Pulau Pinang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Penang
Pulau Pinang
槟城
பினாங்கு
—  Bang  —
Pulau Pinang Pulau Mutiara
Quang cảnh George Town, Tòa thị chính Penang] & cầu Penang, Khâu công ty, phố bãi biển & buýt nhanh Rapid
Quang cảnh George Town, Tòa thị chính Penang] & cầu Penang, Khâu công ty, phố bãi biển & buýt nhanh Rapid
Lá cờ PenangPulau Pinang槟城பினாங்கு
Lá cờ
Huy hiệu của PenangPulau Pinang槟城பினாங்கு
Huy hiệu
Biệt danh: Hòn ngọc phương Đông
Khẩu hiệu: Bersatu dan Setia (tiếng Mã Lai)
Đoàn kết và Trung thành
   Penang in    Malaysia
   Penang in    Malaysia
Tọa độ: 5°24′B 100°14′Đ / 5,4°B 100,233°Đ / 5.400; 100.233Tọa độ: 5°24′B 100°14′Đ / 5,4°B 100,233°Đ / 5.400; 100.233
Quốc gia Malaysia sửa dữ liệu
Trực thuộc Malaysia sửa dữ liệu
Thủ đô George Town
Diện tích [1]
 - Tổng cộng 1.048 km² (404,6 mi²)
Dân số (2010)[1]
 - Tổng cộng 1.520.143
 - Mật độ 1.450,5/km² (3.756,8/mi²)
Múi giờ MST (UTC+8)
Mã bưu chính 10xxx–14xxx
Mã điện thoại +604
Kedah nhượng cho người Anh 11 tháng 8 năm 1786
Nhật Bản chiếm đóng 19 tháng 12 năm 1941
Gia nhập Liên bang Malaya 31 tháng 1 năm 1948
Độc lập như một phần của Liên bang Malaya 31 tháng 8 năm 1957
^[a] 2.491/km² trên đảo Penang và 1.049 người/km² tại Seberang Perai
Website: www.penang.gov.my

Penang (tiếng Mã Lai: Pulau Pinang) là một bang tại Malaysia và được định danh theo đảo cấu thành nên bang. Bang Penang nằm ở vùng bờ biển tây bắc của Malaysia bán đảo, sát eo biển Malacca. Penang giáp với Kedah ở phía bắc và đông, giáp với Perak ở phía nam. Penang là bang nhỏ thứ hai tại Malaysia về diện tích sau Perlis, và là bang đông dân thứ tám. Penang gồm hai bộ phận – đảo Penang là nơi đặt trụ sở chính phủ, Seberang Perai nằm trên bán đảo Mã Lai. Penang là nơi đô thị hóa và công nghiệp hóa cao độ, là một trong các bang phát triển nhất và quan trọng nhất về mặt kinh tế tại Malaysia, đồng thời là một điểm đến du lịch phát triển mạnh.[2][3][4] Penang có chỉ số phát triển con người cao thứ ba tại Malaysia, sau SelangorKuala Lumpur. Penang là bang có dân cư hỗn tạp, đa dạng cao độ về dân tộc, văn hóa, ngôn ngữ, và tôn giáo.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Người Mã Lai trước kia gọi hòn đảo này là Pulau Ka-Satu có nghĩa là "hòn đảo đầu tiên".

Địa danh "Penang" thì có gốc từ tiếng Mã Lai hiện đại là Pulau Pinang, có nghĩa là đảo quả cau (Areca catechu) họ Palmae. Penang cũng được dùng là tên của thủ phủ George Town của tiểu bang Penang tuy người Mã Lai thường dùng Tanjung để gọi lỵ sở George Town.

Sách tiếng Việt trước thế kỷ 20 gọi địa danh này là Cù lao Cau hoặc Hòn Cau.[5]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Penang là bang có mật độ dân số cao nhất tại Malaysia với 1.450,5 người/km²[1]. Dân số Penang là 1.520.143 vào năm 2010.[6]

Lịch sử dân số Penang
Điều tra
Dân số
1786[7] dưới 100
1812[8] 26.107 26107
 
1820[8] 35.035 35035
 
1842[8] 40.499 40499
 
1860[8] 124.772 124772
 
1871[8] 133.230 133230
 
1881[8] 188.245 188245
 
1891[8] 232.003 232003
 
1901[9] 248.207 248207
 
1911[10] 278.000 278000
 
1921[11] 292.484 292484
 
1931[12] 340.259 340259
 
1941[13] 419.047 419047
 
1947[13] 446.321 446321
 
1957[12] 572.100 572100
 
1970[14] 776.124 776124
 
1980[14] 900.772 900772
 
1991[14] 1.064.166 1064166
 
2000[14] 1.313.449 1313449
 
2010[14] 1.520.143 1520143
 
Tôn giáo tại Penang – Điều tra 2010[15]
tôn giáo tỷ lệ
Hồi giáo
  
44.6%
Phật giáo
  
35.6%
Ấn Độ giáo
  
8.7%
Ki-tô giáo
  
5.1%
Tôn giáo dân gian Trung Hoa
  
4.6%
Khác
  
1.0%
Không tôn giáo
  
0.4%
  • Đảo Penang có dân số là 704.376 vào năm 2010 và mật độ dân số là 2.372 người/km². Đảo Penang là đảo đông dân nhất tại Malaysia, và cũng là một đảo có mật độ dân số cao nhất quốc gia.
  • Seberang Perai là phần lục địa của bang Penang, có dân số là 815.767 người theo điều tra năm 2010, và mật độ dân số là 1.086 người/km².

