Lịch sử Malaysia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Một phần của loạt bài về
Lịch sử Malaysia
Flag of Malayan Union between 1946 and 1948 Flag of Malaysia
Lịch sử Malaysia
Các vương quốc đầu tiên
Xích Thổ (100 TCN–TK7)
Gangga Negara (TK2–TK11)
Langkasuka (TK2 - TK7)
Bàn Bàn (TK3 – TK6)
Vương quốc Kedah (630-1136)
Srivijaya (TK7 - TK14)
Thời kỳ Hồi giáo ảnh hưởng
Hồi quốc Kedah (1136–TK19)
Hồi quốc Melaka (1402–1511)
Hồi quốc Sulu (1450–1899)
Hồi quốc Kedah (1528–TK19)
Thuộc địa của Châu Âu
Thuộc địa Bồ Đào Nha (1511-1641)
Thuộc địa Anh (1641-1946)
Vương quốc Sarawak (1841–1946)
Bắc đảo Borneo (1882–1963)
Malaysia trong thế chiến 2
Nhật Bản xâm chiếm (1941–1945)
Tiến tới thống nhất và độc lập
Liên hiệp Mã Lai (1946–1948)
Liên bang Mã Lai (1948–1963)
Độc lập (1957)
Liên bang Malaysia (1963–hiện nay)
Portal icon

Thời tiền sử của lãnh thổ bây giờ là Malaysia còn rất ít thông tin, chỉ có một ít hiện vật khảo cổ và tư liệu mơ hồ bằng tiếng Hán cùng các văn bản khác. Tuy vậy, những bằng chứng ấy vẫn cho thấy là một ngàn năm trước công nguyên cả bán đảo Mã Lai và bờ biển bắc Borneo đều là nơi cập bến quan trọng cho các tàu buôn ở trong hệ thống thương mại đường biển nối Đông Nam Á với Trung Đông, Ấn ĐộTrung Hoa. Các thành phố cảng xuất hiện tại bán đảo và ở Borneo giống như đã có ở các nơi khác ở Đông Nam Á, là nơi trú ẩn an toàn, là các cơ sở chuyển hàng và là nơi thu gom hàng hóa có giá trị trong vùng như vàng, thiếc, khoáng sản, gỗ quý, nhựa, lâm sản, đồi mồi và nhất là gia vị

Bán đảo Malay đã phát triển thịnh vượng nhờ vị trí trung tâm của mình trên những con đường thương mại trên biển giữa Trung Quốc, Ấn Độ và Trung Đông. Ngay từ sớm, Ptolemy đã thể hiện trên tấm bản đồ của mình một dấu hiệu được dịch là Bán đảo vàng, Eo Malacca được gọi là Sinus Sabaricus.

Các vương quốc đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Có rất nhiều vương quốc Malay ở thế kỷ thứ 2 và 3, theo các nguồn thông tin Trung Quốc, con số này lên tới 30. Kedah, cũng được gọi là Kedaram hay Kataha, trong tiếng Pallava hay tiếng Phạn cổ là con đường thương mại cũng như xâm lược trực tiếp của các nhà buôn và vua chúa Ấn Độ. Rajendra Chola, hiện được cho là đã khiến Kota Gelanggi bị tàn phá, đã giày xéo Kedah năm 1025 nhưng người kế tục ông, Vir Rajendra Chola, đã tiêu diệt một cuộc nổi dậy Kedah và đuổi quân xâm lược. Sự xuất hiện của Chola khiến tầm ảnh hưởng của Sri vijaya, triều đình đã gây ảnh hưởng trên Kedah và Pattani và thậm chí tới cả Ligor, giảm sút.

