Lịch sử Ấn Độ
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lịch sử Ấn Độ bắt đầu với thời kỳ Văn minh lưu vực sông Ấn Độ, một nền văn minh phát triển hưng thịnh tại phần Tây Bắc tiểu lục địa Ấn Độ từ năm 3300 đến 1700 trước công nguyên. Nền văn minh thời đại đồ đá này được nối tiếp bởi thời đại đồ sắt thuộc thời kỳ Vedic, thời kỳ đã chứng kiến sự nở rộ của những vương quốc lớn được biết đến với cái tên Mahajanapadas. Trong hai giai đoạn này, vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, Mahavira và Gautama Buddha(Tiếng Việt: Thích-ca Mâu-ni) ra đời.
Tiểu lục địa được thống nhất dưới thời đế chế Maurya trong suốt thế kỷ thứ 4 và thứ 3 trước công nguyên. Sau đó nó lại tan vỡ và rất nhiều phần bị thống trị bởi vô số những vương quốc thời Trung Cổ trong hơn 10 thế kỷ tiếp theo. Những phần phía Bắc được tái hợp một lần nữa vào thế kỷ thứ 4 sau công nguyên và duy trì được sự thống nhất này trong hai thế kỷ tiếp theo, dưới thời của đế chế Gupta. Đây được coi là thời kỳ hoàng kim của Ấn Độ. Trong suốt giai đoạn cùng thời, và vài thế kỷ sau đó, Ấn Độ bị thống trị bởi Chalukyas, Cholas, Pallavas và Pandyas, và trải qua giai đoạn vàng son của mỗi thời kỳ. Cũng trong thời điểm này, đạo Hindu và đạo Phật lan tỏa tới rất nhiều vùng tại Đông Nam Á.
Đạo hồi du nhập vào đầu thế kỷ thứ 8 sau công nguyên cùng với sự xâm lược Baluchistan và Sindh của Muhammad bin Qasim. Những sự xâm lấn của đạo Hồi từ Trung Á giữa thế kỷ thứ 10 và 15 sau công nguyên dẫn đến việc phần lớn Bắc Ấn Độ chịu sự thống trị của Delhi Sultanate giai đoạn đầu và sau đó là Mughals (Mông Cổ). Sự thống trị của đế chế Mughal (Mông Cổ), đế chế đã mở ra giai đoạn của thời kỳ thăng hoa và phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật và kiến trúc, đã bao phủ phần lớn phía Bắc tiểu lục địa. Tuy nhiên, một vài quốc gia độc lập, như đế chế Maratha và đế chế Vijayanagara, cũng phát triển hưng thịnh trong cùng giai đoạn tại phía Tây và Bắc Ấn Độ. Mở đầu giai đoạn giữa thế kỷ 18 và hơn một thế kỷ sau đó, Ấn Độ dần dần bị công ty Đông Ấn Anh Quốc (British East India Company) thôn tính. Nỗi bất mãn với sự cai trị của công ty này đã dấn đến cuộc nổi loạn Ấn Độ 1857, sau đó thì Ấn Độ được điều hành trực tiếp bởi Hoàng Gia Anh Quốc (British Crown) cũng như chứng kiến thời kỳ phát triển mạnh mẽ về cơ sở vật chất cũng như sự suy thoái về kinh tế.
Trong suốt nửa đầu thế kỷ 20, cuộc đấu tranh độc lập toàn quốc được khởi xướng bởi đảng Quốc Đại Ấn Độ (Indian National Congress), sau đó được kết hợp bởi đảng liên đoàn Hồi Giáo. Tiểu lục địa dành được độc lập từ vương quốc Anh năm 1947 sau khi bị chia cắt thành hai quốc gia Ấn Độ và Pakistan. Cánh phía Đông của Pakistan sau đó trở thành quốc gia Bangladesh năm 1971.
Mục lục |
[sửa] Thời tiền sử
Những di vật riêng rẽ của người vượn đứng thẳng tại Hathnora, thuộc lưu vực Narmada tại Trung Ấn chứng tỏ rằng Ấn Độ đã có người định cư ít nhất từ thời trung kỷ pleitoxen, độ khoảng 200,000 đến 500,000 năm trước. Thời kỳ đồ đá giữa tại tiểu lục địa Ấn Độ bao phủ một khoảng thời gian độ 250,000, bắt đầu khoảng 300,000 năm trước. Con người hiện đại có vẻ đã định cư ở tiểu lục địa trước giao đoạn cuối của kỷ Băng Hà cuối cùng, khoảng chừng 12,000 năm trước. Những sự định cư lâu dài đầu tiên được xác nhận xuất hiện 9,000 năm trước tại hang đá Bhimbetka, thuộc tỉnh Madhya Pradesh ngày nay. Sự khám phá ra Mehrgarh (7000 năm trước công nguyên trở về trước) là biểu tưởng của văn hóa thời đầu đồ đá mới, nó thuộc tỉnh Balochistan của Pakistan ngày nay. Những dấu tích của văn hóa của một thời kỳ đồ đá mới đã được tìm thấy dưới vịnh Khambat, khảo sát niên đại bằng Carbon xác định vào khoảng năm 7500 trước công nguyên. Văn hóa cuối thời kỳ đồ đá mới xuất hiện ở vùng lưu vực sông Ấn giữa giai đoạn năm 6000 và 2000 trước công nguyên và tại vùng Nam Ấn giữa giai đoạn năm 2800 và 1200 trước công nguyên.
