Lịch sử Tây Tạng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cao nguyên Tây Tạng

Tây Tạng nằm giữa hai nền văn minh cổ đại của Trung QuốcẤn Độ, nhưng những dãy núi hiểm trở của cao nguyên Tây Tạng và dãy núi Himalaya làm đất nước này xa cách cả hai. Tiếng Tây Tạng là một phần của nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến thuộc hệ ngôn ngữ Hán-Tạng. Lịch sử của Tây Tạng đặc biệt ở chỗ là đây là một quốc gia phụng sự Phật giáo, cả đối với dân xứ đó cũng như đối với người Mông Cổ (Mongol) và người Mãn Châu (Manchu). Tây Tạng còn có tên thường gọi là "mái nhà của thế giới" hay là "đất nước của tuyết".

Tiền sử[sửa | sửa mã nguồn]

Người Trung Quốc và người "tiền Tạng-Miến" (proto-Tibeto-Burman) có lẽ đã tách ra từ trước năm 4000 TCN, khi người Trung Quốc bắt đầu trồng kê ở thung lũng sông Hoàng Hà trong khi người Tạng-Miến vẫn là dân du mục. Tây Tạng tách khỏi Myanma vào khoảng năm 500[1][2].

Người ta vừa tìm ra các đồn ở trên đồi cũng như các nơi chôn cất thời đại đồ đá từ tiền sử ở cao nguyên Chang Tang (Khương Đường) nhưng địa điểm xa xôi hiểm trở đã ngăn cản các nghiên cứu khảo cổ. Nhận định ban đầu là văn hóa này là văn hóa Zhang Zhung (văn hóa Tượng Hùng hay văn hóa Dương Đồng) được miêu tả trong sách Tây Tạng cổ như là văn hóa nguồn gốc của đạo Bön.

Nguồn gốc theo truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Đế chế Tây Tạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Đế chế Tây Tạng năm 820

Một loạt các vua đã cai trị Tây Tạng từ thế kỉ thứ 7 đến thế kỉ thứ 11 - xem Danh sách các vua Tây Tạng. Đã có lúc người Tây Tạng cai quản về phía nam xa nhất là tới Bengal và phía bắc xa đến Mông Cổ.

Sự xuất hiện đầu tiên trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Tạng lần đầu tiên bước vào lịch sử Địa lý của Ptolemy với cái tên batai (βαται), phiên ra ký tự Hy Lạp của một tên bản xứ là Bod. Tây Tạng sau đó xuất hiện trong lịch sử trong một cuốn sách Trung Quốc mà xứ này được gọi là fa. Sự kiện đầu tiên từ lịch sử còn ghi lại của Tây Tạng và cũng được xác nhận ở nước ngoài là khi Vua Namri Löntsän (Gnam-ri-slon-rtsan) gửi một đại sứ sang Trung Quốc đầu thế kỉ thứ 7.[3]

Thành lập triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Tạng bắt đầu tại một lâu đài tên là Taktsé (Stag-rtse) trong quận Chingba (Phying-ba) của Chonggyä (Phyongs-rgyas). Nơi đó, theo như Biên niên sử cổ của Tây Tạng,

"Một nhóm người âm mưu nổi loạn thuyết phục Stag-bu snya-gzigs [Tagbu Nyazig] khởi nghĩa chống lại Dgu-gri Zing-po-rje [Gudri Zingpoje]. Zing-po-rje là một chư hầu của đế chế Zhang-zhung dưới triều đại Lig myi. Zing-po-rje chết trước khi âm mưu nổi loạn xảy ra, và con của ông là Gnam-ri-slon-mtshan [Namri Löntsen] đã dẫn đầu âm mưu sau khi lấy được lời khai từ những người chủ mưu."

Nhóm người đó đã thắng và Namri Löntsän trở thành lãnh đạo của một nước mà sau này trở thành Đế chế Tây Tạng. Triều đình của Namri Löntsän đã gửi hai sứ giả sang Trung Quốc vào năm 608 và 609, đánh dấu sự xuất hiện của Tây Tạng trên trường quốc tế.[4]

Triều đại Songtsän Gampo[sửa | sửa mã nguồn]

Songtsän Gampo (Wylie: Srong-brtsan Sgam-po) (sinh 604, mất 650) là một vị vua đã mở rộng quyền lực của Tây Tạng và người được cho là đã mời Phật giáo vào Tây Tạng. Khi cha của ông, Namri Löntsän chết vì bị đầu độc, khoảng 618,[5] Songtsän Gampo đã nắm lấy quyền lực sau khi dập tắt một cuộc nổi loạn ngắn.

Tượng của vua Songtsän Gampo trong một hang ở Yerpa

Songtsän Gampo chứng tỏ là một nhà ngoại giao khéo léo và cũng không kém tài thao lược. Tể tướng của ông là Myang Mangpoje (Wylie: Myang Mang-po-rje Zhang-shang) đánh bại Sumpa vào khoảng năm 627.[6] Sáu năm sau (khoảng 632-3) Myang Mangpoje bị kết tội phản bội và xử tử.[7][8][9] Kế nhiệm ông là tể tướng Gar Songtsän (Mgar-srong-rtsan).

Sử liệu Trung Quốc ghi lại một phái đoàn Tây Tạng sang Trung Quốc vào năm 634 cầu hôn công chúa và bị từ chối. Năm 635-6 vua Tây Tạng tấn công và đánh bại người Azha (‘A zha), sống xung quanh hồ Koko Nur vùng đông bắc của Tây Tạng, và kiểm soát những tuyến đường thương mại quan trọng vào Trung Quốc. Sau một chiến dịch đánh Trung Quốc khá thành công vào năm 635-6,[10] vua nhà Đường mới đồng ý gả công chúa cho Songtsän Gampo.

Khoảng năm 639, sau khi Songtsän Gampo có mâu thuẫn với em trai mình là Tsänsong (Brtsan-srong), người em trai này bị thiêu sống bởi tể tướng của chính ông là Khäsreg (Mkha’s sregs) (có lẽ là theo lệnh vua).[8][9]

Công chúa Wencheng (tiếng Tây Tạng Mung-chang Kung-co) rời Trung Quốc vào năm 640 để lấy Songtsän Gampo, một năm sau bà mới tới nơi. Hòa bình lập lại giữa Trung Quốc và Tây Tạng cho đến hết triều đình của Songtsän Gampo.

Em gái của Songtsän Gampo là Sämakar (Sad-mar-kar) được gửi sang kết hôn với Lig-myi-rhya vua của Zhang Zhung. Tuy nhiên, khi vị vua từ chối cuộc hôn nhân này, bà giúp anh trai đánh bại Lig myi-rhya và sát nhập Zhang Zhung vào Đế chế Tây Tạng.

Năm 645, Songtsän Gampo chinh phục vương quốc Zhang Zhung mà bây giờ là miền Tây của Tây Tạng.

Songtsän Gampo chết vào năm 650. Cháu nội còn nhỏ tuổi của ông là Trimang Lön (Khri-mang-slon) lên kế vị. Quyền lực thực sự nằm trong tay tể tướng Gar Songtsän.

Triều đại Mangsong Mangtsen (650-676)[sửa | sửa mã nguồn]

Tể tướng Gar Songtsän chết vào năm 667, sau khi sát nhập xứ Azha vào lãnh thổ Tây Tạng. Giữa những năm 665-670, Kotan bị người Tây Tạng đánh bại. Vua Mangsong Mangtsen (Trimang Löntsen hay Khri-mang-slon-rtsan) thành hôn với Thrimalö (Khri-ma-lod), một phụ nữ sau này đóng vai trò quan trọng trong lịch sử Tây Tạng. Vua qua đời vào mùa đông năm 676-677, và nước Zhang Zhung nổi loạn sau đó. Vào cùng năm, con của vua là 'Dus-rong Mang-po-rje (Tridu Songtsän hoặc Khri-'dus-srong-rtsan) ra đời.[11]

Triều đại 'Dus-rong Mang-po-rje (677-704)[sửa | sửa mã nguồn]

Vua 'Dus-rong Mang-po-rje hay Tridu Songtsän cai trị dưới quyền nhiếp chính của bà mẹ đầy quyền uy Thrimalö và dòng tộc Gar (Mgar) có nhiều ảnh hưởng lớn vào thời đó. Năm 685, tể tướng Gar Tännyädombu (Mgar Bstan-snyas-ldom-bu) chết và em của ông ta, Gar Thridringtsändrö (Mgar Khri-‘bring-btsan brod), được chỉ định thay thế ông.[12] Năm 692, người Tây Tạng bị mất đồng bằng lưu vực sông Tarim Basin vào tay người Hán. Gar Thridringtsändrö đánh bại người Hán trong trận đánh năm 696, thiết lập hòa bình. Hai năm sau đó, vào năm 698, vua Tridu Songtsän mời dòng tộc Gar (trên 2000 người) đi dự một bữa tiệc săn bắn và cho thảm sát họ. Gar Thridringtsändrö sau đó tự vẫn, và quân đội trung thành với ông ta quy hàng theo người Hán. Sự kiện này chấm dứt quyền lực của dòng tộc Gar.[11]

