Sikh giáo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đạo Sikh)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Biểu tượng của Sikh giáo
Đền Amritsar thánh địa của Sikh giáo

Sikh giáo hay Tích-khắc giáo theo phiên âm Hán Việt, cũng gọi là đạo Sikh, do Guru Nanak sáng lập vào thế kỷ 15 tại vùng Punjab, truyền dạy những giáo lý của Guru Nanak Dev và 10 vị Guru khác truyền lại (người cuối cùng thành thánh trong Guru Granth Sahib), là tôn giáo lớn thứ năm trên thế giới.[1]

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiếng Punjab, "Sikh" có nghĩa là "học trò", hoặc "môn đệ", còn những người Sikh là "học trò của các Guru". Đạo Sikh không có các giáo chức, nhưng trong các gurdwaras (đền thờ của đạo Sikh) thường có những người có khả năng đọc được Sách kinh, gọi là Granthi, đứng ra trông coi việc đạo. Tuy nhiên, họ không phải là chức sắc tôn giáo.

Lịch sử hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới Vương quốc Hồi giáo Delhi (1206-1526), Ấn Độ thường xuyên bị phân liệt về lãnh thổ và chính trị bởi các thủ lĩnh Hồi giáo chia nhau cầm quyền ở các địa phương và nhiều lần bị quân Mông Cổ tấn công xâm lược, nhất là ở vùng Tây Bắc rộng lớn. Bên cạnh đó, người Hồi giáo cai trị lại thực hiện chính sách phân biệt tôn giáo. Họ dành nhiều ưu ái, quyền lợi về chính trị, kinh tế cho tín đồ Hồi giáo cũng tức là hạn chế quyền lợi của các tôn giáo khác, trong đó có đông đảo tín đồ Ấn giáo. Cùng với những lí do khác về kinh tế, xã hội đã dẫn đến phong trào đấu tranh của các giáo phái ở Ấn Độ. Những nhà tư tưởng của các phong trào này đều phủ nhận sự phân chia đẳng cấp, đòi bình đẳng của mọi người trước thần linh và chủ trương không phân biệt biệt địa vị xã hội và tôn giáo, tín ngưỡng[2]. Trong bối cảnh lịch sử đó, Guru Nanak đã sáng lập ra đạo Sikh vào đầu thế kỷ 16 tại bang Punjab thuộc miền Bắc Ấn Độ cùng chung sống hòa bình với các tôn giáo khác đã có ở Ấn Độ như Ấn Độ giáo, Jaina giáo (Kỳ Na giáo), Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo. Đạo Sikh được xem như một tôn giáo cải cách, ra đời trên cơ sở tiếp nhận tư tưởng, giáo luật, lễ nghi của các tôn giáo đã có ở Ấn Độ như Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo.

Guru Nanak sinh năm 1469 trong một gia đình thuộc đẳng cấp thứ hai, Ksatriya (bao gồm vua chúa, quý tộc, tướng lĩnh) thuộc bộ tộc Bedi tại làng Talwandi gần Lahore. Từ nhỏ, ông được giáo dục là một người theo Ấn giáo. Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ người cha, người đã từng làm việc cho ông chủ làng là người Hồi giáo (Muslim), Nanak sớm tiếp nhận và tinh thông cả Ấn giáo (Hindu) lẫn Hồi giáo (Muslim). Lúc nhỏ, ông là một đứa trẻ rất thông minh, sùng đạo và đầy triển vọng, có thể tranh luận cùng với các đạo sư của các giáo phái nhằm giải đáp mọi thắc mắc về tín ngưỡng tôn giáo nói chung. Ở tuổi 16, Nanak trở thành một quan chức chính phủ và được làm quen với thế giới Hồi giáo rộng lớn, gặp gỡ nhiều nhân vật uyên bác và huyền học nhưng vẫn không có được câu trả lời thích đáng cho vấn đề tín ngưỡng, vì thế ông vẫn tiếp tục theo đuổi tìm kiếm đạo lý riêng cho chính mình. Năm 19 tuổi, mặc dù đã tận tâm với đời sống cầu nguyện và thiền định, nhưng ông vẫn cưới vợ và có được hai người con trai. Sau khi lập gia đình, ông đã chuyển đến Sutanpur sống cùng với người anh rể một thời gian. Tại đây, ông và một nhóm người nữa, đã cùng nhau tụ họp vào mỗi buổi sáng và buổi chiều để đọc kinh cầu nguyện và thiền định, dần dần số người đi theo này càng đông tạo thành một cộng đồng lớn để rồi chính thức trở thành một cộng đồng Sikh giáo, có hệ thống tổ chức được công nhận vào năm 1521[3]. Chính ở tại Sutalpur, Guru Nanak đã trải qua sự "thực nghiệm tâm linh", chứng đạt được một vài sự huyền bí, và một trong những chứng nghiệm đó đã được Gủru Nanak lấy làm nguyên tắc chỉ đạo cho đạo Sikh, khi đó ông nói: "Không có Hindu cũng không có Islam, vì thế tôi sẽ theo con đường của ai? Tôi sẽ theo con đường của Thượng đế, Chúa trời không phải Hindu giáo cũng chẳng phải Islam giáo, và con đường tôi theo là con đường của Chúa"[4].