Thành phần dân tộc năm 2010[16] là:

Penang có khoảng 70.000 đến 80.000 công nhân nhập cư, đặc biệt là từ Indonesia, Myanmar, Việt Nam, Thái Lan, và các quốc gia Nam Á, hầu hết họ làm việc giúp việc gia đình, dịch vụ, chế tạo, xây dựng, đồn điền, và nông nghiệp.[17]

Penang thời thực dân là một nơi toàn cầu chủ nghĩa, ngoài những người Âu và các cư dân đa sắc tộc tại địa phương, nơi này còn có các cộng đồng người Xiêm, người Miến, người Philippines, người Ceylon người Âu-Á, người Nhật, người Sumatra, người Ả Rập, người Armenia, người Bái Hỏa giáo.[18][19][20] Một cộng đồng người Đức cũng tồn tại ở Penang, có quy mô nhỏ song quan trọng về thương mại.[21] Mặc dù hiện nay hầu hết các cộng đồng này không còn tồn tại, song di sản của họ vẫn còn thông qua tên các đường phố và địa điểm. Có một khu Do Thái tại Penang trước Chiến tranh thế giới thứ hai.[22][23] Penang hiện có một lượng khá lớn cư dân tha hương, đặc biệt là từ Nhật Bản, các quốc gia châu Á khác và Anh Quốc, nhiều người trong số học dịnh cư tại Penang sau khi nghỉ hưu theo Chương trình "Malaysia Quê hương thứ hai của tôi".[24]

Peranakan[sửa | sửa mã nguồn]

Một nhà hàng phục vụ ẩm thực Baba-Nyonya.

Peranakan, cũng được gọi là người Hoa Eo biển hay Baba-Nyonya, là hậu duệ của những người Hoa nhập cư sớm đến Penang, Malacca và Singapore.[25] Họ tiếp nhận một phần phong tục Mã Lai và nói một ngôn ngữ bồi Hoa-Mã Lai, nhiều từ trong đó đóng góp vào từ vựng của tiếng Phúc Kiến Penang. Cộng đồng Peranakan có bản sắc riêng biệt về thực phẩm, y phục, nghi lễ, thủ công nghiệp và văn hóa. Hầu hết người Peranakan thực hành một dạng chiến trung của thờ cúng tổ tiên và tôn giáo Trung Hoa, và một số là tín hữu Ki-tô giáo.[26] Họ kiêu hãnh rằng bản thân biết nói tiếng Anh và phân biệt mình với những người Hoa mới đến. Người Peranakan có một văn hóa sinh hoạt, song hiện gần như đã mai một do họ bị tái hấp thu và cộng đồng người Hoa chủ đạo, hoặc bị Tây hóa. Tuy nhiên, di sản của họ vẫn tồn tại trong kiến trúc, ẩm thực, y phục nyonya kebaya tỉ mỉ và thủ công nghiệp tinh tế.[27][28]

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngôn ngữ chung tại Penang, tùy thuộc theo tầng lớp xã hội, phạm vi xã hội, bối cảnh dân tộc là tiếng Mã Lai, Quan thoại, tiếng Anh, tiếng Phúc Kiến Penang, và tiếng Tamil. Quan thoại được giảng dạy tại các trường tiếng Hoa, và ngày càng có nhiều người nói.[29]

Tiếng Phúc Kiến Penang là một biến thể của tiếng Mân Nam và được nói rộng rãi bởi một tỷ lệ đáng kể dân cư Penang. Nhiều sĩ quan cảnh sát cũng tham gia một khóa học tiếng Phúc Kiến.[30] Nó có sự tương đồng cao với ngôn ngữ của những người Hoa sống tại thành phố Medan của Indonesia và dựa trên phương ngữ Mân Nam tại Chương Châu, Phúc Kiến. Hầu hết người nói tiếng Phúc Kiến Penang không biết viết tiếng Phúc Kiến mà chỉ biết đọc và viết Quan thoại, tiếng Anh và/hoặc tiếng Mã Lai.[31] Các phương ngữ tiếng Hoa khác, gồm có tiếng Khách Gia, tiếng Quảng Đông, và tiếng Triều Châu.

