U-boat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

U-boat là tên được phiên âm tiếng Anh của tên tiếng Đức U-Boot, viết tắt của từ Unterseeboot (cũng là underseeboat trong tiếng Anh). Tuy nhiên, U-Boot liên hệ đến mọi loại tàu ngầm còn U-boatdùng để chỉ riêng các tàu ngầm quân sự của Đức trong Đệ nhấtĐệ nhị thế chiến. Mặc dù trên lý thuyết, các tàu U-boat có thể được sử dụng hiệu quả chống lại tàu chiến đối phương, nhưng trên thực tế, chúng được sử dụng hữu hiệu nhất trong chiến tranh kinh tế (săn bắt tàu hàng), phong tỏa bờ biển chống chuyên chở đường thủy. Mục tiêu chính của các chiến dịch sử dụng U-boat trong cả hai cuộc đại chiến là các chuyến tàu vận tải tiếp vận từ Anh QuốcHoa Kỳ tới các đảo thuộc quần đảo Anh. Các tàu ngầm của Đế quốc Áo Hung trong Đệ nhất thế chiến cũng được gọi là U-boat.

Thời tiền chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu ngầm đầu tiên được đóng tại Đức là chiếc Brandtaucher, thiết kế năm 1850 bởi nhà phát minh, kỹ sư Wilhelm Bauer, đóng bởi hãng Schweffel & Howaldt tại Kiel cho Hải quân Đức.

Tiếp đó là các mẫu W1W2 vào năm 1890, đóng theo mẫu thiết kế tàu ngầm Nordenfelt. Năm 1903, xưởng đóng tàu của hãng Germaniawerft tại Kiel đã hoàn thành chiếc tàu ngầm với chức năng hoàn thiện đầu tiên tên Forelle và bán lại cho Nga trong thời kỳ chiến tranh Nga - Nhật vào tháng 4 năm 1904. Những công trình đầu tiên được tiến hành bởi kỹ sư người Tây Ban Nha Raymondo Lorenzo d'Equevilley Montjustin. Chiếc tàu đầu tiên của Hải quân Đức được đóng năm 1905. Đó là chiếc tàu lớp Karp, với hai lớp vỏ, chạy bởi động cơ Körting bằng dầu kerosene, vũ trang với một ống phóng lôi. Động cơ diesel chỉ được lắp đặt trong các tàu ngầm của Đức lớp U-19 năm 1912–13. Khởi đầu Đệ nhất thế chiến, Đức có 48 tàu ngầm, thuộc 13 lớp, đã hoàn thành hoặc đang được đóng.

Đệ nhất thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu ngầm Đức U-9 (1910).

Khởi đầu cuộc chiến, Đức có 29 U-boat hoạt động; trong vòng 10 tuần, chúng đã đánh chìm 5 tàu tuần dương hạm của Anh. Tới tháng 10, chiếc U-9 đánh chìm các chiến hạm cũ của Anh là chiếc HMS Aboukir, CressyHogue chỉ trong có một giờ.

Cuối cùng thì chiến thuật của Đức cũng thất bại, không đủ để ngăn cản hoạt động vận chuyển của Đồng minh, phần nhiều là do sự xuất hiện của các tàu hộ tống, trước khi binh lính và vật tư chiến tranh từ Mỹ được đưa tới Pháp. Tuy nhiên, lý do chính của việc chiến tranh chấm dứt là việc Anh phong tỏa Đức, khiến cho kinh tế sụp đổ. Lệnh ngưng bắng có hiệu lực vào 11 tháng 11 năm 1918, và các tàu ngầm Đức phải đầu hàng Đồng minh. Trong tổng số 360 tàu ngầm Đức được đóng, có 178 chiếc bị mất, nhưng chúng đã đánh chìm được 11 triệu tấn hàng hóa.

Giữa hai cuộc chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến tranh, theo Hội nghị Paris 1919, Hòa ước Versailles giới hạn hạm đội Đức. hòa ước này cũng nghiêm cấm việc đóng tàu ngầm. Tuy nhiên, một phòng thiết kế tàu ngầm được lập ra ở Hà Lan, và một chương trình nghiên cứu tàu ngầm được bắt đầu ở Thụy Điển. Trước khi Đệ nhị thế chiến bùng nổ, Đức tiến hành đóng U-boat và huấn luyện thủy thủ, gọi các hoạt động này là "nghiên cứu", hoặc che giấu chúng với các vỏ bọc khác. Khi các hoạt động này bị lộ, Đức phải ký hiệp ước với Anh qui định số tàu ngầm Đức chỉ được ngang bằng với số tàu ngầm Anh, còn tàu chiến thì ít hơn Anh. Khi chiến tranh bùng phát, Đức có 65 U-boat, với 21 trong số đó sẵn sàng tham chiến.

