phật Laykyun Setkyar trong ngôi làng của Khatakan Taung, gần MonywaMiến Điện. Đó là bức tượng cao thứ hai trên thế giới.[web 4]

Vào thế kỷ XIX đã bắt đầu có một quá trình ảnh hưởng lẫn nhau của cả hai bên giữa phái Thượng Tọa bộ châu Á và một nhóm khán giả phương Tây quan tâm đến nền minh triết cổ xưa. Đặc biệt, Helena BlavatskyHenry Steel Olcott, những người sáng lập ra Hội Thông Thiên học (hay Hiệp hội Thần Trí học) đã có một vai trò sâu sắc trong quá trình này. Ở các nước Theravāda, loại Thiền Minh Sát được thực hành phát triển. Từ những năm 1970 về sự quan tâm của Phương Tây đã quay hướng đến sự phát triển của cái gọi là phong trào Thiền Minh sát ở Tây phương.[25]

Sự khác biệt giáo lý với các trường phái khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các bậc A-la-hán là hoàn hảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phái Đại chúng bộ cho rằng A-la-hán còn có thoái lui, trong khi phái Nguyên Thủy Thượng Tọa bộ cho rằng các A-la-hán có một "thể tính cao khiết".[26]

Quán sát là bất ngờ và hoàn toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo như Nguyên Thủy Thượng Tọa bộ, "những tiến bộ trong hiểu biết đến đồng lúc, 'sự nhìn thấu bên trong sự vật' (Hiện Quán, abhisamaya) không phải là đến 'dần dần' (liên tiếp - anapurva)".[27] Điều này được phản ánh ở trong bản cáo của Theravada trên Tứ thánh quả, trong đó sự đạt được bốn thánh quả này xuất hiện bất ngờ, và những uế nhiễm cũng được xả bỏ ra cùng lúc. Lập trường tương tự cũng đã được ứng dụng ở phong trào Thiền Minh sát hiện nay, đặc biệt với cái gọi là "Tân Miến Điện Pháp".

Các Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Một nhà sư Thái Lan thiền tịnh

Các lễ hội và phong tục[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Lễ trăng tròn (Magha Puja).
  2. Lễ Phật Đản (Vesakha Puja).
  3. Asalha Puja
  4. Lễ Bố Tát (Uposatha).
  5. An cư kết hạ (Vassa, ẩn mưa)

Danh sách các nước đa phần theo Thượng Tọa bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Rank Quốc gia Dân số Số % tín đồ Tổng số tín đồ Tầm quan trọng
1  Thái Lan 66,720,153[web 5] 94.6%[web 6] 63,117,265 97%[web 7]
2  Miến Điện 60,280,000[web 8] 89%[web 9] 53,649,200 96%[web 7]
3  Sri Lanka 20,277,597 70.2% 14,222,844 100%[web 7]
4  Campuchia 14,701,717[web 10] 96.4%[web 10] 14,172,455 95%[web 7]
5  Lào 6,477,211[web 11] 67%[web 11] 4,339,731 98%[web 7]

Sưu tập[sửa | sửa mã nguồn]