Tiếng Mã Lai là ngôn ngữ của dân cư bản địa, cũng là ngôn ngữ chính thức của bang, là phương tiện giảng dạy trong các trường học quốc gia. Tiếng Mã Lai tại Penang thuộc phương ngữ miền bắc, có những từ đặc trưng như "hang", "depa", và "kupang". Âm tiết kết thúc bằng "a" được nhấn mạnh.

Tiếng Anh là một di sản từ thời thực dân, là một ngôn ngữ làm việc được sử dụng rộng rãi trong thương mại, giáo dục, và nghệ thuật. Tiếng Anh được sử dụng trong bối cảnh chính thức chủ yếu là tiếng Anh-Anh. Tiếng Anh khẩu ngữ thường là một dạng tiếng bồi gọi là Manglish.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Laporan Kiraan Permulaan 2010”. Jabatan Perangkaan Malaysia. tr. 27. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  2. ^ Only 6% of the population yet Penang contributes 36% of Malaysia's FDI in 2010: Penang must not live in the past but learn from the past so that we can save the future for our children. Dapmalaysia.org (25 February 2011). Retrieved on 11 August 2011.
  3. ^ Penang in a state of renaissance. Igeorgetownpenang.com (15 May 2011). Retrieved on 11 August 2011.
  4. ^ Slightly more men than women in Malaysian population. The Star (Malaysia). Retrieved on 11 August 2011.
  5. '^ Ch'en Ching-ho. Xiêm La quố lộ trình tập lục của Tống Phúc Ngoạn và Dương Văn Châu. Hong Kong: The Chinese University of Hong Kong, 1966.
  6. ^ “Laporan Kiraan Permulaan 2010”. Jabatan Perangkaan Malaysia. tr. iv. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  7. ^ Robert Montgomery Martin (1839). Statistics of the colonies of the... – Google Buku. Books.google.co.id. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  8. ^ a ă â b c d đ “Colonial Construction of Malayness: The Influence of Population Size and Composition” (PDF). Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  9. ^ “Penang – LoveToKnow 1911”. 1911encyclopedia.org. 30 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  10. ^ MALAYSIA: provinces population. Populstat.info. Retrieved on 11 August 2011.
  11. ^ Peoples of All Nations: Their Life... – Google Buku. Books.google.co.id. 1 tháng 1 năm 2007. ISBN 978-81-7268-144-9. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  12. ^ a ă “Malaysia States”. Statoids.com. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  13. ^ a ă [www.penangstory.net.my/docs/abs-paulhkratoska.doc‎ “War and Occupation in Penang, 1941–1945”] Kiểm tra giao thức |url= (trợ giúp). The Penang Heritage Trust & STAR Publications. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  14. ^ a ă â b c http://www.oecd.org/dataoecd/19/44/45496343.pdf
  15. ^ “2010 Population and Housing Census of Malaysia”. Department of Statistics, Malaysia. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2012.  p. 13
  16. ^ “Taburan Penduduk dan Ciri-ciri Asas Demografi”. Jabatan Perangkaan Malaysia. tr. 11. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2011. 
  17. ^ Penang Economic Monthly, June 2010. http://www.penangeconomicmonthly.com/selected/june10/PEM_MAG_JUNE_FA_cover_story.pdf
  18. ^ “Penang Story Project”. Penangstory.net.my. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  19. ^ [1][[]][liên kết hỏng]
  20. ^ Penang, Penang lang(???) lah: Penang: Little Japan. Teochiewkia2010.blogspot.com (7 March 2010). Retrieved on 11 August 2011.
  21. ^ Nasution, Khoo Salma. More Than Merchants. Malaysia: Areca Books, 2006. ISBN 978-983-42834-1-4
  22. ^ “Penang Story Project”. Penangstory.net.my. 9 tháng 10 năm 1941. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  23. ^ “One family's world of Judaism in Malaysia”. Jewishtimesasia.org. 20 tháng 12 năm 1925. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  24. ^ Penang Expat. “The Penang Expat Community”. Penangexpat.com. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  25. ^ Malaysia and Singapore – Google Books. Books.google.com.my (17 June 2008). Retrieved on 11 August 2011.
  26. ^ Andrea Filmer. “All things Peranakan Chinese”. The Star. Malaysia. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  27. ^ “The Architectural Style of the Peranakan Cina”. Hbp.usm.my. 3 tháng 12 năm 1994. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  28. ^ Cheah Hwei-Fe'n. Phoenix Rising: Narratives in Nonya Beadwork from the Straits Settlements: Malaysia, 2010. ISBN 978-9971-69-468-5
  29. ^ “Penang: The Language”. Introducing Penang. penangnet.com. 2007. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2008. 
  30. ^ “Mind your Hokkien”. The Star. Malaysia. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  31. ^ “Penang Hokkien in peril”. The Star. 16 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2008. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Penang tại Wikimedia Commons