Vương quốc Ligor Phật giáo chiếm quyền kiểm soát Kedah một thời gian ngắn sau đó, và vị vua Chandrabhanu đã dùng nơi này làm căn cứ tấn công Srilanka ở thế kỷ 11, và thậm chí đã được nhắc tới trên một bản văn khắc đá tại Nagapattinum ở Tamil Nadu và trong biên niên sử Sri Lanka, Mahavamsa. Trong thiên niên kỷ đầu tiên, người dân trên bán đảo Malay đã chấp nhận Hindu giáo và Phật giáo và sử dụng ngôn ngữ tiếng Phạn cho tới khi họ cải theo đạo Hồi, nhưng không trước khi Hindu giáo và Phật giáo và tiếng Phạn lẫn vào trong quan điểm về thế giới của người Malay. Những dấu vết về những ảnh hưởng trong các quan niệm chính trị, cơ cấu xã hội, nghi lễ, ngôn ngữ, nghệ thuật và văn hóa vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Có những thông tin về các vùng khác cổ hơn Kedah, ví dụ vương quốc cổ Ganganegara, quanh Bruas tại Perak, khiến lịch sử Malaysia thậm chí được kéo lùi xa hơn tới tận thời cổ đại. Nếu đó chưa đủ là bằng chứng, một bài thơ Tamil, Pattinapillai, ở thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên, đã miêu tả những hàng hóa từ Kadaram tràn ngập trên những đường phố thủ đô Chola; một vở kịch tiếng Phạn thế kỷ thứ bảy, Kaumudhimahotsva, coi Kedah như Kataha-nagari. Agnipurana cũng đề cập tới một lãnh thổ được gọi là Anda-Kataha với một trong những biên giới được xác định bởi một đỉnh cao, mà các nhà sử học tin là Gunong Jerai. Những câu chuyện trong Katasaritasagaram miêu tả cuộc sống thanh lịch tại Kataha.

Thời kỳ đế chế Srivijaya[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Srivijaya

Tuy vậy, lịch sử Malaysia thường được cho là mở đầu ở bắc Sumatra. Các học giả tin rằng từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 14, vùng Palembang phía nam của Sumatra là tiêu điểm của một đế quốc hàng hải quan trọng, họ gói đấy là đế chế Sri Vijaya, tuy bằng chứng rất rải rác và thiếu thuyết phục. Gần Sri Vijaya còn có một vùng gọi là Melayu, có lẽ là thủ đô và là chiếc nôi của nền văn hóa Mã Lai. Đế chế Sri Vijaya ở thời kỳ đỉnh cao có lẽ đã thống trị nền mậu dịch của phần lớn Sumatra, bán đảo Mã Lai, tây Java và tây Borneo. Nó được sự hỗ trợ của người Ấn và người Hoa và cũng như phần lớn Đông Nam Á ở vào thiên niên kỷ đầu tiên của Công nguyên, nó đã vay mượn và thích ứng với văn hoá và tôn giáo Ấn Độ, tôn giáo ở đây có lẽ là một biến thể của Phật giáo đại thừa

Thời kỳ vương quốc Melaka[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thế kỷ 14, đế chế Srivijaya bị vương quốc Majapahit của người Java, Indonesia tấn công để tranh giành quyền kiểm soát thương mại trên quần đảo. Dân di cư từ Srivijaya đã di chuyển theo hướng bắc đến đảo Riau Lingga, rồi đến đảo Singapore và những nơi khác và cuối cùng lập nên thành phố Melaka. Biên niên sử Mã Lai kể rằng một ngày kia thủ lĩnh của họ, hoàng thân Iskandar đang săn bắn thì một con chó của ông bị một con nai đá phải, nai vốn là một con vật hiền lành và nhút nhát. Ông xem sự dũng cảm của loài nai như là một điềm lành cho một thành phố mới

Đầu thế kỷ 15, Vương quốc Hồi giáo Malacca được thành lập dưới một triều đại do Parameswara, một hoàng tử từ Palembang với liên hệ huyết thống với hoàng gia Srivijaya, người đã phải bỏ chạy khỏi Temasek (Singapore hiện nay) sáng lập. Parameswara đã quyết định thành lập vương quốc của mình tại Malacca sau khi chứng kiến một tai nạn bất ngờ khi một chú nai trắng đá một trong những con chó săn của ông. Ông coi đó là một dấu hiệu may mắn và đặt tên cho vương quốc của mình là Melaka, theo tên loài cây ông đang ngồi dưới nghỉ ngơi. Ở thời đỉnh cao, vương quốc hồi giáo đã kiểm soát nhiều vùng hiện là Bán đảo Malaysia, nam Thái Lan (Patani), và bờ biển phía đông Sumatra. Nó đã tồn tại trong hơn một thế kỷ, và khoảng thời gian này chính là lúc Đạo Hồi lan tràn ra hầu hết Quần đảo Malay. Malacca là cảng thương mại tiền đồn thời ấy tại Đông Nam Á

Trong thế kỷ 15, Melaka có được một thế kỷ huy hoàng, vừa là trung tâm thương mại đáng kể, vừa là một trung tâm văn hóa lớn. Nền văn hoá Mã Lai của Melaka được ngưỡng mộ và được chấp nhận ở nhiều nơi trên bán đảo và quần đảo, bao gồm cả miền bắc Borneo. Các câu chuyện về sự giàu có và thế lực của Melaka lan tới tận Châu Âu, đã biến nó thành mục tiêu xâm chiếm khi những con tàu phương Tây đổ vào các vùng biển phía đông này

Sự thành thạo về thương mại của Melaka dựa trên một số yếu tố. Vị trí thuận lợi, bao quát cả vùng eo biển tấp nập được mang tên nó. Nhà cầm quyền Melaka đã thiết lập các điều kiện an toàn và có hiệu quả cho các thương nhân trên đất liền và trên các tuyến đường biển gần đất liền. Các cảng biển đối thủ có tiềm năng đã bị hút vào Melaka. Ở đỉnh cao sức mạnh, Melaka có lẽ đã thống trị cả bán đảo xa tận về phía bắc của Perak, quần đảo Riau Lingga và phần lớn bờ biển đông Sumatra

Cùng lúc, Melaka để tâm đến việc trở thành một nước chư hầu của các cường quốc mạnh hơn nó, đáng kể nhất là Trung Hoa cũng như vương quốc Majapahit của người Java và vương quốc Ayuthaya của người Thái. Nộp cống vật cho các cường quốc này trên thực tế không có nghĩa là bị mất quyền độc lập mà để khuyến khích các cường quốc này đưa các thương nhân của họ đến buôn bán ở Melaka. Một cộng đồng người Hoa nhanh chóng định cư và trở thành một nét đặc trưng của xã hội Melaka, biến người Hoa thành một phần lịch sử của Malaysia ngay từ khi mới phát triển

Vào đầu thế kỷ 15, chính quyền Melaka chấp nhận đạo Hồi và điều này đã góp phần cho sự thành công của thành phố, biến nó thành một nơi đến ưa thích của các thương nhân Ả Rập và Hồi giáo ở Ấn Độ. Mặc dù tại khu vực một vài cảng ở phía bắc Sumatra theo hồi giáo trước Melaka, nhưng sự quy giáo này của Melaka đã châm ngòi cho việc Hồi giáo hoá toàn bán đảo và quần đảo. Hơn một thế kỷ tiếp theo các thành phố cảng ở quần đảo và các đảo lần lượt chấp nhận tôn giáo của kẻ mạnh nhất, có uy tín và văn hóa năng động nhất trong số các thành phố cảng này. Song song với tôn giáo, các thành phố cảng cũng có khuynh hướng đi theo mô hình của chính quyền Melaka, một sự pha trộn hình thái đạo Hồi từ Trung Đông với hình thái Ấn Độ có từ thời Sri Vijaya, cùng ngôn ngữ của Melaka là tiếng Mã Lai. Do vậy, Mã Lai đã trở thành ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất trong vùng

Melaka rơi vào tay người Bồ Đào Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ vàng son của Melaka đột ngột chấm dứt vào năm 1511, sau một tháng bị vây hãm và sụp đổ trước các họng súng áp đảo của người Bồ Đào Nha, người Bồ Đào Nha hy vọng nắm quyền kiểm soát mạng lưới mậu dịch của Melaka đặc biệt là các mặt hàng gia vị. Tuy nhiên, trong khi những người Châu Âu đến năm quyền kiểm soát thành phố và vùng eo biển, thì họ lại không có các nguồn lực để kiểm soát toàn vùng và thúc đẩy thương mại tiếp tục phát triển ở Melaka. Thái độ thù địch Hồi giáo của họ đã không giúp gì cho họ, cuộc lật đổ của người Bồ Đào Nha có lẽ chỉ khuyến khích thế giới mậu dịch của Mã Lai, khi các thành phố cảng khác tranh giành vị trí của thành phố vừa sụp đổ, giành cả vị trí mới đối với tôn giáo và văn hoá trước đây của Melaka

Một Famosa được người Bồ Đào Nha xây dựng ở thế kỷ 15.

Điển hình cho việc này là Brunei, một thành phố cảng thống trị bờ biển phía bắc của Borneo đã phát triển sau sự sụp đổ của Melaka. Ngoài ra, các tài liệu của Trung Hoa còn cho biết một vương quốc hải cảng tồn tại trong vùng từ thế kỷ 15 với tên gọi là Poni, khoảng năm 1514, các nhà cầm quyền ở Brunei theo đạo hồi và khẳng định sự kế tục của họ với triều đại trị vì cũ của Melaka, và bắt đầu phát triển nền văn hóa Brunei – Mã Lai

Sau khi Malacca bị người Bồ Đào Nha chinh phục, và họ đã lập ra một thuộc địa ở đó. Những người con trai của vị quốc vương Hồi giáo cuối cùng của Malacca đã thành lập nên những vương quốc Hồi giáo ở nhiều địa điểm khác trên bán đảo, vương quốc Hồi giáo Perak ở phía bắc, và Vương quốc Hồi giáo Johor (ban đầu là sự tiếp nối của Vương quốc Hồi giáo Malacca) ở phía nam. Sau khi Malacca sụp đổ, ba bên chiến đấu giành quyền kiểm soát Eo Malacca: người Bồ Đào Nha (tại Malacca), Vương quốc Hồi giáo Johor, và Vương quốc Hồi giáo Aceh. Cuộc xung đột này kéo dài đến tận năm 1641, khi người Hà Lan liên minh với Vương quốc Hồi giáo Johor giành quyền kiểm soát Malacca.

Vương quốc Johor và các tiểu quốc Mã Lai[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi mất Melaka, giới quý tộc cầm quyền cùng những người ủng hộ đã lập nên vương quốc Johor, do Alauddin Riayat Shah II làm Sultan, cai trị vùng phía nam bán đảo và vùng đảo Riau. Ở nhiều nơi trên bán đảo, nhiều nhà nước nở rộ và đều tự xem mình là tiếp nối của Melaka xưa và cống nộp cho vương quốc Johor. Mặc dù người Bồ Đào Nha cố tìm cách chinh phục Johor, nhưng không thành công. Cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, vương quốc Johor trở nên thịnh vượng, nhất là khi người Hà Lan đến khu vực này. Đặt đại bản doanh ở Java, người Hà Lan xem Johor là một đối trọng có ích để cạnh tranh với người Bồ Đào Nha ở Melaka và họ đẩy mạnh việc buôn bán với vương quốc Johor này. Năm 1641, sultan của vương quốc Johor là Abdul Jalil Shah III (1623_1677) đã liên minh với người Hà Lan đánh đuổi Bồ Đào Nha khỏi Melaka

Người Hà Lan đã khai thác được nhiều nguồn lực hơn những gì Bồ Đào Nha khai thác được, tuy nhiên các nguồn lực của Hà Lan vẫn không đủ để thực hiện mục tiêu thống trị về mậu dịch trong khu vực. Do đó thế giới mậu dịch Hồi giáo – Mã Lai ở bán đảo và quần đảo vẫn tồn tại mạnh sau khi người Hà Lan tới. Tuy vậy, Hà Lan đã tìm cách nắm độc quyền đối với các sản phẩm sinh lợi nhất trong vùng, đặc biệt là gia vị. Họ cũng chú ý tập trung các nguồn lực về hải quân và bộ binh để ngăn chặn bất cứ nhà nước nào nổi lên thành một mối đe dọa cho những mưu đồ độc quyền của họ. Do vậy, không một nhà nước Mã Lai nào có thể hy vọng khôi phục lại được vị trí cường quốc thương mại của Melaka ở thế kỷ 15, vương quốc Johor cũng vậy, nó và các nhà nước Mã Lai khác bị thu hẹp trong phạm vi quyền lực chính trị và thương mại cho phép của mình.