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ John Bullit: "Trong thế kỷ trước, mặc dù Phương Tây đã bắt đầu chú ý đến những di sản tinh thần độc đáo và giáo huấn về Giác Thức của Phật giáo Nguyên Thủy. Trong những thập kỷ gần đây, sự quan tâm này đã tang lên, với những vị Tăng-già tu sĩ đến từ các trường phái khác nhau trong Phật giáo Nguyên Thủy thành lập hàng chục chùa viện trên khắp châu Âu và Bắc Mỹ."[web 1]
  2. ^ Huyền Trang đã đề cập đến các vị Phật tử ở Sri Lanka rằng "Họ chủ yếu làm theo lời dạy của Đức Phật, đi theo giáo pháp của trường phái Sthavira (Thượng Tọa bộ)".[5]
  3. ^ Nghĩa Tịnh có đề cập đến tình hình ở Sri Lanka rằng "Ở Tích Lan, trường phái Thượng Tọa bộ được độc tôn; những người Đại Chúng bộ thì bị trục xuất"[6]
  4. ^ Nó được sử dụng trong các sách Đảo Sử (trích dẫn trong Lời dẫn giải tranh luận (Debates Commentary), Pali Text society, trang 4), mà thường thì thời gian ở thế kỷ IV.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sherab Chodzin Kohn. Cuộc đời Đức Phật, trang 149-150. Shambhala Publications, 1993.
  2. ^ Gethin, Rupert. Những nền tảng của Phật giáo, tr.1. Oxford University Press, 1998.
  3. ^ Skilton, Andrew. Lược sử của đạo Phật. 2004. tr. 49, 64
  4. ^ Hirakawa Akira (dịch và biên tập bởi Paul Groner), Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Motilal Banarsidass Publishers, Delhi, 1993, trang 109.
  5. ^ Samuel Beal, "Si-Yu-Ki — Hồ sơ về đạo Phật của thế giới Tây Phương (Buddhist Records of the Western World&nbsp);— Dịch ra từ trước tác của Huyền Trang năm 629", do Tuebner và Co xuất bản, London (1884), in tại Tổng công ty nhà sách Phương Đông, New Delhi, (1983), Phiên bản kỹ thuật số: Viện Phật học Trung Hoa, Đài Bắc.
  6. ^ Samuel Beal, "Cuộc đời của Huyền Trang: bởi Shaman Hwui Li. Cùng với lời giới thiệu gồm có thông tin về tác phẩm của Nghĩa Tịnh", được xuất bản bởi Tuebner và Co, London (1911), Phiên bản kỹ thuật số: Trường Đại học Michigan.
  7. ^ Warder 2000, tr. 278
  8. ^ a ă â b Warder, A.K. Phật giáo Ấn Độ. 2000. tr. 280
  9. ^ “Golden Temple of Dambulla - UNESCO World Heritage Centre”. Whc.unesco.org. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  10. ^ a ă Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời phái Đại Thừa. 2007. tr. 121
  11. ^ Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời Đại Thừa. 2007. tr. 124
  12. ^ Gombrich, Richard Francis. Phật giáo Nguyên Thủy: Lịch sử xã hội. 1988. tr. 158
  13. ^ Baruah, Bibhuti. Các tông phái Phật giáo và Chủ nghĩa bè phái. 2008. tr. 53
  14. ^ Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời Đại Thừa. 2007. tr. 121
  15. ^ Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời Đại Thừa. 2007. tr. 257
  16. ^ Kalupahana 1994, tr. 206-208
  17. ^ Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời Đại Thừa. 2007. tr. 125-126
  18. ^ "Phật Giáo Bí Truyền ở Đông Nam Á theo Ánh Sáng Uyên Triết gần đây" bởi Hiram Woodward. Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, Vol. 35, No. 2 (Jun., 2004), tr. 341
  19. ^ Randall Collins, Xã hội học của triết lí: Một lí thuyết toàn cầu về biến đổi trí tuệ. Harvard University Press, 2000, trang 187.
  20. ^ Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời phái Đại Thừa. 2007. tr. 125
  21. ^ Sujato, Bhikkhu. Tông phái và chủ nghĩa bè phái: Nguồn gốc của các trường phái Phật giáo. 2006. tr. 59
  22. ^ Hirakawa, Akira. Groner, Paul. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ: Từ Đức Thích Ca Mâu Ni đến đầu thời phái Đại Thừa. 2007. tr. 126
  23. ^ a ă Williams, Duncan. Queen, Christopher. Phật giáo Hoa Kỳ: các phương pháp và các khám phá trong sự bác học hiện nay. 1999. tr. 134
  24. ^ Gombrich, Richard. Phật giáo Nguyên Thủy: Lịch sử xã hội từ Ba Tư Nặc cổ đại đến Colombo hiện đại. 1988. tr. 159
  25. ^ McMahan 2008
  26. ^ Warder 2000, tr. 283
  27. ^ Warder 2000, tr. 284

Trang wed tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bullitt, John. “What is Theravāda Buddhism?”. BuddhaNet. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ Adherants.com - See the citations under 'Theravāda Buddhism — World'
  3. ^ “Plan your trip to Bagan (Pagan), Myanmar”. AsiaExplorers. 25 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  4. ^ “The 7 Tallest Statues in the World”. Blog.hotelclub.com. 6 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  5. ^ http://203.113.86.149/stat/pk/pk53/pk_53.pdf
  6. ^ “CIA - The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  7. ^ a ă â b c GALLUP WorldView - data accessed on 2012-09-07
  8. ^ Retrieved 8 July 2010.
  9. ^ “CIA - The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  10. ^ a ă “CIA - The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  11. ^ a ă “CIA - The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chapman, David (2011), Theravāda reinvents meditation 
  • Dutt, Nalinaksha (1998), Buddhist Sects in India, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited 
  • Gombrich, Richard F. (1996), Theravāda Buddhism. A Social History from Ancient Benares to Modern Colombo, London and New York: Routledge 
  • Gomez, Luis O. (1991), Purifying Gold: The Metaphor of Effort and Intuition in Buddhist Thought and Practice. In: Peter N. Gregory (editor)(1991), Sudden and Gradual. Approaches to Enlightenment in Chinese Thought, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited 
  • Gunaratana, Henepola (1994), The Path of Serenity and Insight, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited 
  • Kalupahana, David J. (1994), A history of Buddhist philosophy, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited 
  • McMahan, David L. (2008), The Making of Buddhist Modernism, Oxford University Press, ISBN 9780195183276 
  • Tuchrello, William P. (Year unknown), The Society and Its Environment. (Religion: Historical Background section), Federal Research Division, Library of Congress 
  • Tiyavanich, K. (1997), Forest Recollections: Wandering Monks in Twentieth-Century Thailand, University of Hawaii Press 
  • Warder, A.K. (2000), Indian Buddhism, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

General

Thailand

Burma

Western

Practice

Critical

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán