Alexandros Đại đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Alexandros III Đại đế
Vua của Macedonia, Hegemon của Hy Lạp, Pharaong của Ai Cập, Shahenshah (hoàng đế) của Ba Tư
Alexandros Đại đế qua nét vẽ của Rembrandt
Alexandros Đại đế qua nét vẽ của Rembrandt
Tại vị 336 - 323 TCN
Tiền nhiệm Philipos II Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Alexandros IV Vua hoặc hoàng đế
Phối ngẫu Roxana của Bactria
Stateira của Ba Tư
Hậu duệ
Alexandros IV
Hoàng tộc Triều Argead
Thân phụ Philipos II
Thân mẫu Olympias
Sinh 20 tháng 7,356 TCN
Pella, Macedonia
Mất 10 tháng 6,323 TCN (32 tuổi)
Babylon

Alexandros Đại đế (tiếng Hy Lạp: Μέγας Αλέξανδρος[1], Megas Alexandros, Hán-Việt: A Lịch Sơn Đại đế) (Tháng 7 năm 356 TCN – 11 tháng 6 năm 323 TCN), cũng được biết đến như là Alexandros III, là Vua của Vương quốc Macedonia (336323 TCN) và được xem là một trong những vị tư lệnh thành công nhất trong lịch sử, người đã chinh phạt gần như toàn bộ thế giới mà ông biết trước khi chết; ông thường được xem là một trong những nhà chiến lược quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử.

Tiếp sau khi thống nhất các thành bang Hy Lạp cổ đại dưới sự cai trị của vua cha Philipos II của Macedonia[2], Alexandros chinh phục Đế chế Ba Tư, bao gồm cả Anatolia, Syria, Phoenicia, Gaza, Ai Cập, BactriaLưỡng Hà và mở rộng biên cương đế chế của ông đến xa tận Punjab. Alexandros thực hiện một chính sách hòa hợp: ông đưa cả những người ngoại quốc (không phải người Hy Lạp hay người Macedonia) vào chính quyền và quân đội của mình, ông khuyến khích hôn nhân giữa quân của mình với người nước ngoài và chính ông cũng lấy vợ ngoại quốc.

Sau mười hai năm liên tục tổ chức các chiến dịch quân sự, Alexandros chết, có lẽ là do sốt rét, thương hàn, hay viêm não do virút. Những cuộc chinh phạt của ông mở đầu cho nhiều thế kỉ định cư và thống trị của người Hy Lạp trên nhiều vùng đất xa xôi, một giai đoạn được gọi là thời kỳ Hy Lạp hóa. Bản thân Alexandros sống trong lịch sử và trong các truyền thuyết của các nền văn hóa Hy Lạp và không Hy Lạp. Ngay khi ông còn sống, và đặc biệt sau khi ông băng hà, những cuộc chinh phạt của ông đã là nguồn cảm hứng của một truyền thống văn học mà trong đó ông xuất hiện như là một anh hùng huyền thoại theo truyền thống của Achilles (Asin).

Mục lục

[sửa] Thời thơ ấu

Tranh khảm Alexandros đánh nhau với sư tử cùng với bạn của ông là Caterus.Tranh khảm thế kỷ thứ 3, bảo tàng Pella

Alexandros Đại đế là con trai của Vua Philipos II của Macedonia và người vợ thứ tư, công chúa Olympias xứ Epirus. Theo như Plutarch (Alexander 3.1,3), Olympias không phải thụ thai bởi Philipos, người sợ hãi bà, vì bà thích ngủ với rắn, nhưng bởi Zeus Ammon. Plutarch kể rằng cả Philipos và Olympias đều mơ đến sự ra đời trong tương lai của con trai họ. Olympias mơ một tiếng sấm lớn và một tia sét đánh vào tử cung của bà. Trong giấc mơ của Philipos, ông che tử cung của bà bằng tấm da của một con sư tử. Báo động bởi điều này, ông hỏi ý kiến nhà tiên tri Aristander xứ Telmessus, người xác định vợ ông sẽ có thai và đứa trẻ sẽ mang tính cách một con sư tử[3].