Từ năm 700 cho đến khi mất, vua liên tục hành quân tiến đánh miền đông bắc, vắng mặt khỏi miền Trung Tây Tạng, trong khi mẹ của ông là Thrimalö cai trị trên danh nghĩa của ông.[13] Vào năm 702, Trung Quốc và Tây Tạng thiết lập hòa bình. Cũng cuối năm đó, nhà nước quân chủ Tây Tạng quay sang củng cố các tổ chức hành chính của (chữ Tây Tạng: khö chenpo; Wylie: mkhos chen-po) khu vực đông bắc của Sumru (Wylie: Sum-ru), từng là nước Sumpa bị chinh phục 75 năm trước đó. Sumru được tổ chức lại thành một "vùng mũi" mới của đế chế. Vào mùa hè năm 703, Tridu Songtsän đóng quân tại Öljag (‘Ol-byag) xứ Ling (Gling), thượng nguồn của sông Dương Tử, trước khi bắt đầu xâm lược nước Jang (‘Jang) hay Nam Chiếu. Năm 704, ông lưu lại một thời gian ngắn ở Yoti Chuzang (Yo-ti Chu-bzangs) xứ Madrom (Rma-sgrom) trên sông Hoàng Hà. Sau đó ông xâm lược xứ Mywa (có lẽ = người Miêu)[14] nhưng qua đời trong chiến dịch hành quân đó.[13]

Triều đại Mes-ag-tshoms (704-754)[sửa | sửa mã nguồn]

Gyältsugru (Wylie: Rgyal-gtsug-ru), sau này trở thành Vua Tride Tsuktsän (Khri-lde-gtsug-brtsan), được biết với tên thông tục là Mes-ag-tshoms ("Ông già nhiều râu"), sinh vào năm 704. Với cái chết của 'Dus-rong Mang-po-rje (Tridu Songtsen), hoàng hậu Thrimalö đã cai trị với quyền tể tướng cho ấu chúa Gyältsugru.[13] Năm sau đó con lớn hơn của Tridu Songtsen, tên là (Lha Bal-pho) đã phản đối việc nối ngôi của người em 1 tuổi nhưng, tại Pong Lag-rang, Lha Balpo đã bị "tước ngôi vua".[13][15]

Thrimalö đã sắp xếp đám cưới vua với một công chúa Trung Quốc. Công chúa Jincheng (金成) (Tây Tạng: Kyimshang Kongjo) đến vào năm 710, nhưng không rõ là cô ta có cưới ấu vương Gyältsugru vừa tròn 7 tuổi [16] hay là cưới Lha Balpo đã bị tước ngôi.[17] Ông này cũng cưới một phụ nữ từ xứ Jang (Nam Chiếu) và một người khác sinh ở Nanam.[18]

Gyältsugru chính thức lên ngôi với đế hiệu là Tride Tsuktsän năm 712,[13] cùng năm hoàng thái hậu Thrimalö qua đời vì cao tuổi.

Người Arab và người Turgis trở nên lớn mạnh trong giai đoạn 710-720. Người Tây Tạng là đồng minh với Arab và người phía đông Thổ Nhĩ Kỳ. Tây Tạng và Trung Quốc thỉnh thoảng đánh nhau trong cuối thập niên 720. Ban đầu Tây Tạng (với đồng minh người Turgi) chiếm thế thượng phong, nhưng bắt đầu thua trận. Sau một cuộc nổi loạn ở phía nam Trung Quốc, và một đại thắng của Tây Tạng năm 730, Tây Tạng và Thổ thiết lập hòa bình.

Năm 734 người Tây Tạng gả công chúa Dronmalön (‘Dron ma lon) cho Turgis Qaghan. Trung Quốc liên minh với Arab tấn công Turgis. Sau chiến thắng và hòa bình với người Turgis, Trung Quốc bất ngờ tấn công Tây Tạng. Tây Tạng chịu vài thất bại ở phía đông, mặc dù vẫn còn vững mạnh ở phía tây. Đế chế Turgis sụp đổ vì nội loạn. Năm 737, Tây Tạng tấn công vua Bru-za (Gilgit), ông này xin Trung Quốc giúp đỡ, nhưng cuối cùng phải chịu cống nạp cho Tây Tạng. Năm 747, cai trị của Tây Tạng bị lỏng đi bởi chiến dịch hành quân của tướng Cao Tiên Chi, người cố gắng mở lại liên lạc trực tiếp giữa Trung Á và Kashmir. Tới năm 750 Tây Tạng đã mất gần hết các thuộc địa Trung Á về tay Trung Quốc. Tuy nhiên, sau thất bại của Cao Tiên Chi bởi quân Qarluq và Arab tại sông Talas (751), ảnh hưởng của Trung Quốc suy giảm nhanh chóng và ảnh hưởng của Tây Tạng quay trở lại.

Năm 755 Tride Tsuktsän bị các quan thượng thư là Lang và Bal giết. Sau đó Tagdra Lukong (Stag-sgra Klu-khong) trình bằng chứng cho hoàng tử Song Detsän (Srong-lde-brtsan) rằng "họ đã phản bội, gây chia rẽ trong đất nước, và chuẩn bị giết cả hoàng tử. … Sau đó, Lang và ‘Bal đã làm loạn, rồi bị giết bởi quân đội, tài sản bị tịch thu, và Klu khong was, người ta tin rằng, được trọng thưởng."[19]

Triều đại Trisong Detsän (756-797 or 804)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 756, Thái tử Song Detsän chính thức lên ngôi vua với tên hiệu Trisong Detsän (Wylie Khri sron lde brtsan) và điều khiển nhà nước khi đã nắm được đa số ủng hộ[20] vào năm 13 tuổi sau một năm interregnum (giai đoạn không có vua). Năm 755 Trung Quốc đã yếu đi nhiều vì các nổi loạn từ trong nước, kéo dài cho đến năm 763. Ngược lại, triều đại của Trisong Detsän đã được đánh dấu bởi sự củng cố ảnh hưởng của Tây Tạng ở vùng Trung Á và chống lại Trung Quốc. Thời đầu của triều đại các xứ miền Tây của Tây Tạng phải cống nạp cho triều đình Tây Tạng. Từ thời gian đó Tây Tạng bắt đầu xâm lấn vào các xứ thuộc nhà Đường, tiến tới thủ đô Chang'an (Xian hiện nay, Hán Việt: Trường An) của Trung Quốc năm 763/764. Quân Tây Tạng chiếm lĩnh Chang'an trong 15 ngày và thiết lập một vua bù nhìn trong khi Đường Thái Tông đang ở Lạc Dương. Nam Chiếu (ở Vân Nam và các vùng lân cận) vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Tây Tạng từ 750 đến 794, khi họ nổi loạn chống lại các toàn quyền người Tây Tạng và giúp người Hán đánh bại người Tây Tạng.

Trong thời gian đó, người Kyrgyz thương lượng một hiệp ước hữu nghị với Tây Tạng và các cường quốc khác để cho phép thương mại tự do trong khu vực. Một cố gắng về một hiệp định hòa bình giữa Tây Tạng và Trung Quốc diễn ra vào năm 787, nhưng xung đột kéo dài cho đến hòa ước Trung Quốc - Tây Tạng năm 821 được ký kết ở Lhasa năm 823 (xem bên dưới). Cùng thời gian đó, người Uyghur, những đồng minh du mục của các vua nhà Đường, tiếp tục quấy phá dọc theo biên giới phía bắc của Tây Tạng. Cho đến cuối triều đại vua này, những chiến thắng của người Uyghur ở phía bắc đã làm Tây Tạng mất đi nhiều đồng minh ở phía đông nam.[21]

Những nghiên cứu lịch sử gần đây cho thấy sự hiện diện của Thiên chúa giáo từ thế kỉ thứ 6 hay thứ 7, một giai đoạn khi người Hun trắng có nhiều liên hệ với người Tây Tạng.[22] Một sự hiện diện khá lớn vào thế kỉ thứ 8 khi Patriarch Timothy I (727-823) năm 782 gọi người Tây Tạng là một trong những cộng đồng quan trọng của nhà thờ phía đông và việc về sự cần thiết của việc bổ nhiệm một cha xứ khác khoảng 794.[23]

Triều đại Mune Tsenpo (kh. 797-799?)[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại của Mune Tsenpo (Wylie Mu ne btsanpo) được ghi lại rất ít.

Triều đại Sadnalegs (799-815)[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới triều vua Tride Songtsän (Khri lde srong brtsan - thường được biết đến như Sadnalegs) có một cuộc chiến tranh kéo dài với các đế quốc Arab về phía tây. Có vẻ như là Tây Tạng đã bắt giữ được nhiều lính Arab và buộc họ ra mặt trận phía đông vào năm 801. Tây Tạng hoạt động xa về phía tây tới tận SamarkandKabul. Lực lượng Arab bắt đầu chiếm thế thượng phong, và thống đốc Kabul người Tây Tạng đầu hàng quân Arab và theo Muslim khoảng 812 hay là 815. Sau đó quân Arab đánh phía đông từ Kashmir, nhưng bị kìm chân lại bởi quân Tây Tạng. Cùng lúc đó, Uyghur tấn công Tây Tạng từ đông bắc. Xung đột giữa người Uyghur và người Tây Tạng tiếp tục một thời gian sau đó.[24]

Triều đại Ralpacan (815-838)[sửa | sửa mã nguồn]

Ralpacan (Wylie Khri gtsug lde brtsan) là quan trọng đối với Phật giáo Tây Tạng như là một trong ba Vua chính pháp (Dharma Kings) người đã có công mang Phật giáo vào Tây Tạng. Ông là người ủng hộ Phật giáo một cách hào phóng và đã mời nhiều thợ thủ công, học giả, dịch giả vào Tây Tạng từ các nước lân cận. Ông cũng cổ động cho chữ viết Tây Tạng và việc biên dịch, được giúp đỡ nhiều với bộ từ điển Sanskrit-Tibetan chi tiết gọi là Mahavyutpatti bao gồm từ tương đương trong tiếng Tây Tạng của hàng ngàn từ Sanskrit.[25][26]