Cho rằng mình là người được Chúa Trời chọn mặc khải để cứu giúp nhân loại, Nanak đã từ quan và trở thành nhà truyền giáo đi thuyết giảng khắp Ấn Độ, Hy Mã Lạp Sơn (Hymalaya), Tây Tạng (Tibet), Ceylon (Sri Lanka) cho tận đến thánh địa Hồi giáo Mecca tại Ả Rập Xê Út. Ông đã thăm viếng nhiều trung tâm của Hồi giáo, Ấn giáo và Phật giáo, thuyết giảng về một tôn giáo không chuộng hình thức, và cho rằng "giá trị của con người quan trọng hơn địa vị hoặc giai cấp, hay nói đúng ra là tinh thần (tâm linh) bên trong quan trọng hơn nghi thức bên ngoài". Trong tư tưởng giáo huấn của Nanak, ông luôn khuyên con người hãy "tìm chân lý ở chính bên trong bản thân mình", (bên trong cái tâm đã được đồng nhất với Thượng đế, Chân Sư (Sat Guru). Đây là tư tưởng cốt lõi của đạo Sikh, là trạng thái tôn giáo tại tâm của con người.

Tôn chỉ của đạo Sikh là ‘Nhất thần giáo’ chỉ thờ duy nhất một vị thần là Chúa Trời – người đã tạo ra vũ trụ và con người, và là đấng tối cao trong tất cả các tôn giáo. Chỗ thờ tự của đạo Sikh gọi là Gurdwara, theo tiếng Punjab nghĩa là ‘Nhà của Thượng đế’ cũng là ‘cổng vào Guru’. Sách kinh thường cầu nguyện của đạo Sikh gọi là Adi Granth, còn gọi là Guru Granth Sahib; chữ viết trong kinh gọi là Gurmukhi; và lời của kinh gọi là Gurbani. Đạo Sikh không có các chức sắc nhưng lại có những con người với các trách nhiệm khác nhau gọi là Granthi và Giani. Gianthi là những người trông coi việc đạo trong các đền thờ Gurdwaras, có bổn phận đọc kinh Guru Granth Sahib và hướng dẫn các buổi cầu kinh hằng ngày. Trong khi đó, Giani là học giả và là người rất thông thạo ngôn ngữ và văn học Punjab. Họ có trách nhiệm giảng giải cho các tín đồ hiểu được nội dung và ý nghĩa trong sách kinh, tuy nhiên, tất cả họ không phải là chức sắc tôn giáo. Nghi thức cầu nguyện trong cộng đồng những người theo đạo Sikh là ngày hai lần (sáng và tối)[5], chủ yếu bao gồm sự thiền định và những bài hát ca tụng của các Gurus. Trong đó, Sodar và Arati được tụng vào buổi chiều và Japti thì được tụng vào buổi sáng sớm dưới sự hướng dẫn của các Granthi.

