Người Uyghur

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Uyghur
维吾尔
ئۇيغۇر
Khotan-mercado-chicas-d01.jpg
Tổng số dân
11,37 triệu[1] (25 triệu theo các số liệu không chính thức)
Khu vực có số dân đáng kể
Flag of the People's Republic of China.svg (Tân Cương)
Flag of Pakistan (bordered).svg
Flag of Kazakhstan.svg
Flag of Kyrgyzstan.svg
Flag of Uzbekistan.svg
Flag of Mongolia.svg
Flag of Turkey.svg
Flag of Russia.svg
Flag of Tajikistan.svg
Flag of Turkmenistan.svg
Ngôn ngữ
Uyghur
Tôn giáo
Hồi giáo Sunni[2]
Dân tộc thiểu số có liên quan
Người Turk

Uyghur (phiên âm tiếng Việt: Ui-gua[3], Hán Việt: Duy Ngô Nhĩ; tiếng Uyghur: ئۇيغۇر (chữ Uyghur cổ) / Уйғур (chữ Uyghur Cyril) / Uyghur (chữ Uyghur mới); tiếng Trung: 维吾尔 (chữ Hán giản thể) / 維吾爾 (chữ Hán phồn thể), phanh âm: Wéiwú'ěr), là một dân tộc Trung Á sống chủ yếu ở khu tự trị Tân Cương, Trung Quốc. Các cộng đồng tha hương người Uyghur có mặt tại Siberi (Nga), Đức, Thổ Nhĩ Kỳ và các quốc gia Trung Á như Pakistan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Mông Cổ, Uzbekistan. Ở Trung Quốc, họ được gọi là người Duy Ngô Nhĩ. Họ cũng sống tại huyện Đào Nguyên trong địa cấp thị Thường Đức tỉnh Hồ Nam và các khu phố của người Uyghur cũng có mặt tại các một số thành phố lớn ở Trung Quốc như Bắc KinhThượng Hải.[4]

Tiếng Việt còn gọi dân tộc này là Hồi Ngột.[5]

Đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử, tên gọi "Uyghur" được dùng để chỉ các bộ lạc nói tiếng Turk sống tại khu vực dãy núi Altay. Cùng với người Göktürk (Kokturk), người Uyghur là một trong các nhóm gốc Turk lớn nhất và tồn tại lâu nhất tại vùng Trung Á.