Tây Tạng tấn công lãnh thổ Uyghur vào năm 816 và bị tấn công vào năm 821. Sau khi Tây Tạng thành công trong việc đánh vào lãnh thổ Trung Quốc, Phật giáo cả hai nước bắt đầu tìm cách hòa giải.[25] Hòa nước Sino-Tibetan hoàn thành năm 821/822, bảo đảm hòa bình trên hai thập kỉ.[27] Một bản song ngữ của hòa ước này được khắc vào cột đá đứng bên ngoài chùa Jokhang tại Lhasa.[28]

Vua đã bị giết bởi những người theo đạo Bon và đưa người anh ông với quan điểm chống đối Phật giáo, Langdarma, lên ngôi.[29]

Triều đại Langdarma (838-842)[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Langdarma (Wylie Glang dar ma, đế hiệu là Tri Uidumtsaen Khri 'U'i dum brtsan đầy những vấn đề đến từ bên ngoài. Nước Uyghur phía bắc sụp đổ dưới áp lực của người Kyrgyz vào năm 840, và nhiều người di tản chạy vào Tây Tạng. Bản thân Langdarma bị ám sát, có lẽ là bởi một ẩn sỹ Phật giáo, vào năm 842.[30][31]

Tây Tạng bị chia cắt[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cái chết của vua Langdarma, một cuộc nội chiến diễn ra giữa hoàng thái tử Yumtän và người con trai (hay cháu) của Langdarma là Ösung vào năm 842. Bất phân thắng bại, năm 893 (hay 905) Osung và đồng minh của ông ta đã chiếm đóng thủ đô Lhassa, còn Yumtän bị buộc phải tới Yalung rồi thiết lập một hoàng tộc riêng.[32]. Cùng trong năm này, con trai của Ösung là Pälkhortsän (Wylie: Dpal 'khor brtsan) (893-923 hoặc 865-895), nắm quyền điều khiển miền Trung Tây Tạng một thời gian ngắn; phong vương cho hai con trai là Trashi Tsentsän và Thrikhyiding (còn gọi khác là Kyide Nyigön). Thrikhyiding dời đến khu vực miền tây Tây Tạng phía trên Ngari (Wylie: Stod Mnga ris) và thành hôn với một phụ nữ Tây Tạng quý tộc ở vùng cao nguyên, lập ra một triều đại địa phương.[33]. Con trai cả của Kyide Nyigön trở thành người cai trị xứ Mar-yul (Ladakh), và hai người con trẻ hơn cai trị miền tây Tây Tạng, thành lập Vương quốc Guge và Pu-hrang. Cũng ngay sau khi Tây Tạng bị chia cắt năm 842 sau cái chết của Langdarma, Nyima-Gon thành lập Vương quốc Ladakh:

+ Vương quốc Guge, có thủ đô là Purang (về sau đổi sang Tholing) là vương quốc Phật giáo lớn nhất, các vị vua:

  1. Tashi-gon: 947 - 975
  2. Yeshe Ö: 976 - 988
  3. Nagaraja (lãnh đạo tôn giáo, mất 1023) con trai
  4. Devaraja (lãnh đạo tôn giáo, mất 1026) anh trai
  5. Khor re: 988 - 996
  6. Lha lde: 996 – 1024
  7. Od lde btsan: 1024 – 1037
  8. Byang chub 'Od: 1037– 1057
  9. Zhi ba 'Od: 1057? - 1111
  10. Che chen tsha rTse lde: 1057 – 1088
  11. Bar lde (dBang lde): 1088 - 1095
  12. bSod Nams rtse (1095 c - đầu thế kỷ 12.) con trai
  13. bKra shis rtse (trước 1137) con trai
  14. Jo bo rGyal po (nhiếp chính, giữa thế kỷ thứ 12) em
  15. thanh btsan rtse ' (thế kỷ 12) con trai của bKra shis rtse
  16. sPyi LDE btsan (thế kỷ 12) con trai
  17. rNam LDE btsan (12 / thế kỷ 13) con trai
  18. Nyi ma LDE (12 / thế kỷ 13) con trai
  19. bum DGE ' (thế kỷ 13) có thể là một người ngoài
  20. La ga (? c. 1260) có nguồn gốc nước ngoài
  21. Chos rgyal Grags pa (c. 1260-1265)
  22. Grags pa LDE (c. 1265-1277) hoàng tử từ Lho stod
  23. nhà cầm quyền không biết
  24. rNam rgyal Lde (1396? -1424) con trai của một vị vua Guge
  25. Nam mkha'i dBang po Phun tshogs LDE (1424-1449) con trai
  26. rNam ri Sang rgyas Lde (1449-?) con trai
  27. Blo bzang Rab brtan (? c. 1485) con trai
  28. sTod Tsha 'Chữ Phags pa lha (c 1485 -. sau 1499) con trai
  29. Od Shakya ' (đầu thế kỷ 16) con trai
  30. Jig rten dBang phyug Pad kar LDE (fl 1537-1555.) con trai?
  31. Ngag gi de dBang phyug (thế kỷ 16) con trai
  32. Nam mKha dBang phyug (thế kỷ 16) con trai
  33. Khri Nyi ma dBang phyug (cuối thế kỷ 16) con trai
  34. Khri Grags pa'i dBang phyug (c. 1600) con trai
  35. Khri Nam rgyal Grags pa Lde(fl. 1618) con trai
  36. Khri bKra shis Grags pa Lde (trước 1622-1630) con trai

====> Bị vương quốc Ladakh chính phục năm 1630

Các vua Ladakh:

LDE-Dza-hkhor-btsan (c. 870 -900)

Sau khi đế chế Tây Tạng bị chia cắt vào năm 842, Nyima-Gon, đại diện của một hoàng tộc Tây Tạng cổ đại thành lập triều đại Ladakh đầu tiên. Vương quốc của Nyima-Gon có trung tâm xa về phía đông của Ladakh ngày nay. Con trai cả của Kyide Nyigön trở thành người cai trị xứ Mar-yul (Ladakh), và hai người con trẻ hơn cai trị miền tây Tây Tạng, thành lập Vương quốc Guge và Pu-hrang. Giai đoạn sau đó con cả của Guge là Kor-re, cũng được gọi là Jangchub Yeshe Ö (Byang Chub Ye shes' Od), trở thành một nhà sư Phật giáo. Ông cho gửi các học giả trẻ sang Kashmir để đào tào và chịu trách nhiệm mời Atisha sang Tây Tạng vào năm 1040, và do đó đã mở ra giai đoạn được gọi là Chidar (Phyi dar) của Phật giáo Tây Tạng. Người con trẻ hơn, Srong-nge, theo dõi công việc hàng ngày của nhà nước; chính những con của ông đã tiếp tục dòng tộc hoàng gia.[34]

Quyền lực trung ương gần như là không tồn tại trong khu vực Tây Tạng từ năm 842 đến 1247, thế nhưng Phật giáo vẫn tồn tại trong khu vực xứ Kham. Trong thời vua Langdarma ba nhà sư đã trốn thoát khỏi vùng Lhasa nổi loạn vào khu vực núi Dantig ở Amdo. Đệ tử của họ là Muzu Saelbar (Mu-zu gSal-'bar), sau này được biết đến như là học giả Gongpa Rabsal (Dgongs-pa rab-gsal) (832-915), chịu trách nhiệm gây dựng lại Phật giáo ở đông bắc Tây Tạng và là người được cho là sáng lập ra phái Nyingma (Rnying ma pa) của Phật giáo Tây Tạng. Trong khi đó, theo như truyền thống, một trong những hậu duệ của Ösung, người có gia sản gần Samye gửi mười thanh niên sang đào tạo bởi Gongpa Rabsal. Trong mười người đó là Lume Sherab Tshulthrim (Klu-mes Shes-rab Tshul-khrims) (950-1015). Khi đã được huấn luyện, những thanh niên được ordained và quay trở về vùng trung Tây Tạng xứ U và xứ Tsang. Những học giả trẻ có khả năng liên lạc với Atisha không lâu sau năm 1042 và giúp cho việc quảng bá và tổ chức Phật giáo ở Lhokha. Trong vùng này niềm tin bắt đầu mạnh lên với sự thành lập của Tu viện Sakya vào năm 1073.[35] Trong hai thế kỉ sau đó tu viện Sakya đã trở thành quan trọng trong đời sống và văn hóa Tây Tạng. Tu viện Tsurpu, nơi của phái Karmapa của Phật giáo, được thành lập vào năm 1155.

