Công chúa Văn Thành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tùng Tán Cán Bố (giữa), Đệ nhất Vương hậu Xích Tôn công chúa (trái) và Đệ nhị Vương hậu Văn Thành công chúa (phải)

Văn Thành công chúa (chữ Hán: 文成公主, 623 - 1 tháng 11, 680[1]), được biết đến tại Thổ Phồn với tên gọi Giáp Mộc Tát Hán công chúa (甲木薩漢公主)[2], là một công chúa nhà Đường, cháu gái của hoàng đế Đường Thái Tông Lý Thế Dân.

Công chúa sau trở thành Vương hậu thứ 2 của Tán phổ Tùng Tán Cán Bố của Thổ Phồn. Là một cuộc hôn nhân quốc gia mang tính chất chính trị nhưng có thể coi là thành công do hòa bình giữa Trung Quốc và Thổ Phồn đã được duy trì cho tới hết thời kỳ trị vì của Tùng Tán Cán Bố.

Công chúa là một đệ tử của Phật giáo và cùng với Vương hậu thứ nhất của Tùng Tán Cán Bố là công chúa Nepal, Xích Tôn công chúa (尺尊公主), được cho là những người đã đưa Phật giáo vào Tây Tạng[3].

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Di sản của công chúa Văn Thành và Bhrikuti Devichùa Jokhang (chùa Đại Chiêu) tại Tây Tạng—bắt đầu như là nơi đặt tượng Phật mà mỗi cô dâu mang theo mình như là của hồi môn.

Năm 634, Trinh Quán năm thứ 8, Tùng Tán Cán Bố cử sứ thần đến Trường An tiếp kiến Đường Thái Tông, ông đề nghị (sử liệu Tây Tạng viết là yêu cầu)[4] cưới một công chúa nhà Đường và bị cự tuyệt. Do lúc đó quốc vương Thổ Cốc HồnNặc Hạt Bát (諾曷缽) đến kinh đô triều kiến, sứ thần trở về tâu với Tùng Tán Cán Bố là hôn ước bị cự tuyệt là do sự can thiệp từ Thổ Cốc Hồn. Vương quốc Thổ Cốc Hồn được lập nên bởi người Azha, những người sinh sống quanh hồ Koko Nor (ngày nay trong địa phận tỉnh Thanh Hải), dọc theo con đường tơ lụa từ Trung Quốc. Tùng Tán Cán Bố nổi giận, đem quân tấn công Thổ Cốc Hồn.

Trong giai đoạn khoảng năm (635-636), quân đội của vua Thổ Phồn tấn công và đánh bại Thổ Cốc Hồn và tiến tới Tùng Châu (nay là Tùng Phan, A Bá, Tứ Xuyên). Theo Tư trị thông giám, quân đội nhà Đường do Hầu Quân Tập (侯君集) và Ngưu Tiến Đạt (牛进达) chỉ huy đã đánh bại quân Thổ Phồn tại đây[5]. Sau chiến dịch chinh phạt Thổ Phồn của Đường Thái Tông giai đoạn 635-638 thì hoàng đế Thái Tông đã đồng ý (theo sử liệu Tây Tạng là bị ép buộc)[4] gả một công chúa cho Tùng Tán Cán Bố như một phần trong hòa ước Đường-Thổ Phồn.

Cuối năm 640, Tùng Tán Cán Bố sai Lộc Đông Tán (祿東贊) dẫn đầu đoàn sứ thần tới cầu hôn. Đoàn sứ thần cầu hôn đem theo lễ vật là 5.000 lạng vàng cùng trăm món bảo vật trân quý. Đường Thái Tông đã tổ chức đón tiếp sứ đoàn tại Trường An và chấp nhận gả Văn Thành công chúa cho Tùng Tán Cán Bố, theo lời cầu hôn của vị Tán phổ này, trong khi công chúa mới chỉ 17 tuổi. Sự kiện này đánh dấu son cho việc bang giao chính thức giữa Tây Tạng và Đại Đường thời bấy giờ, bởi vì các hoàng đế Trung Hoa thường xem việc gả công chúa sang các nước ngoại bang là một trong những hình thức kết thân với họ.