Hậu quả của sự thống trị thương mại của Hà Lan là tiêu diệt sự cạnh tranh giữa các nhà nước với nhau. Chẳng hạn như vương quốc Johor, đã từ lâu xem Aceh là nhà nước mậu dịch khác của Sumatra như là đối thủ nguy hiểm hơn các cường quốc phương Tây khác, hoặc sự cạnh tranh giữa nhà nước Brunei và nhà nước Solu (ngày nay là bang Sabah của Malaysia) Cuộc tranh giành để chiếm lấy phần mậu dịch đang bị chia cắt có thể là do sự bất ổn bên trong, nhờ đó nhiều nhà nước Mã Lai đã được biết đến. Và điều này đã gây ra các cuộc nội chiến kéo dài, đặc biệt từ khi hoàng đế Mahmud Shah II(1685_1699) của vương quốc Johor bị giết chết vào năm 1699, cái chết của ông báo hiệu cho hơn một thế kỷ quyền lực bất ổn trong vương quốc và ở các nước khác trên bán đảo.

Nền chính trị của các nhà nước Mã Lai càng trở nên phức tạp hơn vào thế kỷ 18 do dòng người di cư trong vùng, trên bán đảo, người Thái cũng trở thành một lực lượng xâm lược lớn vào cuối thế kỷ 18. Vương quốc Ayutthaya đã đòi chủ quyền trên bán đảo từ đầu thế kỷ 15, các vị vua Charkri đầu tiên đã kiểm soát quyền lực hoàng gia Thái một cách quyết liệt hơn trước. Vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, tất cả các nhà nước phía bắc Mã Lai là Patani, Kelantan, Kedah, Perak, đều chịu ảnh hưởng của Xiêm

Vương quốc Patani thật sự mất độc lập và năm trong phạm vi quản lý của chính quyền Xiêm, do vậy đã tạo thành một thiểu số người Mã Lai hồi giáo thường trú ở đất Thái theo Phật giáo, các nhà nước còn lại vẫn là các nhà nước chư hầu, họ tự quản lý nhưng phải cống nạp nặng nề và chịu những sắc lệnh khắc nghiệt của Bangkok

Sự can thiệp của người Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1786, vị vua trị vì nhà nước Kedah với hy vọng kiếm được một đồng minh chống lại người Thái, đã nhượng đảo Penang cho Công ty Đông Ấn của Anh (EIC) vốn đang muốn tìm kiếm một cảng biển an toàn và làm bàn đạp kinh doanh tại khu vực. Năm 1800, một dãi lãnh thổ trên đất liền đối diện với đảo cũng đã được chuyển nhượng cho người Anh. Tuy nhiên, người Anh đã từ chối dính líu trực tiếp vào cuộc đấu tranh chống lại người Thái của Kedah, nhưng đây cũng là bước đầu để người Anh tiến tới chiếm đóng bán đảo