[sửa] Thời kỳ đồ đồng
Thời kỳ đồ đồng tại tiểu lục địa Ấn Độ bắt đầu khoảng năm 3300 trước công nguyên với sự mở đầu của văn minh lưu vực sông Ấn. Dân cư tại lưu vực sông Ấn cổ đại, người Harappans, phát triển những kỹ nghệ trong luyện kim, sản xuất đồng đỏ, đồng, chì và thiếc.
[sửa] Văn minh lưu vực sông Ấn Độ
Văn minh lưu vực sông Ấn, nền văn minh phát triển rực rỡ giai đoạn 2600 đến 1900 trước công nguyên, bao gồm các trung tâm đô thị như Harappa và Mohenjo-daro (tại Pakistan), đánh dầu thời kỳ mở đầu của văn minh đô thị tại tiểu lục địa Ấn Độ. Nó nằm ở trung tâm sông Ấn và các nhánh sông, và mở rộng tới lưu vực sông Ghaggar-Hakra, sông Ganges-Yamuna Doab, Gujarat, và phía Bắc Afghanistan.
Nền văn minh này nổi bật với việc xây dựng các thành phố bằng gạch, hệ thống cống rãnh thoát nước và những tòa nhà nhiều tầng. Giữa những khu định cư là những trung tâm đô thị lớn như Harappa và Mohenjo-daro, cũng như Dholavira, Ganweriwala, Lothal, Kalibanga và Rakhigarhi. Có giả thuyết cho rằng các xáo trộn địa chất cũng như những thay đổi về khí hậu mà hậu quả dẫn đến sự phá rừng chính là nguyên nhân dẫn đến sự suy sụp của nền văn minh này. Sự suy thoái của nền văn minh sông Ấn cũng bao gồm sự đổ vỡ của xã hội đô thị tại Ấn Độ, cũng như các đặc trưng của đô thị như sự sử dụng chữ viết và seals.
[sửa] Thời kỳ Vedic
Văn hóa Vedic là văn hóa Indo-Aryans có liên kết với Vedas, một trong những văn bản chữ viết cổ nhất còn tồn tại, được soạn truyền miệng bằng tiếng Vedic Sanskrit. Nó kéo dài từ khoảng năm 1500 đến năm 500 trước công nguyên. Lối giao tiếp (nói) chính thống, trong 500 năm đầu tiên (1500 - 1000 trước CN) của thời kỳ Vedic tương tự với thời kỳ đồ đồng Ấn Độ, và trong 500 năm tiếp theo (1000 - 500 trước CN) thì tương tự với thời kỳ đồ sắt Ấn Độ. Rất nhiều học giả ngày nay đặt giả thuyết rằng đã có một sự di cư của người Indo-Aryan vào Ấn Độ và cho rằng những bộ tộc nói tiếng Indo-Aryan thời đầu di cư vào phần Tây Bắc của tiểu lục địa vào đầu thiên niên kỷ thứ 2 trước công nguyên. Phần lớn các học giả cho rằng các bộ tộc Indo-Aryan này có nguồn gốc từ Iran, Kurdistan và Anatolia, những nơi mà họ di cư qua phía đông vào Ấn Độ, qua phía Tây vào Châu Âu, vượt qua những người Châu Âu bản địa phương Bắc rồi đồng hóa với người bản địa tại các vùng họ di cư tới, đồng thời phát tán văn hóa và ngôn ngữ của họ tại đó.
Xã hội đầu thời Vedic bao gồm những bộ tộc dân du mục thảo nguyên bởi giai đoạn đô thị hóa muộn màng bị bỏ rơi bởi những lý do không được biết đến.
Sau Rigveda, xã hội Aryan ngày càng trở thành một xã hội nông nghiệp, nó được tổ chức xung quanh bốn Varnas. Bổ sung cho các tài liệu của Ấn Độ giáo (the Vedas), những thiên anh hùng ca (như Ramayana và Mahabharata) được cho rằng có nguồn gốc từ thời kỳ này. Sự xuất hiện của người Indo-Aryan thời đầu, cũng khớp với sự xuất hiện của đồ gốm làm bằng đất màu phát hiện tại các di chỉ khảo cổ. Vương quốc của bộ tộc Karus, được cho rằng là sự khởi đầu của văn hóa đồ gốm đen&đỏ cũng như sự bắt đầu của thời kỳ đồ sắt tại Tây Bắc Ấn Độ, khoảng năm 1000 trước công nguyên (cùng thời với sự ra đời của Atharvaveda, văn bản Ấn Độ đầu tiên đề cập đến sắt, như là śyāma ayas, có nghĩa "Kim loại đen"). Văn hóa gốm mỹ nghệ trải rộng rất nhiều vùng Bắc Ấn Độ đã phát triển mạnh mẽ từ khoảng năm 1100 đến 600 trước công nguyên. Thời kỳ sau này cũng tương ứng với một sự thay đổi trong viễn cảnh về hệ thống sinh sống kiểu bộ lạc đã dẫn đến sự thành lập các vương quốc gọi là Mahajanapadas.