Năm 641, Giang Hạ quận vương kiêm thượng thư Lễ bộ Lý Đạo Tông (李道宗) đã hộ tống công chúa tới Thổ Phồn. Tùng Tán Cán Bố từ Lhasa tới khu vực Bách Hải (nay là khu vực quanh các hồ như hồ Ngạc Lăng, hồ Trát Lăng trong tỉnh Thanh Hải) nghênh đón. Nhà Đường phong cho Tùng Tán Cán Bố làm Phò mã đô úy, Tây Hải quận vương (西海郡王). Đường Thái Tông còn trao tặng Tùng Tán Cán Bố một bức tượng Phật Thích Ca Mầu Ni bằng vàng ròng, rất nhiều của cải quý báu và 360 quyển kinh thư - kinh điển, như là của hồi môn của công chúa. Tùng Tán Cán Bố đã cho xây dựng chùa Đại Chiêu làm nơi đặt và thờ phụng tượng Phật Thích Ca này.

Năm 680, công chúa mắc bệnh và mất tại Lhasa[6]. Công chúa sống một cuộc đời cô độc và qua đời ở độ tuổi 57.

Tầm quan trọng văn hóa của cuộc hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Văn Thành công chúa luôn được người dân Trung Hoa nhắc đến với một sự tôn trọngkính nể rất lớn, từng ấy tuổi mà bà phải xa quê hương, qua xứ Tây Tạng xa xôi mà không được một lần về thăm quê. Có thể nói Văn Thành công chúa chỉ khác những cô gái Trung Hoa khác là từ nhỏ bà được sống trong nhung lụa nhưng giống họ ở chỗ là không thể tự quyết định chuyện yêu đương tình cảm của mình mà phải do người khác định đoạt.

Các truyền thuyết về Songtsän Gampo (Tùng Tán Cán Bố) và người vợ Trung Hoa của ông, Văn Thành công chúa, xuất hiện trong thời kỳ Trung cổ đã dựng lên một hình ảnh Songtsän Gampo như là một vị anh hùng dân tộc của người Tạng, dựa trên cuộc hôn nhân của ông[7]. Người ta cho rằng những cuộc hôn nhân quốc gia của ông với công chúa Nepal Bhrikuti Devi và công chúa Trung Hoa Văn Thành đã đưa Phật giáo vào Tây Tạng, và xa hơn nữa, là mối quan hệ phức tạp của họ như những bà vợ cả vợ lẽ đã dẫn tới việc xây chùa Jokang (chùa Đại Chiêu) tại Lhasa. Những câu chuyện như thế xuất hiện trong các tiểu thuyết trung cổ như Mani-bka'-'bum và trong các biên niên sử như Rgyal-rabs Gsal-ba'i Me-long.

Một số nguồn sử liệu Trung Hoa cho rằng công chúa Văn Thành là người đã đưa văn hóa Trung Hoa tới Tây Tạng như việc Songtsän Gampo cho con cháu quý tộc tới Trường An học tập thi thư hay ra lệnh bãi bỏ việc dùng bùn đỏ bôi lên mặt v.v, nhưng các sử liệu Tây Tạng khong chứng thực cho điều này[8].

Chùa Changzhug (chùa Xương Châu) tại huyện Nãi Đông (địa khu Sơn Nam, khu tự trị Tây Tạng) cũng gắn liền với công chúa Văn Thành. Một bức tranh thêu (thangka) của bà được lưu giữ trong một điện thờ tại chùa này.

Người Tây Tạng xem bà như là hóa thân của Lục Độ mẫu.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tư trị thông giám, quyển 202.
  2. ^ Dowman Keith. The Power-places of Central Tibet: The Pilgrim's Guide (1988) Routledge & Kegan Paul, London và New York. ISBN 0-7102-1370-0, trang 41.
  3. ^ Laird Thomas. The Story of Tibet: Conversations with the Dalai Lama (2006), Nhà in Grove, New York. ISBN 978-0-8021-1827-1, trang 35
  4. ^ a ă Powers John. History as Propaganda: Tibetan Exiles versus the People's Republic of China (2004), Nhà in Đại học Oxford. ISBN 978-0-19-517426-7, trang 168-169
  5. ^ Quyển 195: Kỷ nhà Đường, 11. Thái Tông văn võ Đại thánh Đại quảng Hiếu hoàng đế
  6. ^ "Vu điền giáo pháp sử" (于闐教法史) viết rằng: 文成公主沾染黑痘之症, 痘毒攻心而死. (Văn Thành công chúa tiêm nhiễm chứng hắc đậu, độc tố đậu chạy vào tim mà chết)
  7. ^ Chùa Đại Chiêu
  8. ^ Powers John. History as Propaganda: Tibetan Exiles versus the People's Republic of China (2004), Nhà in Đại học Oxford. ISBN 978-0-19-517426-7, trang 30-38.