Người Mông Cổ và trường phái Sakya (1236-1354)[sửa | sửa mã nguồn]

Người Tây Tạng biết rằng vào năm 1207 Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan) đang chinh phạt đế chế Tây Hạ (Tangut). Liên lạc đầu tiên giữa người Tây Tạng và người Mông Cổ được sử sách ghi lại xảy ra khi Genghis Khan gặp Tsangpa Dunkhurwa (Gtsang pa Dung khur ba) và sáu đệ tự của ông ta, có lẽ là trong đế chế Tangut, vào năm 1215.[36]

Trong khi tướng Mông Cổ là Köden chiếm được khu vực Kokonor vào năm 1239, ông gửi tướng của mình là Doorda Darqan sang do thám Tây Tạng vào năm 1240 để nghiên cứu khả năng tấn công nhà Tống của Trung Quốc từ phía tây. Trong cuộc thám hiểm này các tu viện Kadampa xứ Rwa-sgreng và Rgyal-lha-khang bị thiêu hủy và 500 người bị giết. Cái chết của Đại hãn Mông Cổ Ögedei (Oa Khoát Đài) năm 1241 đã làm các cuộc viễn chinh của Mông Cổ vòng quanh thế giới tạm ngưng lại. Mông Cổ tiếp tục để ý tới Tây Tạng năm 1244 khi Köden gửi lời mời học giả người Bengal là Sakya Pandit'ta, lãnh đạo của trường phái Sakya, đến thủ đô của ông ta và chính thức đầu hàng Mông Cổ. Sakya Pandi'ta đến Kokonor với hai người cháu là Drogön Chögyal Phagpa ('Phags-pa; 1235-80) và Chana Dorje (Phyag-na Rdo-rje; 1239-67) năm 1246.

Hốt Tất Liệt Hãn

Khi Mông Kha (Möngke) trở thành Khả hãn vào năm 1251, ông ta ban phát nhiều quận của Tây Tạng cho bà con của ông ta. Kublai Khan (Hốt Tất Liệt) được Mông Kha phong để chỉ huy các chiến dịch xâm lược Trung Quốc vào năm 1253. Vì Sakya Padit'ta đã qua đời vào thời gian này Hốt Tất Liệt mang Drogön Chögyal Phagpa vào doanh trại của ông ta như là một biểu tượng đầu hàng của Tây Tạng. Kublai được bầu lên làm Khả hãn năm 1260 theo sau cái chết của anh mình là Mông Kha, mặc dù việc lên ngôi của ông ta không phải là không có tranh cãi. Tại thời điểm đó ông phong cho Drogön Chögyal Phagpa 'state preceptor'. Năm 1265 Drogön Chögyal Phagpa quay lại lần đầu tiên và cố gắng thiết lập hệ thống Sakya với việc bổ nhiệm Shakya Bzang-po (một người đồng minh và phụng sự Sakya đã lâu) như là Dpon-chen ('tể tướng') toàn Tây Tạng năm 1267. Một cuộc thống kê được làm năm 1268 và Tây Tạng được chia làm 13 tỉnh nhỏ (myriarchies).

Năm 1269 Drogön Chögyal Phagpa quay lại với Kublai tại thủ đô mới của ông ta là Khanbaliq (Beijing hiện nay). Ông trình cho Qaghan một chữ viết mới được nghĩ ra để đại diện cho tất cả các ngôn ngữ trong đế quốc. Năm sau đó ông được phong Dishi ('imperial preceptor'), và vị trí cai trị Tây Tạng (bây giờ dưới dạng 13 myriarchies) được tái công nhận. Hệ thống Sakya trên toàn Tây Tạng tiếp tục cho đến giữa thế kỉ 14, mặc dù nó bị chống lại bởi một cuộc nổi loạn của phái Drikung Kagyu với sự giúp đỡ của Hülegü Khan xứ Ilkhanate năm 1285. Cuộc nổi loạn bị dập tắt năm 1290 khi những người theo phái Sa-skya và quân Mông Cổ phía đông đốt cháy Tu viện Drikung và giết hại 10 000 người.[37]

Sự nổi lên của Phagmodru (1354-1434)[sửa | sửa mã nguồn]

Tông phái Phagmodru (Phag mo gru) trung tâm tại Neudong (Sne'u gdong) được ban tặng như là một thái ấp cho Hülegü vào năm 1251. Khu vực này thường liên hệ với gia đình Lang (Rlang), và với sự suy giảm của ảnh hưởng Ilkhanate vùng này được cai trị bởi gia đình này bên trong hệ thống Mongol-Sakya đứng đầu bởi một Pönchen (Dpon chen) tại Sakya. Khu vực này dưới quyền cai quản của gia tộc Lang và liên tục bị xâm phạm trong suốt giai đoạn cuối thế kỉ 13 và đầu thế kỉ 14. Janchub Gyaltsän (Byang chub rgyal mtshan, 1302-1364) thấy những xâm phạm này là phạm luật và tìm cách khôi phục vùng đất Phagmodru sau khi ông được bổ nhiệm làm Myriarch năm 1322. Sau những tranh đấu về luật lệ kéo dài cuộc đấu tranh trở nên bạo lực khi Phagmodru bị tấn công bởi các vùng lân cận vào năm 1346. Jangchub Gyaltsän bị bắt và được thả vào năm 1347. Khi sau đó ông từ chối không xuất hiện tại tòa xét xử, khu vực của ông bị tấn công bởi Pönchen vào năm 1348. Janchung Gyaltsän có khả năng bảo vệ Phagmodru, và tiếp tục có các thành công về quân sự cho đến 1351 và ông trở thành nhân vật chính trị mạnh nhất trong đất nước. Các xung đột quân sự kết thúc vào năm 1354 với Jangchub Gyaltsän như là người chiến thắng không chối cãi. Ông tiếp tục cai trị miền trung Tây Tạng cho đến khi qua đời năm 1364, mặc dù ông đã rời tất cả các tổ chức Mông Cổ. Quyền lực vẫn nằm trong tay gia đình Phagmodru cho đến 1434.[38]

Sự nổi lên của tông phái Geluk[sửa | sửa mã nguồn]

The Potala Palace in Lhasa

Lobsang Gyatso (Wylie transliteration: Blo-bzang Rgya-mtsho), Dalai Lama thứ 5, (1617-1682) là vị Dalai Lama đầu tiên nắm được quyền lực chính trị trên toàn miền trung Tây Tạng.

Vị Dalai Lama thư 5 được biết như là người đã thống nhất Tây Tạng dưới quyền điều khiển của tông phái Geluk của Phật giáo Tây Tạng, sau khi đánh bại phái đối lập KagyuJonang và một người cai trị không tôn giáo, hoàng tử xứ Shang, sau một cuộc nội chiến kéo dài. Thành công của ông một phần là nhờ sự giúp đỡ của Gushi Khan, một tướng quân Oirat hùng mạnh. Các tu viện theo phái Jonang hoặc là bị đóng cửa hoặc là bị chuyển sang phái Geluk, và phái này vẫn lẩn tránh cho đến phần sau của thế kỉ 20.

Năm 1652 vị Dalai Lama thứ 5 thăm hoàng đế Mãn Châu, Shunzhi. Dalai Lama thứ 5 cho khởi công việc xây dựng cung điện PotalaLhasa, và dời trung tâm nhà nước về đó từ Drepung.

Cái chết của Dalai Lama thứ 5 vào năm 1680 được giữ bí mật trong 15 năm bởi người trợ lý thân cận của ông là Desi Sangay Gyatso (De-srid Sangs-rgyas Rgya-'mtsho). Các vị Dalai Lama vẫn là người đứng đầu nhà nước cho đến năm 1959.

Trong thời Dalai Lama thứ 5, những người châu Âu đầu tiên ghé Tây Tạng. Hai nhà truyền giáo Jesuit, Johannes GruberAlbert D'Orville, tới Lhasa vào năm 1661.[cần dẫn nguồn] Họ đã thất bại khi cố gắng chuyển người Tây Tạng sang Thiên Chúa giáo. Các đoàn truyền giáo khác cũng trải qua một thời gian ở Tây Tạng, và cũng không thành công mấy, và tất cả đều bị trục xuất vào năm 1745.

Đến cuối thế kỉ thứ 17th, Tây Tạng xung đột với Bhutan, được ủng hộ bởi Ladakh. Kết quả là sự xâm lăng Ladakh bởi Tây Tạng. Quân Kashmir giúp khôi phục quyền lực của Ladakh với điều kiện một mosque được xây dựng ở Leh và vua Ladakh phải chuyển sang Islam. Hòa ước Temisgam năm 1684 đã giải quyết mâu thuẫn giữa Tây Tạng và Ladakh, nhưng nền độc lập của nước này đã bị giới hạn rõ rệt.Trên thế giới có rất nhiều bàn luận về phật giáo tây tạng rất trái chiều với nhau.

Thế kỉ thứ 18 và 19[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc sống của Dalai Lama thứ 6 chỉ là những ngày tháng vui chơi, uống rượu, cung tần mỹ nữ và các bài hát tình ca. Tuyên bố rằng ông này không xứng đáng là một nhà sư, lãnh đạo Mông Cổ Lha-bzang Khan xâm lược Tây Tạng với sự ủng hộ của Hoàng đế Khang Hy vào năm 1705. Dalai Lama chết không lâu sau đó, có lẽ là bị giết. Người Tạng giận dữ từ chối ứng cử viên Dalai Lama giả mạo mà Lha-bzang mang theo cùng với ông ta và cầu cứu người Mông Cổ xứ Dzungar (hay Oyrat) giúp đỡ. Người Dzungar đánh bại và giết Lha-bzang, nhưng sau đó đánh phá Lhasa và cướp bóc mộ của Dalai Lama thứ 5. Họ ở lại đó cho đến khi bị đoàn quân viễn chinh Trung Quốc đánh đuổi vào năm 1720. Quân Trung Quốc được hoan hô như là quân giải phóng và là bảo trợ của Kelzang Gyatso, người được họ đưa lên như là Dalai Lama thứ 7. Sau khi quân nhà Thanh rút khỏi miền trung Tây Tạng năm 1723, có một giai đoạn nội chiến. Trong khi đó Amdo được công bố là lãnh thổ Trung Quốc với tên Koko Nor (hồ xanh). (Nơi này trở thành tỉnh Thanh Hải vào năm 1929.)