Trong thời gian trị vì (1556-1605) của Akbar Đại đế giàu lòng khoan dung tôn giáo, đạo Sikh nhận được sự khích lệ đáng kể vì tư tưởng tôn giáo của nhà vua tương đồng với tư tưởng Sikh giáo nhằm thực hiện sự hòa đồng tôn giáo hay đoàn kết tôn giáo. Nhiều công trình kiến trúc, nghệ thuật văn hoá của Sikh giáo đã được xây dựng. Guru Ram Das (1534 – 1581) tận dụng sở đất mà hoàng đế Akbar ban tặng, đã xây thành một hồ nước hình vuông rộng lớn gọi là "Amristar" (Hồ rượu tiên hay là hồ mật hoa); chính giữa mặt hồ có một ngôi đền được làm bằng vàng do chính con trai của Guru Ram Das, Guru Arjan xây dựng. Và thế rồi một đô thị lớn, tên gọi Punjab được hình thành, nơi đây được coi là thánh địa của Sikh giáo. Bên cạnh đó, Guru Arjan cũng được biết đến là nhà biên soạn bộ thánh kinh đầu tiên ‘Adi Granth’ và đã thiết lập một hệ thống thu nhập thuế từ những tín đồ Sikh giáo cho những công việc từ thiện. Đạo Sikh thời bấy giờ ngày càng có nhiều ưu thế mãi cho đến đời Guru Teg Bahadur (1621-1675), người đã bị hoàng đế Aurangzeb hành hình mà không rõ lý do. Hành động này đã làm cho những người theo đạo Sikh từ một đạo giá cải cách vốn bình lặng trở thành một giáo phái kiêu hùng gồm những con người sẵn sàng quyết chiến, "tử vì đạo" (đây là một đặc điểm của tôn giáo nói chung mà S. Freud, V.I. Lênin... đã chỉ ra) dưới sự lãnh đạo của Guru Govind Singh, người luôn sẵn sàng đấu tranh để bảo vệ đạo giáo (con trai của Guru Teg Bahadur).

Guru Govind Singh tuân thủ với những gì Guru Nanak đã dạy. Ngoài ra, ông còn củng cố giáo đồ của mình bằng cách lập ra kiểu rửa tội khai tâm bằng thanh kiếm và đặt ra một số quy lệ phù hợp cho một đạo quân. Ông chịu trách nhiệm dạy dỗ và un đúc lòng dũng cảm chiến đấu cho tín đồ đạo Sikh, nhằm bảo đảm tính sống còn cho đạo giáo này. Ông kêu gọi những người Sikh cùng chí hướng là Khalsa (tiếng Ả Rập là Khalas, nghĩa là tinh khiết, thuần tuý) và chỉ dẫn họ gắn thêm thành tố Singh (có nghĩa là sư tử) vào cuối họ tên nhằm để nhấn mạnh bản tính quân đội trong họ[6]. Các Khalsa phải tuân theo giới luật riêng ví dụ như không được hút thuốc lá, ngoại tình và ăn thịt các con vật được đem hiến tế.

Dù chỉ là một nhóm thiểu số nhưng Khalsa có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ cộng đồng Sikh giáo. Người Sikh thường mang trên mình 5 dấu hiệu tôn giáo để chứng tỏ sự trung thành với giáo lý của đạo Sikh. Cả 5 dấu hiệu đều được bắt đầu bằng chữ cái K nên được gọi là ngũ Ks – (1) kesh (không cắt tóc và râu)[7], (2) kanga (lược gỗ), (3) kachs (quần mặc trong), (4) kara (vòng kim loại), và (5) kirpan (cây kiếm nhỏ). Biểu tượng của Sikh giáo là lá cờ hình tam giác màu vàng cam, gồm có 3 biểu vật phối hợp với nhau: (1) Khanda – con dao găm hai lưỡi tượng trưng cho sự tự do và công lý, (2) Chakar – hình tròn, cho thấy sự cân bằng giữa 2 lưỡi gươm, thể hiện tính đơn nhất, chỉ có một thần và (3) kirpans – gồm hai lưỡi gươm cong, một đại diện cho tôn giáo, là quyền năng của Chúa (Chân Sư), và cái kia đại diện cho thế sự cũng là năng lực của Chúa, người thống lãnh tín đồ đạo Sikh. Và Ek Onkar là thánh ngữ của đạo Sikh có nghĩa là "Duy nhất một Chúa" được viết bằng tiếng Punjab xuất hiện ở bên ngoài của các ngôi đền Sikh giáo.

