Người Kyrgyz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kirgiz
Kyrgyz Manaschi, Karakol.jpg
Trang phục truyền thống của người Kirgyz
Tổng số dân
Xấp xỉ 4,5 triệu người
Khu vực có số dân đáng kể
 Kyrgyzstan 3.804.800[1]
 Uzbekistan 250.000[2]
 Trung Quốc 143.500[1]
60.000[cần dẫn nguồn]
 Tajikistan 81.000[cần dẫn nguồn]
 Afghanistan 30.000[2]
 Nga 32.000[3]
 Kazakhstan 11,000[4]
 Ukraina 3.000[5]
 Thổ Nhĩ Kỳ 4.000[6]
Ngôn ngữ
Kirgiz
Tôn giáo
chủ yếu là Hồi giáo Sunni.
Dân tộc thiểu số có liên quan
các dân tộc Turk khác

Người Kyrgyz (cũng được viết là Kirgiz, Kirghiz) là một dân tộc Turk sinh sống chủ yếu tại Kyrgyzstan.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Những người Kyrgyz ban đầu, được gọi là người Kyrgyz Yenisei hoặc Hiệt Kiết Tư (黠戛斯 Xiajiasi), lần đầu xuất hiện trong các văn thư của Sử ký Tư Mã Thiên (biên soạn 109 TCN đến 91 TCN), là Cách Côn (鬲昆/隔昆) đọc theo tiếng Hán cổ là Gekun/Jiankun. Mặc dù không thể kết luận trực tiếp để xác định sông Yenisei và dày núi Tiên Sơn Kyrgyzes là nơi sinh sống của tổ tiên người Kyrgyz, song một số dấu vết về nguồn gốc dân tộc đã được thể hiện rõ ràng trong khảo cổ, ngôn ngữ, lịch sử và dân tộc học. Phần lớn các nhà nghiên cứu hiện đại đi đến kết luận rằng tổ tiên của các bộ lạc phía nam Kyrgyzstan có nguồn gốc từ sự kết hợp của các bộ lạc cổ xưa nhất là Saka, Ô Tôn, Đinh Linhngười Hung.[3]

Ngoài ra, theo các ghi chú từ lâu đời nhất về người Kyrgyz rằng đề cập đến tên tự gọi Kyrgyz bắt nguồn từ thế kỷ thứ 6. Có xác suất nhất định rằng có mối quan hệ giữa Kyrgyzstan và người Gegun đã có từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, về sau là giữa người Kyrgyz và người Khakas kể từ thế kỷ thứ 6, nhưng còn thiêua những quan diểm thống nhất. Người Kyrgyz như được đề cập khá rõ ràng trong thời gian cai trị của Thành Cát Tư Hãn (1162-1227), khi tên của họ được thay thế từ tê Khakas cũ.[4] V.V. Bartold trích dẫn nguồn của người Trung Quốc và Hồi giáo trong thế kỷ thứ 7 và 12 CN mô tả người Kyrgyz là có mái tóc đỏ, mắt màu xanh hoặc màu xanh lá cây.[5][5][6] Những đặc điểm này quá khác biệt với người Kyrgyz hiện đại.

Bằng chứng gien[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc của người Kyrgyz từ người Siberia bản địa đã được xác nhận bởi các nghiên cứu di truyền.[7] Đáng chú ý, 63% nam giới người Kyrgyz ngày nay có cùng Haplogroup R1a1 (Y-ADN) với người Tajik (64%), người Ukraina (54%), người Ba Lan (~ 60%), người Hungary (30%) và thậm chí là người Iceland (25%). Tính kém đa dạng của chỉ số R1a1 của người Kyrgyz chỉ ra một hiệu ứng sáng lập/ hiệu ứng điện cơ giải trong thời kỳ lịch sử.[8] Haplogroup R1a1 (Y-ADN) thường được cho là một dấu hiệu của những dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Ấn-Âu cổ[9]. Bởi các quá trình di cư, chinh phục, ngoại hôn, và đồng hóa, nhiều người dân Kyrgyz hiện đang sinh sống ở Trung và Tây Nam Á có nguồn gốc hỗn hợp, thường xuất phát từ nhiều bộ lạc khác nhau, mặc dù họ nói cùng ngôn ngữ.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Người Kyrgyz chủ yếu là tín đồ Hồi giáo Sunni.[10] Hồi giáo lần đầu tiên được truyền bá bởi các thương nhân Ả Rập đi dọc theo con đường tơ lụa vào thế kỷ thứ 7 và 8. Trong thế kỷ thứ 8, Hồi giáo chính thống đã vươn đến thung lũng Fergana của người Uzbek. Chủ nghĩa vô thần nói chung đã làm phai nhạt ảnh hưởng của Hồi giáo ở khu vực phía bắc (gần thủ đô hơn) dưới thời Liên Xô. Tính đến ngày nay, một vài nghi thức văn hóa của Shaman giáo vẫn được tiến hành cùng với Hồi giáo đặc biệt là ở khu vực Trung tâm Kyrgyzstan. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 7 năm 2007, Bermet Akayeva, con gái của Askar Akayev, cựu Tổng thống của Kyrgyzstan, nói rằng đạo Hồi ngày càng bén rễ trong dân chúng kể cả ở khu vực phía bắc vốn chịu ảnh hưởng mạnh của chính sách vô thần của cộng sản. Cô nhấn mạnh rằng nhiều nhà thờ Hồi giáo đã được xây dựng và rằng Kyrgyzstan đang ngày càng Hồi giáo hóa.[11]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 2009 Census preliminary results (tiếng Nga)
  2. ^ Censuses 1970-1989 show 0.9 % Kyrgyz population share in Uzbekistan total, 2000 estimates were also 0.9 % (Ethnic Atlas of Uzbekistan), actually Uzbekistan population is 27,767,100 (2009), so 0.9 % is appr. 250,000
  3. ^ Abramzon S.M., p. 30
  4. ^ "The Kyrgyz – Children of Manas. Кыргыздар - Манастын балдары". Petr Kokaisl, Pavla Kokaislova (2009). p.132. ISBN 8025463656
  5. ^ a ă V.V. Bartold, The Kyrgyz: A Historical Essay, Frunze, 1927. Reprinted in V.V. Bartold, Collected Works, Volume II, Part 1, Izd. Vostochnoi Literatury, Moscow, 1963, p. 480 (tiếng Nga)
  6. ^ Mirfatyh Zakiev, Origins of the Turks and Tatars
  7. ^ The Eurasian Heartland: A continental perspective on Y-chromosome diversity
  8. ^ Zerjal, Tatiana (17 tháng 7 năm 2002). “A Genetic Landscape Reshaped by Recent Events: Y-Chromosomal Insights into Central Asia”. Human Genetics. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2010. 
  9. ^ Wells 2001, Karafet 2001, Zerjal 2002, Underhill 2000, and others
  10. ^ U.S. Department of State, International Religious Freedom Report 2010
  11. ^ EurasiaNet Civil Society - Kyrgyzstan: Time to Ponder a Federal System - Ex-President's Daughter

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Dân tộc Kyrgyzstan