Đa-la

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thanka Nam bộ Tây Tạng, với thần Đa-la xanh lá ở giữa, các thần Đa-la xanh lam, đỏ, trắng và vàng ở các góc, Bảo tàng nghệ thuật Rubin.

Đa-la (zh. 多羅, sa. tārā,Tara , Drolma , bo. sgrol-ma སྒྲོལ་མ་) hay Đa-la Bồ Tát là tên dịch âm Hán-Việt từ tiếng Phạn tārā, là tên của một vị nữ Bồ Tát thường gặp trong Phật giáo Tây Tạng. Tên này dịch ý là Độ Mẫu (zh. 度母), Cứu Độ Mẫu (zh. 救度母), là "người mẹ cứu độ chúng sinh". Lục Độ Mẫu ( vị cứu độ mẫu thực hành Lục độ ba la mật , chữ "lục " này là 6 khác với chữ "lục " là xanh để chỉ vị đại diện là Tara Xanh , tóm lại khi Lục Độ Mẫu là 21 vị Tara khi đó lục có nghĩa là 6 , khi chỉ riêng mình Tara xanh thì lục là màu xanh lá cây . )

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngàn năm trước, trong rừng sâu ở Ấn Độ có những nữ tu, tu luyện theo phương pháp bí truyền. Họ được gọi là yogini.

Mạnh mẽ, độc lập và nghiêm khắc, những yogini đã đạt được trạng thái tâm không mong cầu.

Người Tây Tạng gọi họ là những nữ thần Tara. Tara còn có nghĩa là "ngôi sao", là ngôi Sao Bắc Đẩu, là ánh sáng soi đường cho những người bị lạc đường, là hiện thân của năng lượng ánh sáng. Thần Tara là người mẹ giàu lòng thương yêu và cũng là người bảo vệ mạnh mẽ, kiên cường, chinh phục những khó khăn. Ánh mắt của thần sáng như ánh chớp, thần giậm chân khiến đất phải rung chuyển, quỷ thần cũng phải kinh sợ.

  • Tập tin:Bachdomau.jpg
    Bạch Độ Mẫu, tôn phổ biến trong 21 vị, còn gọi là Trường thọ Ta-ra
    Theo một truyền thuyết khác, trong vô số kiếp tại một cảnh giới khác có công chúa tên Yeshe Drawa , nhờ sở học và trí tuệ thông minh , công chúa có niềm tin kiên cố nơi Ba ngôi Tam Bảo , và nhờ sự quán chiếu về tính chất bất như ý của cuộc sống luân hồi nên công chúa phát nguyện giải thoát khỏi tất cả mọi đau khổ .

Do thiếu hiểu rằng tất cả chúng sinh đều giống như mình , mong muốn hạnh phúc và không muốn đau khổ nên Công chúa đã trưởng dưỡng lòng từ bi hướng về tất cả các loài hữu tình . Nàng không thích lối sống xa hoa nơi cung vàng điện ngọc và phát nguyện dẫn dắt hàng chục ngàn chúng sinh trên bước đường giải thoát vào trước mỗi bữa ăn sáng thậm chí còn nhiều hơn nữa trước khi đi ngủ .Vì nhân duyên này Nàng được xưng tụng là Arya ( bậc tôn quý ) Nàng có thể chứng ngộ trực tiếp bản chất của thực tại và danh xưng này biểu lộ các hạnh nguyện giải thóat của Nàng .

Các vị Trưởng lão tâm linh đã khuyên Nàng nên tu tập phát nguyện để tái sinh trong thân hình nam giới và đạt tới giác ngộ . Tuy vậy Nàng đã phát nguyện thành tựu giác ngộ trong hình tướng Nữ và liên tục hóa thân trở lại trong hình tướng nữ để giải thóat chúng sinh.