[sửa] Thiết lập của Mahajanapadas
Trong thời đại theo sau thời đại Veda, một số vương quốc hay thành phố nhỏ hơn bao khắp tiểu lục địa, được nhắc đến trong văn bản Veda xưa đến năm 1000TCN. Cho tới 600 TCN, 16 vương quốc và 'cộng hòa' được biết đến như là Mahajanapadas — Kasi, Kosala, Anga, Magadha, Vajji (hay Vriji), Malla, Chedi, Vatsa (hay Vamsa), Kuru, Panchala, Machcha (hay Matsya), Surasena, Assaka, Avanti, Gandhara, Kamboja — trải khắp đồng bằng Ấn-Hằng từ vùng bây giờ là Afghanistan cho đến nam cực. Đây là đợt đô thị hóa lớn thứ hai ở Ấn Độ sau văn minh thung lũng Ấn Độ. Nhiều bộ tộc nhỏ hơn được nhắc đến trong các văn bản cổ xưa dường như đã có mặt khắp tiểu lục địa. Một vài vua này là cha truyền con nối, trong khi các thành phố khác bầu lên lãnh đạo của họ. Ngôn ngữ của tầng lớp có giáo dục vào thời điểm đó là Sanskrit, trong khi tiếng nói của đại đa số dân chúng ở phía bắc Ấn Độ được gọi là Prakrit. Mười sáu vương quốc này đã giảm xuống còn bốn vào năm 500 TCN, đó là thời gian của Siddhartha Gautama, có lẽ là do đánh lẫn nhau. Bốn nước còn lại là Vatsa, Avanti, Kosala và Magadha.[1]
[sửa] Cuộc xâm lăng của Ba Tư và Hy Lạp
Phần lớn vùng Tây Bắc tiểu lục địa Ấn Độ (ngày nay thuộc vùng Đông Afghanistan và Pakistan phía Tây sông Ấn) chịu sự thống trị của đế quốc Ba Tư Achaemenid vào năm 520 trước CN trong suốt triều đại của Darius đại đế và vùng đất này bị duy trì sự cai trị trong 2 thế kỷ sau đó. Năm 334 trước CN, Alexander đại đế xâm lược một phần nhỏ Châu Á và đế chế Achaemenid, ông xuống tới tận biên giới Tây Bắc tiểu lục địa Ấn Độ, tại đó ông đánh bại vua Porus trong trận Hydaspes (gần Jhelum ngày nay ở Pakistan) và xâm chiếm phần lớn Punjab. Tuy nhiên, quân đội của Alexander từ chối vượt sông Hyphases (Beas) gần Jalandhar, Punjab. Alexander bỏ rất nhiều chiến binh Macedonia tại các vùng bị xâm chiếm; còn ông thì quay lại và hành quân xuống phía Tây Nam.
Cuộc xâm chiếm của Nam Tư và Hy Lạp đã có những tác động lớn đến nền văn minh Ấn Độ. Hệ thống chính trị của người Nam Tư đã ảnh hưởng tới sự hình thành nền thống trị trên tiểu lục địa trong tương lai, bao gồm sự điều hành của triều đại Mauryan. Thêm vào đó, vùng Gandhara, thuộc Tây Afghanistan và Tây Bắc Pakistan ngày nay, trở thành một nơi pha trộn của văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Á, văn hóa Nam Tư và văn hóa Hy Lạp và đã vươn lên trở thành nền văn hóa lai căng, Phật giáo-Greco, loại hình văn hóa kết hợp giữa đạo Phật và văn hóa Hy Lạp đã duy trì cho đến tận thế kỷ thứ 5 sau CN và có ảnh hưởng đến sự phát triển nghệ thuật của phật giáo Đại Thừa.
| Bài này còn sơ khai. Bạn có thể góp sức viết bổ sung cho bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp để biết thêm về cách sửa đổi bài. |
| Lịch sử châu Á |
|
Lịch sử: Afghanistan | Armenia | Azerbaijan | Bahrain | Bangladesh | Bhutan | Brunei | Campuchia | Trung Quốc (Hồng Kông | Macau) | Đài Loan | Cyprus | Đông Timor | Gaza Strip | Georgia | Ấn Độ | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Nhật Bản | Jordan | Kazakhstan | Bắc Triều Tiên | Hàn Quốc | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Oman | Pakistan | Philippines | Qatar | Nga | Ả Rập Saudi | Singapore | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Thổ Nhĩ Kì | Turkmenistan | Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất | Uzbekistan | Việt Nam | Bờ Tây | Yemen |