Đạo Sikh là một tôn giáo cải cách, ra đời trên cơ sở tiếp nhận giáo lý, giáo luật... của các tôn giáo ở Ấn Độ như Ấn giáo, Hồi giáo..., nên tư tưởng của nó có nhiều điểm tương đồng với các tôn giáo kể trên nhưng vẫn có cái riêng, cái đã tạo nên bản sắc không thể trộn lẫn của đạo Sikh với các tôn giáo khác.

Các tư tưởng cơ bản của Sikh giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Adi Granth (First Book) và Dasam Granth (Book of Tenth King) là thánh kinh của những người theo đạo Sikh. Adi Granth do Guru thứ năm Arjan biên soạn dựa trên những tài liệu đã được cha của ông biên soạn và sưu tập. Adi Granth được viết bằng chữ Gurmukhi (chữ này có những nét gần giống với mẫu tự của tiếng Phạn và chia làm 6 phần: (1) Japji: gồm có những bài kinh của Guru Nanak, được dùng trong lễ cầu nguyện sáng sau khi tắm. (2) So Daru: những bài kinh được dùng trong lễ cầu nguyện buổi chiều. (3) So Purkhu. (4) Sohila: là bài kinh cầu nguyện trước khi ngủ. (5) Rāg: phần này có cả thảy 31 phân đoạn tạo thành phần chính yếu của quyển kinh. (6) Bhog: có 13 chương được tụng vào những buổi lễ khác nhau. Riêng Dasam Granth là tập sách bổ sung cho bổn kinh Adi Granth do Guru thứ mười cũng là vị Guru cuối cùng Govind Singh biên soạn. Nó được viết bằng tiếng Hindi, giới thiệu những luật lệ quy định do chính Guru Govind Singh đặt ra[8].

Adi Granth cũng gọi là "Granth Sahib," hoặc "Darbar Sahib," là quyển kinh chính yếu được hầu hết mọi người tôn kính luôn được giữ gìn trân trọng trong đền thờ lớn Amristar. Adi Granth trình bày những giáo điều mà Guru Nanak và 9 vị Guru Thế tổ khác truyền lại, mở đầu bằng Mool mantar là những lời mà Guru Nanak dùng để mô tả về Chúa trời, và cũng là khái niệm cơ bản của đạo Sikh về Chúa trời nói chung. Nội dung chủ yếu thể hiện sự thống nhất của Chúa trời, mà cốt lõi của Chúa trời là sự thật (SAT NAAM), và là cái nội tại của mọi biểu hiện sáng tạo. Đạo Sikh, do đó, là một đơn thần giáo, nghĩa là chỉ tin và tôn thờ duy nhất một vị thần đó là Chúa trời (IKONKAAR). Chúa trời tạo ra vũ trụ, sự tồn tại của vũ trụ phụ thuộc vào ý chí của Chúa trời (KARTA PURKH). Chúa trời vượt ra ngoài phạm vi sinh, tử (AJOONI), không có hình thù, không có giới tính, chưa bao giờ và sẽ không bao giờ mang hình dáng con người trên trái đất. Chúa trời không có lòng hận thù (NIR VAIR) hay sợ hãi (NIR BHAU) mà luôn tràn ngập sự yêu thương. Người đã, đang và sẽ tồn tại mãi mãi. Chúa trời đến với nhân loại trên toàn thế gian thông qua lời nói được phát ra bởi các Guru được thể hiện dưới hình thức các shabads. Và Chúa luôn ngự ở trong lòng của mỗi chúng ta, mỗi một người nam hay nữ đều phải tìm Chúa trong chính bản thân mình.