  • Vào thời đức Đại Nhật Như Lai có vị Công chúa tên gọi là Metok Zay ( Mỹ Hoa) siêng năng tụng kinh , làm nhiều thiện hạnh phi thường vì lợi ích của chúng sinh , khi còn trẻ Nàng đã thực hiện nhiều sự cúng dường , hiến tặng lớn lao , thiện hạnh trì giới , bố thí , nhẫn nhục ,từ bi cao quý vì chúng sinh . Khi đức Đại Nhật như lai hỏi nàng có tâm nguyện gì ? Nàng trả lời : " con sẽ lưu lại thế gian này đến khi mọi chúng sinh được giải thóat hòan tòan " Đức Phật ngạc nhiên và vui mừng vì chưa hề có ai phát nguyện cao quý, vô ngã và dũng cảm như vậy .Đáp lại sự xả thân , hạnh nguyện và hoan hỷ với tâm bồ đề của Nàng , Đức Phật đã tự nhiên tuyên thuyết bản kinh tán tụng 21 Tara ca ngợi 21 phẩm tính của đức Tara .

Nhờ bản kinh này mà công chúa Mỹ Hoa được biết như hóa thân của Thánh Độ mẫu Tara xuất hiện từ 2 giọt nước mắt từ bi của đức Quán Thế Âm .Bồ tát Quán Thế Âm với lòng bi mẫn bao la , mặc dù không ngơi nghỉ để giúp đỡ chúng sinh nhưng ngài vẫn buồn rầu vô hạn khi thấy có nhiều chúng sinh tiếp tục rơi vào 3 cõi thấp như : địa ngục, ngạ quỷ , súc sinh và có rất ít chúng sinh đạt được tiến bộ trên đường giác ngộ .

Trong nỗi tuyệt vọng vô hạn ngài đã khóc trong đau đớn và cầu nguyện rằng : tốt hơn hết thân thể của ngài vỡ ra từng mảnh và chết đi vì ngài không thể hòan thành tâm nguyện cứu vớt chúng sinh ra khỏi đau khổ . Từ 2 gịot nước mắt đó xuất hiện 2 vị Độ Mẫu là Lục Độ Mẫu ( Tara Xanh ) và Bạch Độ Mẫu ( Tara Trắng ) .

Đức Tara nói với Ngài Quán Thế Âm rằng : ôi bậc cao quý, xin đừng bỏ hạnh nguyện cao thượng vì lợi ích chúng sinh hữu tình , tôi đã được khích lệ , tùy hỷ bởi mọi hạnh động vô ngã của ngài , tôi thấu hiểu những gian khổ vĩ đại mà ngài đã trải qua .Nhưng có lẽ , nếu tôi mang hình dáng một nữ bồ tát với tên gọi Tara , xuất hiện như một cộng sự của ngài thì sẽ có thể trợ giúp cho những nỗ lực cao cả nhất của Ngài ".

Sau khi nghe hạnh nguyện của đức Độ mẫu , đức Quan âm lại tràn đầy dũng khí để tiếp tục những nỗ lực vì quần sinh và chính lúc đó 2 ngài được đức A di đà Phật ban gia trì cho những hứa nguyện của các ngài trên con đường Bồ Tát

Lúc tuyệt vọng , thân hình đức Quán Thế Âm đã vỡ thành các mảnh , sau đó được đức A Di Đà gắn lại thành một thân hình mới có 11 đầu , ngàn tay và ngàn mắt , hình tướng này gọi là Quan Âm Thập Nhất Diện .

Kể từ đó , bất kỳ ai trì tụng bản kinh tán thán 21 Độ mẫu được tuyên bởi đức Đại Nhật như lai đều mang lại lợi ích không thể nghĩ bàn .Đức Đại Nhật đã hòan thành mọi ước muốn của ngài . Ngay cả đối với chư phật nhiều lúc các ngài cũng không thể thỏa mãn nhu cầu của một số chúng sinh nào đó , tuy nhiên sau khi trao truyền kinh tán thán 21 Độ Mẫu Đức Đại Nhật không chỉ thỏa mãn mọi mong muốn của Ngài mà còn thành tựu mọi mong cầu của tất cả những ai tìm đến với Ngài .