Người Uyghur mang trong mình dòng máu pha trộn giữa đại chủng Áđại chủng Âu. Tổ tiên của họ là người Hồi Hột từng là một thế lực đáng kể ở phía bắc Trung Quốc từ thời Đường tới thời Tống. Tôn giáo chính hiện nay của họ là Hồi giáo. Người Uyghur giỏi sản xuất nông nghiệp, làm đồ thủ công và buôn bán.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Tàn tích văn hóa Uyghur được tập trung trong những bộ sưu tập lớn tại các bảo tàng ở Berlin, London, Paris, Tokyo, Sankt PeterburgNew Delhi. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, các chuyến thám hiểm khoa học và khảo cổ được tiến hành tại khu vực Uyghurstan (Tân Cương) trên Con đường tơ lụa khám phá ra rất nhiều đền thờ trong hang động, di tích tu viện, tranh tường, cũng như tượng nhỏ quí báu, sách vở, tài liệu. Những nhà thám hiểm từ châu Âu, châu Mỹ và Nhật Bản tỏ ra kinh ngạc trước những tác phẩm nghệ thuật có giá trị tìm thấy ở đây. Các bản thảo và tài liệu tìm thấy ở Tân Cương (hay Uyghurstan/Đông Turkestan) cho thấy một nền văn minh phát triển cao của người Uyghur. Quyền lực, cũng như uy danh, văn hóa của người Uyghur, vốn thống trị vùng Trung Á trong hơn một ngàn năm, tuột dốc nhanh chóng sau khi nhà Thanh xâm lăng vùng đất của họ. Trong suốt quá trình lịch sử vùng Trung Á, họ để lại dấu ấn sâu sắc về cả văn hóa và truyền thống trong các dân tộc sinh sống tại đây. Nhằm ngăn ngừa sự trỗi dậy của một nền văn hóa có sức sống mãnh liệt Uyghur, chính quyền nước Trung Hoa hiện đại gồm Vương Triều Nhà Thanh, nhà Hán luôn muốn triêt để tiêu bỏ những dấu ấn của Uyghur. Sự xung đột sắc tộc, tôn giáo để đòi trở thành một nhà nước độc lập Uyghur luôn bị Nhà nước Trung Hoa nhiều lần tiêu diệt đẫm máu.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Người Mãn, vốn là các bộ tộc bán du mục ở miền đông bắc Trung Quốc ngày nay, bành trướng mãnh liệt đế quốc Thanh mà họ lập ra vào năm 1644, sáp nhập Mông Cổ, Đông Turkistan (Tân Cương), và Tây Tạng. Quân Mãn Châu xâm chiếm Dzungaria năm 1759 và cai trị vùng này cho tới năm 1864. Trong thời kỳ này, người Uyghur vùng dậy 42 lần chống lại ách thống trị của nhà Thanh. Trong cuộc nổi dậy năm 1864, người Uyghur thành công trong việc đánh đuổi bộ máy quan lại của nhà Thanh khỏi Đông Turkistan, và thành lập vương quốc Kashgaria độc lập, gọi là Yettishar (nghĩa là "vương quốc của bảy thành phố"). Dưới sự lãnh đạo của A Cổ Bách, quốc gia này bao gồm Kashgar (Khách Thập), Yarkand (Toa Xa), Hotan (Hòa Điền), Aksu (A Khắc Tô), Kucha (Khố Xa), Korla (Khố Nhĩ Lặc) và Turfan (Thổ Lỗ Phan)). Vương quốc này được Đế quốc Ottoman công nhận năm 1873, Đế quốc Nga năm 1872, và Vương quốc Anh năm 1874, thủ đô đặt tại Kashgar.

Nhà Thanh điều động một lực lượng quân lớn dưới quyền chỉ huy của tướng Tả Tông Đường tấn công Đông Turkestan năm 1876. Lo ngại khả năng Nga hoàng bành trướng sang Đông Turkestan, Anh ủng hộ quân Mãn Châu bằng cách cung cấp các khoản vay thông qua nhà băng Anh (phần lớn qua Boston Bank, HSBC đặt tại Hồng Kông). Sau cuộc xâm lược này, Đông Turkestan bị đổi tên thành "Tân Cương", nghĩa là "cương vực mới", và bị sáp nhập vào đế quốc Mãn Châu ngày 18 tháng 11 năm 1884, trở thành một tỉnh của Trung Quốc.

Thời Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tới năm 1920, chủ nghĩa dân tộc của người Uyghur đã trở nên một thách thức đáng kể cho nhà Thanh, và sau đó là các lãnh chúa quân phiệt Trung Quốc thời kỳ Cộng hòa kiểm soát Tân Cương. Nhà thơ Abdulhaliq xứ Turpan, sau khi sống thời tuổi trẻ tại các trung tâm tri thức Semey (Semipalatinsk) và Jadid tại Uzbekistan, trở về Tân Cương với bút danh Uyghur. Ông viết bài thơ yêu nước Oyghan, mở đầu bằng dòng "Ey pekir Uyghur, oyghan!" (hỡi những người Uyghur khốn cùng, hãy tỉnh dậy!). Ông bị lãnh chúa người Hán là Thịnh Thế Tài xử tử tại Turpan tháng 3 năm 1933 vì tội làm dấy lên tư tưởng dân tộc của người Uyghur qua các tác phẩm của mình.

Những người đấu tranh cho nền độc lập của người Uyghur tiến hành vài cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị hậu Thanh của lãnh chúa quân phiệt Thịnh Thế Tài và Quốc dân đảng. Hai lần liền, trong các năm 1933 và 1944, người Uyghur nổi dậy nhưng đều bị thất bại trong nỗ lực thiết lập các quốc gia độc lập: Cộng hòa Đông Turkestan, và Cộng hòa Uyghurstan, hoặc là Cộng hòa Hồi giáo Đông Turkestan.