Tư tưởng này đưa Đạo Sikh đến một trạng thái gọi là tôn giáo tại tâm của các cá nhân như đã đề cập ở trên. Tư tưởng này tương đồng với tư tưởng "chính Phật tại tâm" của trường phái Trúc Lâm Yên TửViệt Nam và cả trong tư tưởng "lòng tin nơi chính mình" của Martin Luther, người đã sáng lập ra đạo Tin Lành (Protestantisme).

Là một cộng đồng lớn đã cải cách trong Ấn Độ giáo, giáo lý của đạo Sikh ít nhiều có những điểm gần giống với tư tưởng Ấn giáo, chẳng hạn như những khái niệm về luân hồi (samsara) và nghiệp báo (karma). Đạo Sikh cho rằng, mục đích trong cuộc sống của con người là thoát ly sinh, tử và hợp nhất với Chúa trời, và theo họ, mục đích này có thể đạt được bằng cách nghe theo lời dạy của bậc đạo sư (Sat Guru – True guru), suy ngẫm về thánh lý và làm tất cả các công việc thiện và phục vụ mọi người. Đối với các tín đồ đạo Sikh, thiên đường chính là thế giới này! Thiện nghiệp có nghĩa là sự tái sinh làm lại thân con người; còn tái sinh làm súc sanh thì giống như ở trong địa ngục, đó là kết quả do ác nghiệp mà ra.

Tuy nhiên, trung thành với tôn chỉ, chỉ tin và tôn thờ duy nhất một vị thần, tín đồ đạo Sikh cấm không được tôn thờ nhiều thần, không sùng bái, không hành hương đến các điện thờ lớn của Hindu và thực hành các nghi lễ mù quáng. Họ không chấp nhận phương thức sống thụ động, thoát tục, trở thành tu sĩ hoặc chọn lối sống ẩn dật để trốn tránh đời sống thực tại. Trong tư duy của những người theo đạo Sikh, việc giải thoát hay không được giải thoát trong cuộc đời này là do mình. Họ cho rằng, mỗi một con người cần phải tu thân ngay trong cuộc sống hiện tại, và vượt lên những vất vả khó khăn trong cuộc sống hằng ngày bằng cách khắc phục năm tật xấu luôn tiềm tàng trong chính mỗi con người; đó là dâm dục, sân hận, tham lam, cố chấp (chấp thủ) và tự kiêu (ngã mạn).

Trong đạo Sikh, người phụ nữ rất được coi trọng, và quan niệm của họ về người phụ nữ có phần nào đồng tình với quan niệm đa thê của Hồi giáo "Chúng ta được sinh ra từ người phụ nữ, Người phụ nữ đã mang thai chúng ta, chúng ta đính hôn và kết hôn với phụ nữ. Chúng ta làm bạn với người phụ nữ, và nhờ người phụ nữ nòi giống mới được nối dõi. Khi một người phụ nữ chết, chúng ta lại kết hôn với người khác, chúng ta ràng buộc với thế giới qua người phụ nữ. Vậy tại sao chúng ta lại nói điều không tốt về người phụ nữ, những người đã sinh ra các vị Vua chúa? Người phụ nữ do chính người phụ nữ sinh ra, chẳng có một ai được sinh ra mà không có người phụ nữ. Duy nhất Chúa trời là không phải do người phụ nữ sinh ra"[9] (Guru Nanak, Var Asa). Đạo Sikh nhấn mạnh sự bình đẳng về xã hội và giới tính, cho rằng nam và nữ đều được coi trọng như nhau, phản đối tục giết bé gái sơ sinh hoặc tục thiêu sống người vợ cùng với người chồng đã chết, trái lại cho phép người góa phụ tái hôn[10]. Các tín đồ đạo Sikh tin rằng, muốn đạt tới cuộc sống tốt đẹp thì cần phải luôn giữ đức tin trong trái tim, khối óc, phải làm việc chăm chỉ và trung thực, phải có lòng hảo tâm bố thí cho tất cả mọi người. Sống biết chia sẻ với mọi người cũng là một trách nhiệm xã hội mà những người theo đạo Sikh cần phải biết, mỗi một cá nhân cần nên giúp đỡ những người có nhu cầu thông qua công việc từ thiện.