Tập tin:Cattuong.jpg
Biểu tượng cát tường , loa ốc , gương báu ... cúng dường TARA

" OM - Kính lễ Lục Độ Mẫu bản tôn

Chí Thành đỉnh lễ quy y , Tara phật mẫu dũng uy phi thường

Tuttara đại lực cường , bao nhiêu sợ hãi Ngài thương giải trừ

Âm Ture nghĩa thắng dư , mọi điều sở nguyện bao cho toại thành

Soha hai chữ diệu linh , con nay đỉnh lễ rạp mình tán dương ..."

Chính đức Thích Ca Mâu Ni đã tuyên thuyết lại bản Kinh này cho chúng ta ngày nay được biết./

Biểu tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Thần Tara thực sự là một vị thần trẻ đẹp, có khả năng hóa thân. Thần có thể hiện ra trong màu xanh, màu trắng, đỏ, hay màu của vàng. Mỗi màu đều có ý nghĩa riêng của nó.

Phía sau đầu của thần Tara là ánh sáng của trăng tròn, là biểu tượng của áng sáng soi sáng trái đất. Ánh sáng đem lại sự mát lành, xóa tan đau khổ của vòng luân hồi.

Thần ngồi trên một tòa sen nở và một chiếc đĩa tròn. Vòng quanh thần là một vòng lửa màu vàng, mà lời kinh cầu nguyện số 21 nói rằng: "như lửa cháy ở cuối thời đại này".

Trên mỗi bàn tay, thần Tara nhẹ nhàng cầm một cành hoa dài màu xanh trắng, hoa utpala, một loại hoa có mùi hương thơm ngọt giống như hoa sen, loại hoa mọc trên bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Hoa utpala là sự trong sạch tự nhiên, mà theo Gehlek Rinpoche nói "để có thể là người trong sạch, hãy hành động một cách trong sạch".

Ba ngón tay của tay trái thần Tara chỉ lên để biểu hiện ba thứ quí giá, đó là: Đức Phật, Phật Pháp và Giác Ngộ, hay sự tự giải phóng (tự tại). Tay phải duỗi ra, ngửa bàn tay về phía trước với một cử chỉ mời gọi. Genlek Rinpoche nói "thần Tara nói với những người bị mất hi vọng và không có ai giúp đỡ, rằng: 'hãy lại đây, ta đang ở đây'."

Thần có những sợi lụa mềm được trang điểm bằng những hạt châu báu, dái tai dài và thanh nhã. Trên thực tế, các Đức Phật thì không đeo châu báu, nhưng nữ thần Tara lại mang châu báu. Những châu báu này sáng lấp lánh như sự cảnh báo về những đau khổ trên trần thế.

21 Thánh Độ Mẫu - Tara[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Cứu Độ Tốc Dũng Mẫu
  2. Tập tin:Phatmau-tara.jpg
    21 bản tôn Tảra
    Bách Thu Lãng Nguyệt Mẫu
  3. Lam Kim Cứu Độ Mẫu
  4. Như Lai Đỉnh Kế Mẫu
  5. TARA Tự mẫu TUTARA HUNG
  6. Thích Phạm Hỏa Thiên Mẫu
  7. Trát Phét Cứu Độ Phật Mẫu
  8. Ture Phẫn Nộ Mẫu
  9. Tam Bảo Nghiêm Ấn Mẫu
  10. Uy Đức Hoan Hỷ Mẫu
  11. Thủ Hộ Chúng Địa Mẫu
  12. Đỉnh Quan Nguyệt Tướng Mẫu
  13. Như Tận Kiếp Hỏa Mẫu
  14. Thủ Án Đại Địa Mẫu
  15. An Thiện Tĩnh Tịch Mẫu
  16. Phổ Biến Cực Hỷ Mẫu
  17. Ture Đốn Túc Mẫu
  18. Cụ Hải Thâm Tướng Mẫu
  19. Chư Thiên Vân Tập Mẫu
  20. Nhật Nguyệt Quảng Viên Mẫu
  21. Cụ Tam Bảo Tướng Mẫu .