Trung Quốc bắt đầu gửi tới hai đại diện cao cấp, hay còn gọi là amban, đến Lhasa vào năm 1727. Sử gia ủng hộ Trung Quốc cho rằng hiện diện của amban là biểu hiện của quyền lực Trung Quốc, những người ủng hộ Tây Tạng độc lập cho rằng amban tương đương với đại sứ. "Quan hệ giữa Tây Tạng và nhà Thanh là quan hệ thầy tu và người bảo trợ và không dựa trên sự lệ thuộc vào nhau," theo vị Dalai Lama thứ 13.[39]

Pho-lha-nas cai trị Tây Tạng với ủng hộ của Thanh triều vào những năm 1728-1747. Ông ta di chuyển Dalai Lama từ Lhasa đến Litang để làm ông khó ảnh hưởng nhà nước hơn. Sau khi Pho-lha-nas mất, con ông cai trị cho đến khi bị giết bởi amban vào năm 1750. Điều này làm nổi loạn xảy ra và các amban bị giết. Quân đội Trung Quốc tiến vào và khôi phục trật tự trong đất nước. Năm 1751, vua Càn Long ban sắc lệnh 13 điểm bỏ đi vị trí tể tướng (desi), đặt nhà nước Tây Tạng dưới quyền của một hội đồng 4 kashag, hay là hội đồng của 4 quan thượng thư, và chính thức ban quyền lực cho các amban. Vị Dalai Lama trở lại Lhasa để chủ trì nhà nước mới.

Năm 1788 vua NepalRana Bahadur Shah xâm lược Tây Tạng. Không có khả năng đánh bại quân Nepal một mình, Tây Tạng cầu viện nhà Thanh, liên quân Thanh-Tạng đánh bại quân Nepal.

Vua Càn Long thất vọng về kết quả sắc lệnh năm 1751 của ông và khả năng điều hành của các amban.[40] Năm 1792, vua ban một sắc lệnh 29-điểm tăng cường kiểm soát của Trung Quốc lên Tây Tạng. Sắc lệnh này tăng cường quyền lực của các amban, về lý thuyết là đặt họ ngang hàng với Dalai LamaPanchen Lama và trao quyền hành chính, ngoại giao và thương mại cho họ.

Đế quốc Anh buộc Tây Tạng rút khỏi Nepal. Vào thế kỉ 19, quyền lực của nhà Thanh suy giảm. Khi lính Trung Quốc đóng tại Lhasa bắt đầu lơ đễnh nghĩa vụ quân sự, các amban mất đi ảnh hưởng. Sau sự xâm lăng Tây Tạng bởi tướng Zorawar Singh các cuộc chiến tranh nổ ra với vương quốc Jammu thuộc Ấn Độ kết thúc với hòa ước tại Ladakh năm 1841 với Maharaja Gulab Singh.[41] và với Nepal năm 1856[42] mà không có sự can thiệp của Beijing. Hòa ước năm 1856 cho phép thiết lập một phái bộ Nepal tại Lhasa mà sau này cho phép Nepal tuyên bố có quan hệ ngoại giao với Tây Tạng khi xin vào làm thành viên của Liên hiệp quốc năm 1949.[43]

Người Anh can thiệp và chiếm đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Chính quyền Anh ở Ấn Độ lại để ý đến Tây Tạng trong cuối thế kỉ thứ 19, và một số lượng lớn người Ấn Độ đã vào đất nước này, ban đầu như những nhà thám hiểm, và sau đó như là những nhà buôn. Các hòa ước liên quan đến Tây Tạng được ký giữa Vương quốc Anh và Trung Quốc trong năm 1886 [1], 1890 [2], và 1893 [3], nhưng nhà nước Tây Tạng không công nhận [cần dẫn nguồn] và tiếp tục cấm các phái đoàn Anh vào lãnh thổ. Trong suốt "Trò chơi lớn", một giai đoạn tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và Anh, người Anh muốn có một đại diện ở Lhasa để theo dõi và làm giảm đi ảnh hưởng của người Nga. Vào năm 1904, họ gửi một lực lượng quân Ấn Độ dưới quyền chỉ huy của Trung tá Francis Younghusband, mà sau một vài trận đánh đã chiếm được Lhasa. Bộ ngoại giao Trung Quốc lúc đó khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Tạng, tuyên bố như vậy là lần đầu tiên.[44]

Khi đoàn quân Anh đạt tới Lhasa, vị Dalai Lama đã lánh sang UrgaMông Cổ, Younghusband thấy việc quay lại Ấn Độ tay không là không chấp nhận được, ông ta liền đơn phương thảo ra một hiệp ước, và buộc nó phải kí trong điện Potala bởi tể tướng, Ganden Tri Rinpoche, và bất cứ quan chức nhà nước Tây Tạng nào mà ông ta có thể nhóm họp lại như là một nhà nước lâm thời (ad hoc government). Những thượng thư người Tây Tạng mà Younghusband gặp chỉ vừa mới được bổ nhiệm, nhưng điều này Younghusband không hay biết. Những quan thượng thư gốc đã bị cầm tù do nghi ngờ là họ ủng hộ người Anh và sẽ nhượng bộ cho Younghusband.[45]

Một hòa ước được kí kết yêu cầu Tây Tạng mở biên giới với Ấn Độ thuộc Anh, cho phép người Anh và người Ấn du lịch tự do, không đánh thuế hải quan trên thương mại với Ấn Độ, một yêu cầu từ người Anh là Lhasa phải trả 2.5 triệu rupee như tiền bồi thường và không được quan hệ với bất kì nước ngoài nào khác mà không được sự đồng ý của chính quyền Anh.[46]

Hòa ước Anh-Tây Tạng tái khẳng định hòa ước Trung Quốc-Anh vào năm 1906 mà theo đó "Nhà nước của Vương quốc Anh sẽ không tìm cách xâm phạm lãnh thổ Tây Tạng hay can thiệp vào công việc nội bộ của Tây Tạng. Nhà nước Trung Quốc cũng không cho phép bất kì nước ngoài nào xâm phạm lãnh thổ hay can thiệp vào chính quyền nội bộ của Tây Tạng."[47] Hơn thế nữa, Beijing đồng ý trả London 2.5 triệu rupee mà Lhasa buộc phải đồng ý trong hòa ước Anh-Tibet năm 1904.[48] Năm 1907, Anh và Nga đồng ý với những quy luật đã chấp nhận về vấn đề giữa Trung Quốc và Thibet[49][49] Năm 1910, nhà Thanh gửi một đoàn quân viễn chinh đến thiết lập quyền lực của Trung Quốc và hạ ngôi của Dalai Lama theo lệnh triều đình. Vị Dalai Lama một lần nữa phải lánh đi, lần này thì sang Ấn Độ. "Bằng việc tiến vào rồi lại rút ra, chúng ta đã đá ngã ngựa người Tây Tạng và để mặc họ cho người đầu tiên tiến vào đấm đá," Charles Albert Bell, một nhà ngoại giao người Anh đóng tại và là người chỉ trích chính sách của nhà nước do Đảng Tự do Anh đứng đầu, đã viết như vậy.

Quân đội Trung Quốc bị đánh đuổi[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà sư - nhà thám hiểm người Nhật, Ekai Kawaguchi, viết năm 1909, miêu tả Trung Quốc mất đi ảnh hưởng ở Tây Tạng sau chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất 1 tháng 8, 189417 tháng 4, 1895:

"Uy quyền của người Trung Quốc ở mất đi rất đáng kể từ sau chiến tranh Trung-Nhật. Trước sự kiện đó, Trung Quốc thường đối xử Tây Tạng như một bậc bề trên, trong khi Tây Tạng, khiếp sợ trước uy lục của Thiên triều, tuân theo lệnh. Tất cả bây giờ đều thay đổi, và thay vì vâng lời, bây giờ Tây Tạng đối với Trung Quốc có vẻ khó chịu... Người Tây Tạng lắng nghe lời khuyên từ Trung Quốc khi thấy chấp nhận được, nhưng bất cứ lệnh nào không thích thì họ cứ mặc kệ..."
"Tây Tạng có thể nói là bị đe dọa bởi 3 nước - Anh, Nga và Nepal, bởi vì Trung Quốc đối với họ vào thời điểm này là một lục lượng không đáng kể đối với tương lai của họ." [50]

Theo sau cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, quân du kích địa phương người Tây Tạng mở một cuộc tập kích bất ngờ vào đồn lính Trung Quốc đóng tại Tây Tạng. Sau đó quan chức Trung Quốc ở Lhasa buộc phải kí kết "Hiệp định 3 điểm" chấp nhận đầu hàng và rút đi lục lượng đóng tại miền trung Tây Tạng. Đầu năm 1913, vị Dalai Lama quay trở lại Lhasa và ra một bản tuyên cáo phát tán đi toàn cõi Tây Tạng lên án "Ý định xâm chiếm Tây Tạng làm thuộc địa dưới quan hệ nhà bảo trợ - thầy tu", và tuyên bố rằng, "Chúng ta là một nước nhỏ, độc lập, phụng sự tôn giáo."[39]

Tây Tạng và Mông Cổ ký kết một hiệp định vào năm 1913 công nhận độc lập lẫn nhau.[51]

Năm 1913-14, một hội nghị được tổ chức tại Simla giữa Anh, Tây Tạng, và Trung Hoa Dân Quốc. Anh đề nghị chia các khu vực có người Tây Tạng đang sinh sống thành Ngoại và Nội Tây Tạng (trên mô hình một hòa ước trước đó giữa Trung Quốc và Nga đối với Mông Cổ). Ngoại Tây Tạng, xấp xỉ khu vực hiện nay của Khu tự trị Tây Tạng, sẽ là khu tự trị dưới sự bảo hộ của Trung Quốc. Trong khu vực này, Trung Quốc sẽ tránh không "can thiệp vào chính quyền." Trong vùng Nội Tây Tạng, bao gồm phía đông của Kham và Amdo, Lhasa sẽ chỉ còn quyết định những vấn đề có liên quan tới tôn giáo.[52] Vào những năm 1908-18, có một đồn lính Trung Quốc ở Kham và các hoàng tử địa phương phải bị quản lý bởi trưởng đồn.