Một số nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

1. Sự khủng hoảng về chính trị, bất bình đẳng về tôn giáo, phân biệt nặng nề về đẳng cấp trong xã hội,... vào giai đoạn cuối vương triều Hồi giáo Đêli là những tiền đề cơ bản dẫn đến sự ra đời của đạo Sikh vào đầu thế kỷ 16 ở Ấn Độ. Điều này chúng ta thấy có sự tương đồng trong sự ra đời của Kitô giáo, của đạo Tin Lành và một số tôn giáo khác.

2. Tư tưởng cũng như cách hành đạo của đạo Sikh có nguồn gốc từ các tôn giáo ở Ấn Độ lúc bấy giờ mà rõ nhất là Ấn Độ giáo và Hồi giáo nhưng lại mang tính nhân văn hơn, gần gũi hơn với con người, đề cao "giá trị của con người quan trọng hơn địa vị hoặc giai cấp" hay "tìm chân lý ở chính bên trong bản thân mình"; cũng như cách tổ chức tôn giáo và hành đạo đơn giản hơn, cho phép tín đồ dễ thực hiện. Đây chính là điểm cải cách của Sikh giáo nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của người Ấn lúc bấy giờ.

3. Vốn là một tôn giáo hòa bình, chống lại sự bất bình đẳng về tôn giáo và đẳng cấp ở Ấn Độ nhưng từ sau sự kiện Guru Teg Bahadur bị hoàng đế Aurangzeb hành hình (1675), đạo Sikh đã đi đến chỗ tạo ra một đẳng cấp lãnh đạo thần quyền và quân sự, một kiểu giáo đoàn chiến đấu gồm những phần tử "tinh khiết và thuần nhất" tức các Khalsa để cuối cùng thuyết giáo về thánh chiến và lập ra một kiểu rửa tội khai tâm bằng thanh kiếm (chịu ảnh hưởng của Hồi giáo).

4. Đạo Sikh hiện là một trong những tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và tư tưởng của người dân Ấn Độ, với khoảng hơn 23 triệu tín đồ, trong đó 90% sống ở tiểu bang Punjab và khoảng hơn 1 triệu tín đồ sống ở Anh và các thuộc địa cũ của Anh. Mặc dù dân số theo Sikh giáo không bằng dân số theo Ấn Độ giáo nhưng họ là một cộng đồng gắn bó và thịnh vượng với sự liên kết văn hoá, tôn giáo mạnh mẽ, có khuynh hướng vươn tới một nhà nước Sikh độc lập tự chủ như vẫn dung hoà, với một bản sắc riêng biệt của đạo Sikh.

Mười vị guru[sửa | sửa mã nguồn]

# Tên Ngày sinh Thành guru Ngày mất Tuổi
1 Nanak Dev 15 tháng 4, 1469 20 tháng 8, 1507 22 tháng 9, 1539 69
2 Angad Dev 31 tháng 3, 1504 7 tháng 9, 1539 29 tháng 3, 1552 48
3 Amar Das 5 tháng 5, 1479 26 tháng 3, 1552 1 tháng 9, 1574 95
4 Ram Das 24 tháng 9, 1534 1 tháng 9, 1574 1 tháng 9, 1581 46
5 Arjan Dev 15 tháng 4, 1563 1 tháng 9, 1581 30 tháng 5, 1606 43
6 Har Gobind 19 tháng 6, 1595 25 tháng 5, 1606 28 tháng 2, 1644 48
7 Har Rai 16 tháng 1, 1630 3 tháng 3, 1644 6 tháng 10, 1661 31
8 Har Krishan 7 tháng 7, 1656 6 tháng 10, 1661 30 tháng 3, 1664 7
9 Tegh Bahadur 1 tháng 4, 1621 20 tháng 3, 1665 11 tháng 11, 1675 54
10 Gobind Singh 22 tháng 12, 1666 11 tháng 11, 1675 7 tháng 10, 1708 41
11 Guru Granth Sahib Không rõ 7 tháng 10, 1708 Không rõ Không rõ