Một danh sách danh hiệu 21 Độ Mẫu tương tự như sau :

  1. Lục Độ Mẫu
  2. Cứu Tai Nạn Độ Mẫu
  3. Cứu Thủy Tai Độ Mẫu
  4. Cứu Địa Tai Độ Mẫu
  5. Cứu Hỏa Tai Độ Mẫu
  6. Cứu Phong Tai Độ Mẫu
  7. Tăng Phúc Tuệ Độ Mẫu
  8. Cứu Thiên Tai Độ Mẫu
  9. Cứu Binh Tai Độ Mẫu
  10. Cứu Ngục Nạn Độ Mẫu
  11. Cứu Đạo Nạn Độ Mẫu
  12. Tăng Uy Quyền Độ Mẫu
  13. Cứu Ma Nạn Độ Mẫu
  14. Cứu Súc Nạn Độ Mẫu
  15. Cứu Thú Nạn Độ Mẫu
  16. Cứu Độc Nạn Độ Mẫu
  17. Phục Ma Độ Mẫu
  18. Dược Vương Độ Mẫu
  19. Trường Thọ Độ Mẫu
  20. Bảo Nguyện Độ Mẫu
  21. Như Ý Độ Mẫu

Các Câu Chuyện Cảm ứng[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:Ta-ra xanh.jpg
Đức Lục độ mẫu luôn kịp thời cứu hộ chúng sinh khi họ cầu tới ngài lúc hiểm nguy

Tara Cứu Độ Mẫu là đối tượng cầu nguyện của đại đa số phật tử theo truyền thống Kim Cương thừa - Đại thừa bởi bản nguyện của ngài nên bất kỳ ai chân thành cầu nguyện đều dễ dàng Thành tựu mọi tâm nguyện thế gian hoặc xuất thế gian . Có thể cầu nguyện tới Ngài bằng cách tán tụng bài 21 lục Độ Mẫu hoặc trì chân ngôn của ngài " OM TARE TUTTARE TURE SOHA"