Trong một phiên đàm phán có mặt đại diện của Tây Tạng, thương thuyết viên chính người Anh là Henry McMahon vẽ một đường trên bản đồ để phân định biên giới Tây Tạng-Ấn Độ. Sau này nhà nước Trung Quốc tuyên bố rằng đường McMahon này đã chuyển một phần lớn lãnh thổ sang Ấn Độ một cách bất hợp pháp. Vùng lãnh thổ tranh chấp này được gọi là Arunachal Pradesh bởi Ấn Độ và Nam Tây Tạng bởi Trung Quốc. Người Anh đã có những thỏa thuận với các thủ lĩnh các bộ tộc địa phương và đã thiết lập Mặt trận đông bắc (Northeast Frontier Tract) để quản lý khu vực này năm 1912. Hiệp định Simla được kí kết bởi cả ba phái đoàn, nhưng bị phủ nhận ngay sau đó bởi Beijing bởi vì họ không bằng lòng với cách vẽ biên giới phân chia khu Ngoại Tây Tạng và Nội Tây Tạng. McMahon và người Tây Tạng sau đó kí bản hiệp định một cách song phương với chú thích rằng sẽ không cho Trung Quốc một quyền lợi nào nếu như họ không chịu kí. Ban đầu thì Nhà nước Ấn Độ bảo hộ bởi Anh phủ nhận hiệp định song phương của McMahon vì nó không tương thích với Hiệp định Anh-Nga năm 1907.[53][54]

Vào năm 1918, Lhasa đã lấy lại được quyền kiểm soát Chamdo và phía tây Kham. Một cuộc ngưng bắn được thiết lập dọc theo biên giới sông Dương Tử (Yangtze). Vào thời điểm đó, nhà nước Tây Tạng kiểm soát toàn bộ Ü-Tsang cũng như xứ Kham phía tây của sông Dương Tử, xấp xỉ cùng với biên giới như Khu tự trị Tây Tạng ngày nay. Phía đông xứ Kham được cai trị bởi các hoàng tử địa phương người Tây Tạng liên minh với các lực lượng khác nhau. Ở Amdo (Thanh Hải), nhóm người Hồi thiểu số và tướng phỉ Ma Bufang ủng hộ Quốc dân Đảng điều khiển khu vực Xining. Phần còn lại của tỉnh được điều khiển bởi dân địa phương.[4]

Trong những thập niên 1920 và 1930 Trung Quốc bị chia cắt bởi nội chiến và sau đó phải lo đối phó với chiến tranh chống Nhật, nhưng không bao giờ từ bỏ ý định khôi phục chủ quyền ở Tây Tạng, và thỉnh thoảng cố gắng vài lần khẳng định điều đó. Trong suốt triều đại của Dalai Lama thứ 13, Beijing không có đại diện nào trên Tây Tạng. Tuy nhiên, năm 1934, sau khi vị Dalai Lama qua đời, Trung Quốc gửi một "phái đoàn chia buồn" đến Lhasa dẫn đầu bởi Tướng Huang Musong.[55] Từ năm 1912 Tây Tạng đã độc lập de facto không bị kiểm soát bởi Trung Quốc, nhưng vài lần họ tỏ ý sẵn lòng chấp nhận như là một phần của Trung Quốc với điều kiện là hệ thống bên trong của người Tây Tạng không bị động chạm vào và Trung Quốc phải từ bỏ quyền cai trị trên một số khu vực quan trọng có người Tây Tạng sinh sống ở Kham và Amdo.[56]

Năm 1938, người Anh cuối cùng cũng cho xuất bản Hiệp định Simla Convention như là một hiệp định song phương và yêu cầu tu viện Tawang, nằm về phía nam của đường McMahon, ngưng đóng thuế cho Lhasa. Để cố gắng sửa lại lịch sử, 1 tập trong toàn tập C.U. Aitchison's A Collection of Treaties, (Sưu tập các loại hiệp định) ban đầu được xuất bản với chú thích rằng không hiệp định có ràng buộc nào đã được kí ở Simla, đã được thu lại từ tất cả các thư viện.[57] Nó được thay thế với một tập mới và bao gồm Hiệp định Simla cùng với chú thích của biên tập nói rằng Tây Tạng và Britain, nhưng không có Trung Quốc, chấp nhận hiệp định là có ràng buộc.[5] Năm 1907 Hòa ước Anh -Nga, ban đầu đã làm Anh nghi vấn giá trị của Simla, đã không được thừa nhận bởi người Nga vào năm 1917 và bởi Nga và Anh vào năm 1921.[58] Tuy nhiên Tây Tạng đã thay đổi quan điểm về Đường McMahon vào thập kỉ 1940. Cuối năm 1947, nhà nước Tây Tạng viết một văn bản cho Bộ Ngoại giao Ấn Độ vừa thành lập tuyên bố chủ quyền các quận Tây Tạng ở phí nam của Đường McMahon.[59] Hơn nữa, bằng cách từ chối kí kết Hiệp định Simla, nhà nước Trung Quốc đã thoát khỏi việc công nhận giá trị của Đường McMahon.[60]

Tây Tạng thiết lập Văn phòng Ngoại giao năm 1942 và năm 1946 họ gửi những phái đoàn chúc mừng đến Trung Quốc và Ấn Độ (nhân dịp Thế chiến thứ 2 kết thúc). Phái đoàn đến Trung Quốc mang theo một lá thư gửi đến Tổng thống Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai-sek) nói rằng, "Chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì nền độc lập của Tây Tạng như là một quốc gia cai quản bởi các vị Dalai Lama nối tiếp nhau thông qua một hệ thống chính trị-tôn giáo thực sự." Phái đoàn đồng ý tham dự một phiên họp Quốc hội Trung Quốc ở Nanjing như là quan sát viên.[61]

Năm 1947-49, Lhasa gửi một "phái đoàn thương mại" dẫn đầu bởi Tsepon (Bộ trưởng Tài chính) W.D. Shakabpa sang Ấn Độ, Hong Kong, Nanjing (khi đó là thủ đô Trung Quốc), Hoa Kỳ, và Anh. Những nước được viếng thăm đã cẩn thận không ủng hộ tuyên bố rằng Tây Tạng là độc lập với Trung Quốc và không bàn luận về các vấn đề chính trị với phái đoàn.[62] Những quan chức của phái đoàn thương mại này vào Trung Quốc thông qua Hong Kong với hộ chiếu Trung Quốc mà họ có được qua Tổng lãnh sự Trung Quốc ở Ấn Độ và lưu lại Trung Quốc trong 3 tháng. Tuy nhiên các nước khác cho phép phái đoàn du hành với hộ chiếu cấp bởi nhà nước Tây Tạng. Hoa Kỳ cũng tiếp đón phái đoàn thương mại một cách không chính thức.

Phái đoàn đã có gặp Thủ tướng Anh Clement AttleeLondon năm 1948.[63]

Chiếm đóng bởi Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đảng cộng sản Trung Quốc đứng đầu bởi Mao Trạch Đông nắm lấy chính quyền tháng 10 đã không mất nhiều thời gian trong việc khẳng định chủ quyền của họ ở Tây Tạng. Năm 1950, Quân đội giải phóng nhân dân tiến vào khu vực Chamdo của Tây Tạng, phá tan sự chống trả của quân đội Tây Tạng không được trang bị nhiều. Năm 1951, đại diện Trung Quốc tại Bắc Kinh đưa cho đại diện Tây Tạng với một Hiệp định 17 điểm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Tạng. Hiệp định được thông qua ở Lhasa vài tháng sau đó.[64]

Ban đầu chính quyền Trung Quốc cố gắng cải tạo hệ thống xã hội và tôn giáo của Tây Tạng ở Ü-Tsang. Phía đông của Kham và Amdo được sát nhập vào các tỉnh Tứ XuyênThanh Hải. Miền tây Kham được đặt dưới quyền Ủy ban Quân sự Chamdo. Trong những khu vực này, cải cách ruộng đất được tiến hành. Những người cộng sản chỉ định các "địa chủ" — đôi lúc được chọn một cách bất kì — để cho công chúng làm nhục trong các "buổi đấu tố".

Người Trung Quốc xây dựng các đường quốc lộ đạt đến Lhasa, và nối tới biên giới Ấn Độ, NepalPakistan. Giới quý tộc và nhà nước Tây Tạng truyền thống vẫn ở chỗ cũ và được bảo trợ bởi nhà nước Trung Quốc. Tuy vậy trong thập niên 1950, chính quyền Trung Quốc bắt đầu đàn áp các Lama, những Lama này thấy rằng quyền lực xã hội và chính trị của họ sẽ dần dần bị phá vỡ bởi cách cai trị của người cộng sản. Trước năm 1959, đất của Tây Tạng được lao động bởi các nông nô đại diện cho đa số dân Tây Tạng.