Đệ nhị thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc chiến, chiến thuật sử dụng U-boat là một phần chính trong Trận chiến Đại Tây Dương, diễn ra suốt thời kỳ chiến sự. Đức có hạm đội tàu ngầm lớn nhất, vì Hòa ước Versailles giới hạn hạm đội nổi của Đức chỉ được có 6 thiết giáp hạm (nhỏ hơn 10.000 tấn), 6 tuần dương hạm và 12 khu trục hạm.[1] Thủ tướng Anh Winston Churchill đã viết "Điều duy nhất khiến tôi kinh sợ trong suốt cuộc chiến là hiểm họa U-Boat".

Cảng U-boat tại Saint-Nazaire, Pháp

Hoạt động chống tàu ngầm[sửa | sửa mã nguồn]

Những người sống sót từ U-175 sau khi nó bị chiếc USCGC Spencer của Mỹ đánh đắm, 17 tháng 4, 1943

Các chiến thuật chống tàu ngầm, như sử dụng radar, sonar, thuốc nổ đánh ở độ sâu, cối ASW, phá mã Enigma của Đức, sử dụng thiết bị Leigh Light, máy bay hộ tống (đặc biệt là dùng tàu sân bay hộ tống hạng nhỏ) và việc Hoa Kỳ tham chiến, với khả năng đóng tàu to lớn, đã xoay chiều chiến tranh với U-boat. Cuối cùng, hạm đội U-boat chịu tổn thất nặng, với 793 U-boat bị mất, và khoảng 28.000 thủy binh (tức 75% lực lượng).

Cùng lúc, Đồng Minh đánh phá các xưởng đóng tàu U-boat và căn cứ từ đó chúng xuất phát.

Sau Đệ nhị thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

U-15, của Hải quân Đức tại Kiel 2007

Kể từ 1955, Tây Đức được phép có một hạm đội nhỏ. Ban đầu hai chiếc Kiểu XXIIIs và một chiếc Kiểu XXI được trục vớt và sửa chữa. Tới những năm 1960, Tây Đức tái trở lại với việc đóng tàu ngầm. Vì ban đầu Đức chỉ được đóng tàu nhỏ hơn 450 tấn, nên hải quân tập trung vào đóng các tàu duyên hải nhỏ để chống đe dọa từ Liên Xô ở biển Baltic. Người Đức sử dụng kỹ thuật cao để bù đắp vào kích thước nhỏ của tàu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • uboat-bases.com The german U-boat bases of the WW-II in France: Brest, Lorient, St-Nazaire, La Rochelle, Bordeaux.
  • uboat.net Comprehensive reference source for WW II U-boat information.
  • ubootwaffe.net Comprehensive reference source for WW II U-boat information.

Chú thích trong bài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hakim, Joy (1995). A History of Us: War, Peace and all that Jazz. New York: Oxford University Press. tr. 100–104. ISBN 0-19-509514-6. 

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • John Abbatiello. Anti-Submarine Warfare in World War I: British Naval Aviation and the Defeat of the U-Boats (2005)
  • Buchheim, Lothar-Günther, Das Boot (Original German edition 1973, eventually translated into English and many other Western languages). Movie adaptation in 1981, directed by Wolfgang Petersen
  • Gannon, Michael (1998) Black May. Dell Publishing. ISBN 0-440-23564-2
  • Gannon, Michael (1990) Operation Drumbeat. Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-302-4
  • Gray, Edwyn A. The U-Boat War, 1914-1918 (1994)
  • Kurson, Robert (2004). Shadow Divers: The True Adventure of Two Americans Who Risked Everything to Solve One of the Last Mysteries of World War II. Random House Publishing. ISBN 0-375-50858-9
  • Preston, Anthony (2005). The World's Greatest Submarines.
  • Stern, Robert C. (1999). Battle Beneath the Waves: U-boats at war. Arms and Armor/Sterling Publishing. ISBN 1-85409-200-6.
  • van der Vat, Dan. The Atlantic Campaign Harper & Row, 1988. Connects submarine and antisubmarine operations between World War I and World War II, and suggests a continuous war.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Möller, Eberhard and Werner Brack. The Encyclopedia of U-Boats: From 1904 to the Present (2006) ISBN 1-85367-623-3
  • Showell, Jak Mallmann. The U-boat Century: German Submarine Warfare, 1906-2006 (2006) ISBN 1-59114-892-8
  • Georg von Trapp and Elizabeth M. Campbell. To the Last Salute: Memories of an Austrian U-Boat Commander (2007)
  • Westwood, David. U-Boat War: Doenitz and the evolution of the German Submarine Service 1935 - 1945 (2005) ISBN 1-932033-43-2
  • Werner, Herbert. Iron Coffins: A Personal Account of the German U-Boat Battles of World War II ISBN 978-0304353309
  • Von Scheck, Karl. U122: The Diary of a U-boat Commander Diggory Press ISBN 978-1846850493

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]