  1. ở Ấn Độ có người rất nghèo , khi thấy tượng Độ mẫu liền quỳ xuống cầu khẩn , chợt thấy tượng chỉ tới nơi tháp , người ấy tới đào lên thấy bình tràn đầy chau báu . Lẽ ra người ấy phải chịu 7 đời nghèo khổ , nhưng từ đây nghiệp nghèo khổ của 7 đời tan hết , đời đời được sinh làm người giàu có .
  2. ở Ấn Độ có vị sadi đang đi đường thấy nơi thờ cúng thiên thần, vị sadi liền bước qua. Thiên thần nổi giận dùng sấm sét để giết , sadi sợ hãi kêu cầu Độ mẫu rồi quay về thỉnh 500 người cùng trì tụng chân ngôn Độ Mẫu , sấm sét chẳng thể hại được .
  3. Lại có người nương theo bóng đêm dùng lửa đốt nhà kè thù , trong nhà chỉ có cô gái yếu đuối bị lửa bức bách . Cô lớn tiếng kêu cứu Độ mẫu , đột nhiên có vị Độ Mẫu màu vàng xuất hiện đứng trên lửa tuôn mưa xuống như trút nước , nhờ vậy lửa bị dập tắt .
  4. Lại có 100 vị tăng đi qua sông , bị nước cuốn đến giữa dòng sông , bèn niệm Độ Mẫu . Đột nhiên thấy tượng Độ Mẫu đang được thờ cúng trên bờ sống đi ra cứu giúp . Về sau tượng Độ Mẫu này được gọi là Phong Thủy Cứu Độ Mẫu .
  5. Lại có 5000 người nương theo thuyền lớn vào biển tìm báu vật . Đến xứ Đại Tử Đàn , Long vương chẳng thích . Lúc quay về bỗng gặp gió lớn đưa thuyền qua vô số biển có nhiều màu sắc . Mọi người kêu gọi Nhật , Nguyệt , Thượng Đế đều vô hiệu . Dây cột buồm lại đứt nguy hiểm vạn phần tính như hơi thở ra thở vào . Bỗng trong chúng có người tụng chú Độ Mẫu , đột nhiên gió thổi ngược chiếc thuyền quay trở lại . Qua một đếm chiếc thuyền chở đầy châu báu và mọi người trở về nhà an toàn .
  6. Lại có vị tăng chủ mắc bệnh rụng lông mày , 5 vị tăng khác cũng bị bệnh này . Thịt rụng lông mày rơi chẳng có thuốc trị không ai dám đến gần sợ bị truyền nhiễm . Trên đường đi khất thực các vị thấy tảng đá khắc chữ Độ Mẫu và tượng của Độ Mẫu liền khóc lóc cầu khẩn . Trên tay tượng bỗng tuôn ra chất nước có dạng như thuốc . Các vị ấy lấy rửa thì bệnh khỏi tướng mạo lại đẹp đẽ trang nghiêm như người Thiên Giới .
  7. Tại Ấn Độ có tháp Bồ Đề trên tháp có tượng Độ Mẫu , một vị tăng nói đùa với tượng rằng " hướng mặt vào trong tháp đừng hướng ra ngoài tháp há chẳng tiện hơn sao ? " nói xong bỗng nghe bức tượng đáp " ông đã không vừa ý ta quay thân như thế nào đây ? " . Tượng đó liền quay thân hướng mặt vào bên trong . Đang lúc quay ngược thân thì cửa tháp và tượng đều tùy theo thân tượng quay ngược lại . Đến nay còn được gọi là Phản Thân Độ mẫu .
  8. Vùng Đông Bắc Ấn Độ có vị tỳ kheo ở gần nơi cấp nước . Xứ đó có tảng đá khắc tượng Độ Mẫu mà xứ này tu theo . Vị tỳ kheo tiểu thừa thấy kinh điển Đại thừa liền thiêu đốt lại rất ghét Mật Tông , hay phá tượng Mật Tông . Đức Vua nổi giận liền muốn bắt vị tỳ kheo để trừng phạt . Tỳ kheo này bỗng quỳ xuống trước tượng Độ Mẫu cầu cứu . Đột nhiên nghe Độ Mẫu nói chuyện " khi ngươi vô sự chẳng cầu ta sao ?" bèn chỉ nằm trong cái rãnh nước kia thì có thể thoát . Vị tỳ kheo thấy cái rãnh nước dưới bậc thềm nhỏ như cái bát liền nghĩ " làm sao có thể nằm được ? thật khó quá ! " . Độ Mẫu thúc dục " nằm mau xuống , người đi bắt đến cửa rồi " . Vị tỳ kheo sợ hãi không kịp suy nghĩ liền nằm xuống . Nhà vua chẳng bắt được bèn tha cho .
  9. Thời A DỤC Vương ở Ấn Độ có vị trưởng lão rất giàu , nhà vua khởi tâm ác muốn hại nên ra lệnh bắt vị trưởng lão . Vị ấy sợ hãi liền kêu cứu với Độ Mẫu . Khi chân mới đạp lên bậc cửa thềm thì cửa thêm liền biến thành vàng , vị ấy liền dâng cho vua . Lúc trong ngục hư không lại tuôn châu báu như mưa , vị trưởng lão lại đem dâng vua . Khi ấy cây khô héo hóa ra cây đầy quả trái , vua vui thích liền cho vị trưởng lão làm đại thần .

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]