Đến giữa thập niên 1950 có vài vụ nổi dậy ở vùng đông Kham và Amdo, nơi cải cách ruộng đất đã được tiến hành hoàn toàn. Những cuộc nổi dậy này cuối cùng lan ra phía tây xứ Kham và Ü-Tsang. Năm 1959 (thời gian Đại nhảy vọt ở Trung Quốc), chính quyền Trung Quốc bắt đầu đối xử Dalai Lama, bây giờ đã trưởng thành, một cách không tôn kính một cách công khai. Trong một số phần của nước những người cộng sản Trung Quốc cố gắng thiết lập các khu công xã nông nghiệp như trên toàn bộ Trung Quốc. Những sự kiện này đã làm nổ ra những nổi dậy ở Lhasa, và sau đó một cuộc khởi nghĩa đã xảy ra.

Phong trào kháng chiến của người Tây Tạng bắt đầu với những kháng cự cô lập chống lại Trung Quốc trong thập niên 1950. Ban đầu có nhiều thành công với sự giúp đỡ của CIA và đa số phía nam Tây Tạng rơi vào tay quân khởi nghĩa, nhưng năm 1959 với sự chiếm đóng của Lhasa lực lượng kháng chiến rút lui về Nepal. Các chiến dịch tiếp tục từ Vương quốc Mustang bán độc lập với lực lượng khoảng 2000 người, đa số được huấn luyện tại Trại Hale gần Leadville, Colorado, Hoa Kỳ. Năm 1969, trước ý định làm thân Trung Quốc của Henry Kissinger, sự giúp đỡ kết thúc và nhà nước Nepal đã giải tán chiến dịch. Xem [6].

Kháng cự ở Lhasa bị dập tắt không lâu sau đó, và vị Dalai Lama lánh sang Ấn Độ, mặc dù kháng cự vẫn tiếp tục trong các phần khác của đất nước trong vài năm. Mặc dù bị quản thúc gián tiếp, người Trung Quốc vẫn đặt vị Panchen Lama như là người đứng đầu ở Lhasa, tuyên bố rằng ông là lãnh đạo hợp pháp của Nhà nước Tây Tạng trong sự vắng mặt của vị Dalai Lama, như là người đứng đầu nhà nước Tây Tạng theo truyền thống. Năm 1965, khu vực nằm dưới sự cai quản của nhà nước của vị Dalai Lama từ thập niên 1910 đến năm 1959 (Ü-Tsang và tây xứ Kham) được đặt tên lại là Khu tự trị Tây Tạng. Tự trị cho phép người đứng đầu nhà nước là người Tây Tạng; tuy vậy, quyền lực de facto ở Khu tự trị Tây Tạng nắm trong tay bí thư Đảng cộng sản, người vào năm 2006, vẫn luôn luôn là một người Hán từ ngoài vùng Tây Tạng. Vai trò của người Tây Tạng ở các cấp cao hơn của lãnh đạo đảng cộng sản vẫn rất hạn chế.

Trong giữa thập niên 1960, các khu đất của các tu viện bị chia cắt và giáo dục không tôn giáo được giới thiệu. Trong suốt Cách mạng văn hóa, Hồng vệ binh, bao gồm cả một số người Tây Tạng, đã mở một chiến dịch đập phá có tổ chức các địa điểm văn hóa trên toàn cõi Trung Quốc, bao gồm cả những đền thờ Phật giáo ở Tây Tạng. Trong vài ngàn tu viện ở Tây Tạng, hơn 6.000 đã bị tiêu hủy [7]. Theo một nguồn của Trung Quốc, chỉ một vài tu viện quan trọng về tôn giáo hay văn hóa là vẫn còn mà không bị hư hỏng nặng,[65], và hàng ngàn nhà sư và ni cô Phật giáo bị giết, hành hạ hoặc bỏ tù.[66]

Kể từ 1979 đã có nhiều cải cách kinh tế, nhưng không có cải cách chính trị. Một số chính sách của Trung Quốc ở Tây Tạng được miêu tả là trung hòa, trong khi một số chính sách khác được đánh giá là có tính đàn áp. Đa số các tự do tôn giáo đã được chính thức phục hồi, miễn là các vị Lama không tìm cách đặt câu hỏi về vấn đề cai trị của Trung Quốc, không thừa nhận vị Dalai Lama, và cư trú trong những vùng đã được quy định.

Vào năm 1989 vị Panchen Lama qua đời. Vị Dalai Lama chỉ định Gedhun Choekyi Nyima như là Panchen Lama thứ 11 nhưng không được nhà nước Trung Quốc công nhận, trong khi đó nhà nước Trung Quốc chỉ định một cậu bé khác, Gyancain Norbu. Gyancain Norbu được nuôi lớn ở Bắc Kinh và thỉnh thoảng xuất hiện trên truyền thông nhà nước. Hiện Gedhun Choekyi Nyima và gia đình đang ở đâu không ai biết. Nhiều người tin rằng họ đã bị cầm tù, trong khi Bắc Kinh luôn cho rằng họ đang sống dưới một cái tên bí mật để được bảo vệ sự riêng tư.[8]

Vị Dalai Lama bây giờ đã 71 tuổi, và khi ông qua đời một đứa bé Dalai Lama mới, theo truyền thống, phải được tìm ra. Vào năm 1997, vị Dalai Lama thứ 14 ngỏ ý rằng hóa thân của ông "chắc chắn sẽ không dưới sự kiểm soát của Trung Quốc; sẽ ở bên ngoài, trong thế giới tự do." [9]