Có một lưu ý nhỏ cần nên biết trong quyền kế vị Gurus của đạo Sikh là từ sáng tổ Nanak đến Guru thứ tư Ram Das thì việc kế thừa là dựa trên phẩm chất và năng lực của chính vị Guru tương lai. Tuy nhiên, từ Guru thứ năm Arjan đến vị guru cuối cùng Govind Singh thì quyền kế vị đơn thuần là cha truyền con nối[11]. Điều này dẫn đến lý do tại sao một số Gurus truyền tiếp đã tiếp nhận nhiều lý thuyết có vẻ như khác xa với ý tưởng nguyên bản của Guru Nanak. Mặc dù vậy, tất cả các vị Gurus đã củng cố và phát triển đạo Sikh ngày một lớn mạnh.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Adherents.com. “Religions by adherents” (PHP). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2007. 
  2. ^ Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Văn Ánh…, Lịch sử thế giới trung đại, Nxb Giáo dục, H, 2003, trang 355.
  3. ^ Merv Fowler, Merv Fowler, David Norcliffe, Nora Hill, and Diane Watkins, World Religions, Sussex Academic Press, 1997 tr. 338 và Marguerite-Marie Thiollier, Từ điển Tôn giáo, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001, tr. 578
  4. ^ Merv Fowler, Merv Fowler, David Norcliffe, Nora Hill, and Diane Watkins, sđd, tr. 337
  5. ^ Có thể nói đây là sự giản lược về nghi lễ Cầu nguyện (Salat) của Hồi giáo. Người Hồi giáo cầu nguyện mỗi ngày 5 lần vào sáng, trưa, chiều, tối và trước lúc đi ngủ, còn Sikh giáo chỉ cầu nguyện hai lần vào buổi sáng và buổi tối.
  6. ^ Thành tố đó đối với nữ giới là Kaur (có nghĩa là công chúa)
  7. ^ Chiếc khăn xếp trùm đầu không phải là một trong ngũ Ks, nhưng bộ râu và tóc dài không cắt cùng với chiếc khăn xếp đó từng được coi là nét văn hoá tiêu biểu của những người đàn ông Sikh.
  8. ^ C. H. Buck, Faiths, Fairs and Festivals of India, tr 172N3; Cũng xem, Joseph Davey Cunningham, A History of the Sikhs from the Origin of the Nation to the Battles of Sutlej, tr. 352-356.
  9. ^ Teja Singh, The Sikh Religion, An Outline of Its Doctrines, Gurupdesh Printers, New Delhi, 1997, tr. 9
  10. ^ C. H. Buck, Faiths, Fairs and Festivals of India, Asian Educational Services, New Delhi, 1999, tr. 165
  11. ^ Merv Fowler, World Religions, tr. 339 –351; Cũng xem, Joseph Davey Cunningham, A History of the Sikhs from the Origin of the Nation to the Battles of The Sutles, tr. 39-65.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Duggal, Kartar Singh (1988), Philosophy and Faith of Sikhism, Himalayan Institute Press, ISBN 0-893-89109-6 
  • Parrinder, Geoffrey (1971), World Religions: From Ancient History to the Present, Hamlyn Publishing Group, USA, ISBN 0-87196-129-6 
  • Singh, Khushwant (2006), The Illustrated History of the Sikhs, Oxford University Press, India, ISBN 0-195-67747-1 
  • Teece, Geoff (2004), Sikhism: Religion in focus, Black Rabbit Books, ISBN 1-583-40469-4 
  • Dilgeer, Dr Harjinder Singh (2007), Sikh Twareekh, publisher Sikh University Press & Singh Brothers Amritsar, 2007
  • Dilgeer, Harjinder Singh (2005), Dictionary of Sikh Philosophy, Sikh University Press

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]