Tùng Tán Cán Bố

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tùng Tán Cán Bố - Songtsän Gampo name.svg
Vua của người Tạng
Songstengampo.jpg
Tiền nhiệm Namri Songtsen
Mangsong Mangtsen
Thông tin chung
Tên đầy đủ Songtsän Gampo
Thân phụ Namri Löntsen (Gnam-ri-slon-mtshan)
Sinh 617
Mất 649 (31–32 tuổi)

Tùng Tán Cán Bố (Tiếng Tây Tạng: Songtsän Gampo - Songtsän Gampo name.svg, phiên âm - Srong-btsan sGam-po, Trung văn giản thể: 松赞干布, sinh năm 605 hoặc 617[1]- mất năm 649) là người sáng lập của đế quốc Tây Tạng, ông là vị vua triều thứ 33 của dân tộc Tạng. Tiếng Trung Quốc, tên của ông được phiên âm Qizonglongzan. Ông cũng là người chấn hưng Phật giáo Mật Tông tại Tây Tạng.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những ngày tháng năm sinh của ông và khi ông đã lên ngôi cho tới bây giờ vẫn đang là câu hỏi lớn. Theo người Tây Tạng cho rằng ông sinh năm 617 (một năm trước khi thành lập nhà Đường, khi Đường Cao Tổ đã trở thành hoàng đế của Trung Quốc). Ông được cho là đã lên ngôi ở tuổi mười ba.[2][3]

Có một số giả thiết khác cho rằng ông sinh sớm hơn, có thể là 569, 593 hoặc 605 [4].

Tùng Tán Cán Bố được sinh ra tại Gyama, làng Maldro (một vùng ở phía đông bắc của Lhasa), con trai của vua Namri Songtsen Yarlung.[2][3]

Người Tạng cho là Tùng Tán Cán Bố xuất thân vốn là các vị thánh thần cùng với Quán Thế Âm [5]. Là các Lạt Ma hóa thân. Ông được cho là người rất kỳ bí, tay chân có màng bơi, là người kỳ dị nên người Tạng tôn ông lên làm vua.[6]

Theo truyền thống Tây Tạng, Tùng Tán Cán Bố đã đăng quang trong khi vẫn còn là một trẻ vị thành niên là vị vua thứ 33 của triều Yarlung sau khi cha ông bị đầu độc vào khoảng năm 618 (tức là trước khi ông được 12 tuổi).[4]

Ông lên ngôi được xác định là năm 13 tuổi. Điều này là phù hợp với truyền thống mà các vị vua Yarlung lên ngôi khi họ lên 13, và được cho là đủ tuổi để đi xe ngựa và điều khiển quốc gia.[7] [8]

Nếu nói ông lên ngôi vào năm 13 tuổi thì như vậy ông có thể sinh vào năm 605 khi ông con là vị trẻ thành niên. Mẹ của ông là Dringma Togo của gia tộc Tsepong, mà gia tộc này đóng một phần quan trọng trong việc thống nhất của Tây Tạng. Ông lập gia đình với tất cả 3 người vợ.

  • Công chúa Xích Tôn (Bhrikuti Devi – Nepal)
  • Công chúa Văn Thành (Nhà Đường – tiếng Tạng Munchang Kongcho)

Cùng với ông - hai người vợ[9] của ông là công chú Xích Tôn và Công chúa Văn Thành có vai trò rất quan trọng cho việc phát triển Phật giáo Mật Tông. Trong Phật Giáo Tây Tạng - ông cùng 2 người vợ này được xem là Tam Thánh Mật Tông giáo.

Tam Thánh Mật Tông - Tùng Tán Cán Bố (giữa) cùng 2 người vợ - công chúa Xích Tôn (trái) và công chúa Văn Thành (phải) người có công rất lớn cho việc phát triển Mật Tông
Phật giáo Tây Tạng

Jokhang15.JPG

Ông vua vĩ đại của người Tạng[sửa | sửa mã nguồn]

Có thể nói – Tùng Tán Cán Bố là vị vua vĩ đại nhất của người Tạng, từ khi Tùng Tán Cán Bố lên ngôi, Tây Tạng hưng hịnh chưa từng có, và cùng với hai công chúa nước ngoài, ông không những đọc được và hiểu kinh sách tiếng Phạn mà còn gửi người đi tu học ở Ấn Độ, dịch kinh sách. Căn cứ trên tư tưởng Phật Giáo, Tùng Tán Cán Bố ban bố “Thập Thiện” và “Thập lục yết luật” để dân chúng thi hành. Nhiều học giả cho rằng, kể từ đây nước Tây Tạng mơi thoát ra khỏi tình trạng hoang sơ hoang dã.[10]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chỉ là giả thiết - năm sinh của ông không xác định chính xác
  2. ^ a ă Bushell, S. W. "The Early History of Tibet. From Chinese Sources." Journal of the Royal Asiatic Society, Vol. XII, 1880, p. 443.
  3. ^ a ă Beckwith (1987), pp. 19-20 (OTC, vi).
  4. ^ a ă Chỉ là giả thiết - có thể không chính xác
  5. ^ Theo "The Holder of the White Lotus"
  6. ^ Chỉ là truyền thuyết của người Tạng - thông tin dùng để tham khảo
  7. ^ Vitali, Roberto. 1990. Early Temples of Central Tibet. Serindia Publications, London, Trang 70.
  8. ^ Cựu Đường thư "Bushell, S. W 1880, Trang 443" và "Snellgrove, David 1987. p. 372, Snellgrove, David. 1987. Indo-Tibetan Buddhism: Indian Buddhists và Their Tibetan Successors. Trang 2. Shambhala, Boston, Chương II, Trang 372.
  9. ^ Hai bà hoàng của vua Tùng Tán Cán Bố đều là hiện thân của nữ thần Tara, vị Bồ Tát được nhân dân Tây Tạng tin tưởng. Tara được xem như sinh ra từ nước mắt của Quán Thế Âm - nàng công chúa Nepal là nữ thần Tara sắc lục, Văn Thành của Trung Quốc là vị Tara sắc trắng
  10. ^ Nguyễn Tường Bách - trang 300 - Mùi Hương Trầm - NXB Trẻ

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hành trình tới Lhasa - Alexandra david Nee - NXB Tôn giáo.
Tước hiệu
Tiền vị:
Namri Songtsen
Songtsän Gampo
605 hoặc 617 (?) - 649
Kế vị
Mangsong Mangtsen