Trung Quốc tiếp tục tuyên truyền rằng sự cai trị Tây Tạng của họ là một sự tiến bộ đi từ thời phong kiến Tây Tạng trước năm 1950, và một vài nước thỉnh thoảng vẫn phản đối sự cai trị của Trung Quốc ở Tây Tạng. Vị Dalai Lama được kính trọng như là một lãnh đạo tôn giáo, và được đón tiếp bởi nguyên thủ của nhiều nước.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Van Driem, George "Tibeto-Burman Phylogeny and Prehistory: Languages, Material Culture and Genes".
  2. ^ Bellwood, Peter & Renfrew, Colin (eds) Examining the farming/language dispersal hypothesis (2003), Ch 19.
  3. ^ Beckwith, C. Uni. of Indiana Diss., 1977
  4. ^ Beckwith, Christopher I. The Tibetan Empire in Central Asia. A History of the Struggle for Great Power among Tibetans, Turks, Arabs, and Chinese during the Early Middle Ages, 1987, Princeton: Princeton University Press. ISBN 0-691-02469-3, p. 17.
  5. ^ Beckwith, Christopher I. 1987. The Tibetan Empire in Central Asia: A History of the Struggle for Great Power among Tibetans, Turks, Arabs, and Chinese during the Early Middle Ages. Princeton University Press. ISBN 0-691-02469-3, pp. 19-20 (OTC, vi).
  6. ^ Old Tibetan Annals, hereafter OTA l. 2
  7. ^ OTA l. 4-5
  8. ^ a ă Richardson, Hugh E. (1965). "How Old was Srong Brtsan Sgampo," Bulletin of Tibetology 2.1. pp. 5-8.
  9. ^ a ă OTA l. 8-10
  10. ^ OTA l. 607
  11. ^ a ă Beckwith, Christopher I. The Tibetan Empire in Central Asia. A History of the Struggle for Great Power among Tibetans, Turks, Arabs, and Chinese during the Early Middle Ages, 1987, Princeton: Princeton University Press. ISBN 0-691-02469-3, p. 14, 48, 50.
  12. ^ Beckwith 1987: 50
  13. ^ a ă â b c Petech, Luciano (1988). "The Succession to the Tibetan Throne in 704-5." Orientalia Iosephi Tucci Memoriae Dicata, Serie Orientale Roma 41.3. pp. 1080-1087.
  14. ^ Beckwith, C. I. "The Revolt of 755 in Tibet", p. 5 note 10. In: Weiner Studien zur Tibetologie und Buddhismuskunde. Nos. 10-11. [Ernst Steinkellner and Helmut Tauscher, eds. Proceedings of the Csoma de Kőrös Symposium Held at Velm-Vienna, Austria, 13-19 tháng 9 năm 1981. Vols. 1-2.] Vienna, 1983.
  15. ^ Beckwith, C. I. "The Revolt of 755 in Tibet", pp. 1-14. In: Weiner Studien zur Tibetologie und Buddhismuskunde. Nos. 10-11. [Ernst Steinkellner and Helmut Tauscher, eds. Proceedings of the Csoma de Kőrös Symposium Held at Velm-Vienna, Austria, 13-19 tháng 9 năm 1981. Vols. 1-2.] Vienna, 1983.
  16. ^ Yamaguchi 1996: 232
  17. ^ Beckwith 1983: 276.
  18. ^ Stein, R. A. (1972) Tibetan Civilization, pp. 62-63. Stanford University Press. ISBN 0-8047-0806-1 (cloth); ISBN 0-8047-0901-7 (pbk)
  19. ^ Beckwith 1983: 273
  20. ^ Stein, R. A. (1972) Tibetan Civilization, p. 66. Stanford University Press. ISBN 0-8047-0806-1 (cloth); ISBN 0-8047-0901-7 (pbk)
  21. ^ Beckwith 1987: 144-157.
  22. ^ Palmer, Martin, The Jesus Sutras, Mackays Limited, Chatham, Kent, Great Britain, 2001)
  23. ^ Hunter, Erica, "The Church of the East in Central Asia," Bulletin of the John Rylands University Library of Manchester, 78, no.3 (1996)
  24. ^ Beckwith, Tibetan, pp 157-165
  25. ^ a ă Shakabpa, Tsepon W. D. (1967). Tibet: A Political History, pp. 49-50. Yale University Press, New Haven & London.
  26. ^ Ancient Tibet: Research Materials from the Yeshe De Project (1986), pp. 296-297. Dharma Publishing, California. ISBN 0-89800-146-3.
  27. ^ Beckwith 1987: 165-167
  28. ^ A Corpus of Early Tibetan Inscriptions. H. E. Richardson. Royal Asiatic Society (1985), pp. 106-143. ISBN 0-94759300/4.
  29. ^ Shakabpa, Tsepon W. D. (1967). Tibet: A Political History, p. 51. Yale University Press, New Haven & London.
  30. ^ Beckwith, Christopher I. 1987. The Tibetan empire in Central Asia: A History of the Struggle for Great Power among Tibetans, Turks, Arabs, and Chinese during the Early Middle Ages. Princeton University Press, pp. 168-169. ISBN 0-691-02469-3.
  31. ^ Shakabpa, p. 54.
  32. ^ Tsepon W. D. Shakabpa, Tibet, a Political Hstory (New Haven: Yale, 1967), 53.
  33. ^ Petech, L. The Kingdom of Ladakh. (Serie Orientale Roma 51) Rome: Instituto Italiano per il Medio ed Estremo Oriente, 1977: 14-16
  34. ^ Hoffman, Helmut, "Early and Medieval Tibet", in Sinor, David, ed., Cambridge History of Early Inner Asia Cambridge: Cambridge University Press, 1990), 388, 394. Shakabpa, 56.
  35. ^ Grunfeld, A. Tom, The Making of Modern Tibet, 1996, p37-38. Hoffman, 393. Shakabpa, 54-55.
  36. ^ Petech, L. Central Tibet and The Mongols. (Serie Orientale Roma 65). Rome: Instituto Italiano per il Medio ed Estremo Oriente 1990: 6. Shakabpa, 61.
  37. ^ Wylie, Turnell V. (1977) "The First Mongol Conquest of Tibet Reinterpreted," Harvard Journal of Asiatic Studies 37.1: 103-133.
  38. ^ Petech, L. Central Tibet and The Mongols. (Serie Orientale Roma 65). Rome: Instituto Italiano per il Medio ed Estremo Oriente 1990: 85-143
  39. ^ a ă "Proclamation Issued by His Holiness the Dalai Lama XIII (1913)"
  40. ^ Wang Lixiong, "Reflections on Tibet", New Left Review 14, March-tháng 4 năm 2002
  41. ^ "Ladakhi Letter of Agreement (1842)"
  42. ^ "Treaty Between Tibet and Nepal (1856)"
  43. ^ Walt van Praag, Michael C. van. The Status of Tibet: History, Rights and Prospects in International Law, Boulder, 1987, pp. 139-40
  44. ^ Walt van Praag, Michael C. van. The Status of Tibet: History, Rights and Prospects in International Law, Boulder, 1987, p. 37.
  45. ^ Grunfeld, A. Tom, The Making of Modern Tibet. ISBN 1-56324-713-5, p57
  46. ^ Convention Between Great Britain and Thibet (1904)
  47. ^ Convention Between Great Britain and China Respecting Tibet (1906)
  48. ^ Melvyn C. Goldstein,Tibet, China and the United States: Reflections on the Tibet Question., 1995
  49. ^ a ă Convention Between Great Britain and Russia (1907)
  50. ^ Ekai Kawaguchi. Three Years in Tibet (1909), pp. 519 and 526. Reprint: Book Faith India, Delhi (1995). ISBN 81-7303-036-7.
  51. ^ There was not, at the time, nor has there been since, any official publication of the treaty's text by either party. Moreover, a Tibetan official pointed out years later that "[t]here [was] no need for a treaty, we would always help each other if we could." Bell, Charles, Tibet and Her Neighbours, 1937, pp. 435-436; For the English text, please see Michael C. Van Praag, The Status of Tibet, pp. 320-321. According to his British advisor Charles Bell, the 13th Dalai Lama denied the existence of such a treaty. The Tibetan leader told Bell that he has never ratified, or appointed any plenipotentiary to sign, any treaty with Mongolia. Bell, Charles, Tibet Past and Present, 1924, p. 151
  52. ^ "Convention Between Great Britain, China, and Tibet, Simla (1914)"
  53. ^ Goldstein, 1989, p80
  54. ^ "Convention Between Great Britain and Russia (1907)"
  55. ^ “Republic of China (1912-1949)”. China's Tibet: Facts & Figures 2002. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2006. 
  56. ^ Goldstein, 1989, p. 241
  57. ^ Lin, Hsiao-Ting, "Boundary, sovereignty, and imagination: Reconsidering the frontier disputes between British India and Republican China, 1914-47", The Journal of Imperial & Commonwealth History, tháng 9 năm 2004, 32, (3).
  58. ^ Free Tibet Campaign, "Tibet Facts No.17: British Relations with Tibet".
  59. ^ Lamb, Alastair, The McMahon line: a study in the relations between India, China and Tibet, 1904 to 1914, London, 1966, p580
  60. ^ Lamb, 1966, p529
  61. ^ Smith, Daniel, "Self-Determination in Tibet: The Politics of Remedies".
  62. ^ Goldstein, 1989, p578, p592, p604
  63. ^ Farrington, Anthony, "Britain, China, and Tibet, 1904-1950".
  64. ^ Goldstein, Melvyn C., A History of Modern Tibet, 1913-1951, University of California Press, 1989, pp. 812-813
  65. ^ Jiawei, Wang, "The Historical Status of China's Tibet", 2000, pp212-214
  66. ^ See International Commission of Jurists' reports at

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Beckwith, Christopher I (1983). "The Revolt of 755 in Tibet" Contributions on Tibetan Language, History, and Culture. Ernst Steinkellner and Helmut Tauscher eds. Wiener Studien zur Tibetologie und Buddhismuskunde; Heft 10. Wien: Arbeitskreis für Tibetische und Buddhistische Studien, Universität Wien, pp. 1–16. reprinted in: The History of Tibet. ed. Alex Mckay. London: Routledge Curzon, 2003: 273-285.
  • Beckwith, Christopher I (1987). The Tibetan Empire in Central Asia. A History of the Struggle for Great Power among Tibetans, Turks, Arabs, and Chinese during the Early Middle Ages Princeton: Princeton University Press. ISBN 0-691-02469-3
  • Hilton, Isabel (1999). The Search for the Panchen Lama. New York and London: W. W. Norton and Company. ISBN 0-393-04969-8. 
  • Carrington, Michael. "Officers Gentlemen and Thieves: The Looting of Monasteries during the 1903/4 Younghusband Mission to Tibet", Modern Asian Studies 37, 1 (2003), PP 81–109.
  • Goldstein, Melvyn C., with the help of Gelek Rimpche. A History of Modern Tibet, 1913-1951: The Demise of the Lamaist State, Munshiram Manoharlal Publishers (1993), hardcover, 898 pages, ISBN 81-215-0582-8; University of California edition (1991), trade paperback, ISBN 0-520-07590-0.
  • Norbu, Thubten Jigme and Turnbull, Colin. 1968. Tibet: Its History, Religion and People. Reprint: Penguin Books, 1987.
  • Petech, Luciano (1988). "The Succession to the Tibetan Throne in 704-5." Orientalia Iosephi Tucci Memoriae Dicata, Serie Orientale Roma 41.3. pp. 1080-1087.
  • Richardson, Hugh E. (1965). "How Old was Srong Brtsan Sgampo" Bulletin of Tibetology 2.1. pp. 5-8.
  • Richardson, Hugh E. (1988) "The Succession to Lang Darma". Orientalia Iosephi Tucci Memoriae Dicata, Serie Orientale Roma 41.3. pp. 1221-1229
  • Shakya, Tsering,The Dragon in the Land of Snows: A History of Modern Tibet Since 1947 Penguin, (2000) paperback, 608 pages, ISBN 0-14-019615-3.
  • Stein, R. A. (1961). Les tribus anciennes des marches Sino-Tibétaines: légends, classifications et histoire. Presses Universitaires de France, Paris. (In French)
  • Stein, R. A. 1962. Tibetan Civilization. First published in French. English translation by J. E. Stapelton Driver. Reprint: Stanford University Press (with minor revisions from 1977 Faber & Faber edition), 1995. ISBN 0-8047-0806-1 (hbk); ISBN 0-8047-0901-7 (sbk).
  • Wang Jiawei; Nyima Gyaincain (1997). The Historical Status of China's Tibet. China Intercontinental Press. ISBN 7-80113-304-8. 
  • Wylie, Turnell V. (1977) "The First Mongol Conquest of Tibet Reinterpreted" Harvard Journal of Asiatic Studies 37.1: 103-133.
  • Yeshe De Project. 1986. ANCIENT TIBET: Research Materials from The Yeshe De Project. Dharma Publishing. Berkeley. ISBN 0-89800-146-3
  • Zuiho Yamaguchi (1996) "The Fiction of King Dar-ma’s persecution of Buddhism" De Dunhuang au Japon: Etudes chinoises et bouddhiques offertes à Michel Soymié. Genève: Librarie Droz S.A.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Tạng