Năm 1819, Công ty Đông Ấn Anh đã chiếm đảo Singapore từ vương quốc Johor, năm 1824 sau cuộc chiến Anh – Hà Lan đã giao Melaka vào tay người Anh như là một phần định giới của hai cường quốc Châu Âu, nhằm phân chia ảnh hưởng của họ ở ven biển Đông Nam Á. Lấy eo biển Melaka làm ranh giới, thoả thuận của Anh – Hà Lan đã đưa tới người Anh nắm trọn bán đảo như một khu vực của riêng họ, còn Hà Lan chiếm giữ Sumatra và tất cả các đảo đến tận phía nam của Singapora Anh Quốc đã thành lập thuộc địa đầu tiên của mình tại bán đảo Malay năm 1786, với việc cho thuê đảo Penang cho Công ty Đông Ấn Anh của Quốc vương Hồi giáo Kedah. Năm 1824, người Anh nắm quyền kiểm soát Malacca sau Hiệp ước Anh-Hà Lan 1824 phân chia quần đảo Malaya giữa Anh và Hà Lan, Malaya thuộc vùng của Anh. Năm 1826, Anh Quốc lập thuộc địa chưa độc lập (crown colony) Straits Settlements, thống nhất ba vùng thuộc sở hữu của họ tại Malaya: Penang, Malacca và Singapore. Straits Settlements nằm dưới quyền quản lý hành chính của Công ty Đông Ấn tại Calcutta cho tới năm 1867, khi quyền này được chuyển giao cho Văn phòng Thuộc địa tại London.

Cuối thế kỷ 19, nhiều bang Malay đã quyết định nhờ sự giúp đỡ của Anh để giải quyết các cuộc xung đột nội bộ của họ. Tầm quan trọng trong thương mại của ngành mở thiếc tại các bang Malay với các thương gia tại Straits Settlements khiến chính phủ Anh phải can thiệp vào các bang sản xuất thiếc trên Bán đảo Malay. Chính sách ngoại giao thuyền chiến của Anh được áp dụng để mang lại giải pháp hòa bình cho sự bất ổn do những tên cướp Trung Hoa gây ra, và Hiệp ước Pangkor năm 1874 đã mở đường cho sự mở rộng ảnh hưởng Anh tại Malaya. Tới đầu thế kỷ 20, các bang Pahang, Selangor, Perak, và Negeri Sembilan, được gọi chung là Liên minh các Bang Malay (không nên nhầm với Liên bang Malaya), trên thực tế nằm dưới quyền điều khiển của các Toàn quyền được chỉ định để cố vấn cho các vị vua cai trị Malay. Trên danh nghĩa người Anh chỉ là cố vấn, nhưng trên thực tế họ có ảnh hưởng mang tính quyết định với mọi vị vua cai trị Malay.

Năm bang còn lại trên Bán đảo Malay, được gọi là Các bang Malay không Liên minh, tuy không trực tiếp nằm dưới quyền quản lý của London, cũng đã chấp nhận các cố vấn Anh ở đầu thế kỷ 20. Trong số họ, bốn bang phía bắc là Perlis, Kedah, Kelantan và Terengganu từng nằm dưới tầm ảnh hưởng của Xiêm trước kia. Trên đảo Borneo, Sabah được cai quản như thuộc địa chưa độc lập British North Borneo, tuy Sarawak đã được Brunei chấp nhận là một vương quốc riêng của gia đỉnh Brooke, những người cai trị như những Rajahs Trắng.

Giai đoạn từ chiến tranh thế giới 2[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi người Nhật chiếm Malaya) trong Chiến tranh thế giới thứ hai, sự ủng hộ của dân chúng cho một nền độc lập ngày càng tăng.[10] Những kế hoạch hậu chiến của Anh nhằm thống nhất quản lý hành chính Malaya dưới một thuộc địa duy nhất được gọi là Liên minh Malaya hình thành trong sự phản đối mạnh mẽ từ người Malay, họ phản đối sự nhu nhược của tầng lớp cai trị Malay và việc trao quyền công dân cho những người Trung Quốc.[11] Liên minh Malaya, được thành lập năm 1946 và gồm tất cả các vùng đất thuộc quyền quản lý của Anh tại Malaya ngoại trừ Singapore, đã giải tán năm 1948 và bị thay thế bởi Liên bang Malaya, giữ lại quyền tự trị của những vị vua cai trị các bang Malay dưới sự bảo hộ của Anh. Trong thời gian này, những người nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Malaya đã tung ra các cuộc tấn công du kích nhằm đẩy lực lượng Anh khỏi Malaya. Tình trạng khẩn cấp Malaya, như nó từng được gọi, kéo dài từ 1948 tới 1960, và dẫn tới một chiến dịch chống nổi dậy kéo dài của quân đội Khối thịnh vượng chung Anh ở Malaya.[12] Chống lại tình hình này, nền độc lập cho liên minh trong Khối thịnh vượng chung đã được trao ngày 31 tháng 8 năm 1957.[13]