Cộng hòa Đông Turkestan có tính thế tục, xã hội chủ nghĩa và đa sắc tộc, với những người sáng lập bao gồm người Kazakh, Uzbek, Hán, Kyrgyz, Nga, cũng như Uyghur, và được Joseph Stalin ủng hộ.

Năm 1949, sau khi phe Quốc gia tại Trung Quốc thất trận, các nhà lãnh đạo Đông Turkestan chấp thuận hình thức hợp bang với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông. Tuy nhiên, một vụ tai nạn máy bay khiến cho phần lớn ban lãnh đạo Cộng hòa Đông Turkestan tử nạn trên đường tới Bắc Kinh đàm phán điều kiện thành lập hợp bang. Vụ rơi máy bay này có lúc được cho là âm mưu của Mao Trạch Đông, vì ngay sau khi vụ tai nạn xảy ra, tướng Vương Chấn nhanh chóng hành quân vượt sa mạc vào Tân Cương, đàn áp lực lượng thân Quốc dân đảng và các cuộc nổi dậy của người thiểu số.

Bộ phận lãnh đạo còn lại của Cộng hòa Đông Turkestan dưới quyền tướng Saifuddin Azizi nhanh chóng qui thuận các điều kiện Mao Trạch Đông đặt ra, biến Tân Cương thành Khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, quân đội thì sáp nhập vào Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Saifuddin Azizi thì nắm chức vụ bí thư đảng cộng sản tại đây. Rất nhiều người trung thành với Cộng hòa Đông Turkestan, bất mãn với sự phản bội của Saifuddin, đi tị nạn tại Thổ Nhĩ Kỳ và các quốc gia phương Tây. Tuy nhiên nhiều người khác ở lại, tổ chức các hoạt động chống đối nhằm tái lập một quốc gia độc lập tại Tân Cương. Không bao lâu sau đó, tên gọi Đông Turkestan bị xóa bỏ bởi sự kiểm duyệt của chính quyền Trung Quốc.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chinese Cultural Studies: Ethnography of China: Brief Guide at acc6.its.brooklyn.cuny.edu
  • Beckwith, Christopher I. (2009). Empires of the Silk Road: A History of Central Eurasia from the Bronze Age to the Present. Princeton University Press. ISBN 978-0-691-13589-2.
  • Findley, Carter Vaughn. 2005. The Turks in World History. Oxford University Press. ISBN 0-19-516770-8; 0-19-517726-6 (pbk.)
  • Hessler, Peter. Oracle Bones: A Journey Through Time in China. New York: Harper Perennial, 2006.
  • Human Rights in China: China, Minority Exclusion, Marginalization and Rising Tensions, London, Minority Rights Group International, 2007
  • Kaltman, Blaine (2007). Under the Heel of the Dragon: Islam, Racism, Crime, and the Uighur in China. Athens: Ohio University Press. ISBN 9780896802544. 
  • Kamberi, Dolkun. 2005. Uyghurs and Uyghur identity. Sino-Platonic papers, no. 150. Philadelphia, PA: Dept. of East Asian Languages and Civilizations, University of Pennsylvania.
  • Mackerras, Colin. Ed. and trans. 1972. The Uighur Empire according to the T'ang Dynastic Histories: a study in Sino-Uyghur relations 744–840. University of South Carolina Press. ISBN 0-87249-279-6
  • Millward, James A. and Nabijan Tursun, (2004) "Political History and Strategies of Control, 1884–1978" in Xinjiang: China's Muslim Borderland, ed. S. Frederick Starr. Published by M. E. Sharpe. ISBN 978-0-7656-1318-9.
  • Millward, James A. (2007). Eurasian Crossroads: A History of Xinjiang. Columbia University Press, New York. ISBN 978-0-231-13924-3.
  • Rall, Ted. Silk Road to Ruin: Is Central Asia the New Middle East? New York: NBM Publishing, 2006.
  • Rudelson, Justin Ben-Adam, Oasis identities: Uyghur nationalism along China's Silk Road, New York: Columbia University Press, 1997.
  • Tyler, Christian. (2003). Wild West China: The Untold Story of a Frontier Land. John Murray, London. ISBN 0-7195-6341-0.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]