Ngari

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại khu Ngari thuộc Khu tự trị Tây Tạng

Ngari (Tạng: མངའ་རིས་ས་ཁུལ་; Wylie: mnga' ris sa khul; Trung văn giản thể: 阿里地区; phồn thể: 阿里地區; bính âm: Ālǐ Dìqū; Hán Việt: A Lý địa khu) là một đơn vị hành chính của Khu tự trị Tây Tạng, Trung Quốc. Thủ phủ là huyện Gar. Trung tâm hành chính của địa khu đặt tại trấn Purang. Trấn lớn nhất là Ali. Địa khu Ngari bao gồm một số phần ciủa khu vực Aksai Chin là nơi mà Ấn Độ cũng tuyên bố chủ quyền nhưng hiện do Trung Quốc quản lý. Quốc lộ Thanh Tạng (新藏公路) đi qua địa bàn địa khu. Địa khu có một di cỉ văn hóa từ thời tiền sử gần Rutog.

Ngari từng là trung tâm của vương quốc Tạng cổ Guge. Sau đó Ngari, cùng với ÜTsang tạo thành Ü-Tsang, một tỉnh truyền thống của Tây Tạng, các tỉnh khác là AmdoKham.

Ngari có cao độ 4.500 mét so với mực nước biển và nằm ở tây bắc của Tây Tạng, các Lhasa 1.600 km. Sân bay Gunsa bắt đầu hoạt động từ ngày tháng 7, 2010, và trở thành sân bay nội địa thứ tư tại khu tự trị. Các sân bay khác là Gonggar tại Lhasa, Bamda tại Qamdo và sân bay Nyingchi Airport. [1]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ
Ali mcp.png
# Tên Hán tự Bính âm Hán Việt Tạng văn Wylie Dân số (ước tính 2003) Diện tích (km²) Mật độ (/km²)
1 Gar 噶尔县 Gá'ěr Xiàn Cát Nhĩ huyện སྒར་རྫོང་ sgar rdzong 10.000 13.179 1
2 Burang 普兰县 Pǔlán Xiàn Phổ Lan huyện སྤུ་ཧྲེང་རྫོང་ spu hreng rdzong 10.000 24.602 0
3 Zanda 札达县 Zhádá Xiàn Trát Đạt རྩ་མདའ་རྫོང་ rtsa mda' rdzong 10.000 18.083 1
4 Rutog 日土县 Rìtǔ Xiàn Nhật Thổ huyện རུ་ཐོག་རྫོང་ ru thog rdzong 10.000 77.096 <1
5 Gê'gyai 革吉县 Géjí Xiàn Cách Cát huyện དགེ་རྒྱས་རྫོང་ dge rgyas rdzong 10.000 46.117 <1
6 Gêrzê 改则县 Gǎizé Xiàn Cải Tắc huyện སྒེར་རྩེ་རྫོང་ sger rtse rdzong 20.000 135.025 <1
7 Coqên 措勤县 Cuòqín Xiàn Thố Cần huyện མཚོ་ཆེན་རྫོང་ mtsho chen rdzong 10.000 22.980 <1

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bellezza, John Vincent: Zhang Zhung. Foundations of Civilization in Tibet. A Historical and Ethnoarchaeological Study of the Monuments, Rock Art, Texts, and Oral Tradition of the Ancient Tibetan Upland. Denkschriften der phil.-hist. Klasse 368. Beitraege zur Kultur- und Geistesgeschichte Asiens 61, Verlag der Oesterreichischen Akademie der Wissenschaften, Wien 2008.
  • Zeisler, Bettina. (2010). "East of the Moon and West of the Sun? Approaches to a Land with Many Names, North of Ancient India and South of Khotan." In: The Tibet Journal, Special issue. Autumn 2009 vol XXXIV n. 3-Summer 2010 vol XXXV n. 2. "The Earth Ox Papers", edited by Roberto Vitali, pp. 371–463.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 32°30′0″B 80°06′5″Đ / 32,5°B 80,10139°Đ / 32.50000; 80.10139