Thời kỳ độc lập và thống nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1963 Liên bang được đổi tên thành Malaysia với sự chấp nhận của các thuộc địa khi ấy của Anh là Singapore, Sabah (British North Borneo) và Sarawak. Vương quốc Hồi giáo Brunei, dù ban đầu thể hiện ý muốn gia nhập Liên bang, đã rút khỏi kế hoạch hợp nhất vì sự chống đối từ một số phe phái nhân dân cũng như những tranh cãi về việc chi trả các khoản đặc lợi dầu mỏ và vị thế Vương quốc Hồi giáo của kế hoạch hợp nhất.[14][15] Buổi đầu độc lập đã gặp trở ngại bởi cuộc xung đột với Indonesia (Konfrontasi) về việc thành lập Malaysia, sự rút lui năm 1965 của Singapore và cuộc tranh giành sắc tộc dưới hình thức những cuộc bạo loạn sắc tộc năm 1969.[8][16] Philippines cũng đưa ra tuyên bố chủ quyền với Sabah trong giai đoạn đó vì Vương quốc Hồi giáo Brunei nhượng lại những lãnh thổ đông bắc của họ cho Vương quốc Hồi giáo Sulu năm 1704. Tranh cãi lãnh thổ này vẫn đang tiếp diễn.[17] Sau những vụ bạo loạn sắc tộc ngày 13 tháng 5 năm 1969, Chính sách Kinh tế Mới gây nhiều tranh cãi – được dự định làm gia tăng phần sở hữu trong nền kinh tế của các bumiputra ("người bản xứ", gồm cả cộng đồng người Malay đa số, nhưng không phải luôn là người bản xứ) đối lập với các nhóm sắc tộc khác - được Thủ tướng Tun Abdul Razak đưa ra. Từ đó Malaysia đã duy trì một sự cân bằng sắc tộc-chính trị mong manh, với một hệ thống chính phủ nỗ lực tổng hợp các lợi ích phát triển kinh tế với chính trị và các chính sách kinh tế dành ưu tiên cho Bumiputra

Giai đoạn gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khoảng thập niên 1980 và giữa thập niên 1990, Malaysia trải qua thời kỳ tăng trưởng kinh tế đáng kinh ngạc với Thủ tướng Tun Dr Mahathir bin Mohamad.[19] Giai đoạn này cũng là sự chuyển đổi từ nền kinh tế dựa trên nông nghiệp sang chế tạo và công nghiệp trong những khu vực như máy tính và hàng điện tử tiêu dùng. Cũng ở thời gian này, bộ mặt Malaysia đã thay đổi với sự xuất hiện của nhiều dự án lớn. Đáng chú ý nhất là những dự án như Tháp đôi Petronas (khi ấy là toà nhà cao nhất thế giới), Sân bay Quốc tế Kuala Lumpur (KLIA), Đường cao tốc Bắc-Nam, Đường đua F-1 Sepang, Siêu Hành lang Truyền thông (MSC), đập thuỷ điện Bakun và Putrajaya, một thủ đô hành chính liên bang mới. Cuối thập niên 1990, Malaysia rung động bởi cuộc Khủng hoảng tài chính Châu Á cũng như tình trạng chính trị bất ổn do việc sa thải phó thủ tướng Dato' Seri Anwar Ibrahim.[20] Năm 2003, Tiến sĩ Mahathir, thủ tướng có thời gian cầm quyền dài nhất tại Malaysia về hưu, nhường chỗ cho phó thủ tướng Abdullah Badawi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lịch sử Đông Nam Á, NXB Trẻ 2003

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử các nước Đông Nam Á

Brunei | Campuchia | Đông Timor | Indonesia | Lào | Malaysia | Myanma | Philippines | Singapore | Thái Lan | Việt Nam