Cà-sa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Cà-sa (Trung văn phiên âm từ tiếng Phạn: 袈裟 (ca-sa); phiên âm latinh từ tiếng Phạn: Kasāya), là một loại áo dài mặc ngoài của giới tăng lữ Phật giáo, được may bằng các mảnh vải ghép lại, có hình chữ nhật dài để quấn quanh người.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Áo cà-sa có 3 loại: đại, trung, tiểu. Loại đại gồm 9 - 25 mảnh vải (còn gọi cửu điều), loại trung có 7 mảnh (còn gọi thất điều), loại tiểu dùng 5 mảnh (còn gọi ngũ điều). Loại trung và tiểu thường được mặc bên trong. Màu sắc áo tuỳ theo vùng. Ấn Độ thường dùng màu vàng nghệ (sẫm); Trung Quốc dùng màu đỏ pha đen, đến đời Vũ Hậu đời Đường cho tăng ni dùng thêm màu tím; Nhật Bản dùng màu trà sẫm; Việt Nam dùng màu nâu và vàng sẫm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]