Aristotle là thầy của Alexandros và đã huấn luyện Alexandros về mọi mặt như thuật hùng biệnvăn học và gợi lên các sở thích của cậu ta trong khoa học, y khoatriết học. Sau khi viếng thăm Oracle xứ Ammon tại Siwa, theo như năm sử gia cổ đại (Arrian, Curtius, Diodorus, JustinPlutarch), lan đi những lời đồn là Oracle đã tiết lộ cha của Alexandros là Zeus, chứ không là Philipos. Theo như Plutarch, cha ông là hậu duệ của Heracles qua Caranus và mẹ là hậu duệ của Aeacus thông qua NeoptolemusAchilles[4]. Aristotle đưa cho cậu ta một bản Iliad mà cậu luôn giữ và đọc thường xuyên.

[sửa] Lên ngôi ở Macedonia

Khi Philipos lãnh đạo cuộc tấn công vào Byzantium năm 340 TCN, Alexandros, tuổi 16, được để lại như là quan chấp chính của Macedonia. Vào năm 339 TCN, Philipos lấy người vợ thứ năm, Cleopatra Eurydice xứ Macedonia. Vì mẹ của Alexandros, Olympias, là người từ Epirus (một vùng đất thuộc phần phía tây của bán đảo Hy Lạp và không phải là một phần của Macedonia), và Cleopatra là một người Macedonia chính gốc, điều này đã dẫn đến tranh cãi về quyền nối ngôi hợp pháp của Alexandros. Attalus, chú của cô dâu, được kể là nâng ly trong tiệc cưới để chúc cho lễ thành hôn sẽ sản sinh ra một người nối ngôi hợp pháp của xứ Macedonia; Alexandros hất cốc rượu vào Attalus nạt lớn "Thế thì ta là gì, một đứa con bất hợp pháp à?". Philipos hiển nhiên đã rút gươm ra và tiến về phía Alexandros, nhưng bị ngã vì quá say. Alexandros "Đây là người đàn ông dự định chinh phục từ Hy Lạp đến châu Á, và ông ta không thể di chuyển nổi từ bàn này sang bàn khác." Alexandros, mẹ và em gái (cũng tên là Cleopatra) sau đó bỏ Macedonia đi trong giận dữ.

Cuối cùng Philipos giảng hòa với con trai, và Alexandros quay trở lại nhà; Olympias và em gái của Alexandros vẫn ở lại Epirus. Vào năm 338 TCN Alexandros giúp vua cha trong trận quyết định Trận đánh Chaeronea chống lại các thành phố Hy Lạp tự trị AthenaThebes, cánh do đội kỵ binh dẫn đầu bởi Alexandros đã tiêu diệt Đoàn quân thánh chiến Thebes, một lực lượng tinh nhuệ được xem là bất khả chiến bại. Sau trận đánh, Philipos tổ chức ăn mừng trọng thể, và đáng để ý là Alexandros không tham dự (người ta tin rằng anh đang chăm sóc thương binh và chôn cất tử sỹ, của quân đội anh và của kẻ thù). Philipos bằng lòng tước quyền thống trị của Thebes đối với Boeotia và để lại một đội quân đồn trú trong thành. Một vài tháng sau, để gia cố sự thống trị của Macedonia đối với các thành phố Hy Lạp tự trị, Hiệp hội Corinth được thành lập.

Tượng của Alexandros Đại Đế, hiện vật của bảo tàng Louvre

Vào năm 336 TCN, Philipos bị ám sát tại lễ cưới của con gái ông Cleopatra xứ Macedonia với vua Alexandros I của Epirus, cậu bà. Kẻ ám sát được kể là một người được vua ân sủng trước đây, một nhà quý tộc trẻ bất mãn Pausanias, người có mối hận thù với Philipos vì nhà vua bỏ mặc một lời than phiền mà anh ta đã đưa ra. Vụ ám sát Philipos được xem là đã được tính toán trước với thông tin và sự tham gia của Alexandros hay Olympias. Một kẻ có khả năng là chủ mưu là Darius III, người vừa lên ngôi Vua Ba Tư. Plutarch đề cập đến một lá thư giận dữ từ Alexandros gửi Darius, trong đó Alexandros đổ thừa cho Darius và Bagoas, là quan tể tướng, cho cái chết của vua cha, nói rằng chính Darius là người đã khoác lác với các thành phố Hy Lạp là ông ta đã tổ chức ám sát Philip như thế nào. Sau cái chết của Philipos, quân đội suy tôn Alexandros, lúc này 20 tuổi, như là vua mới của Macedonia. Các thành phố Hy Lạp như AthenaThebes, bị bắt buộc phải quy phục Philipos, thấy vị vua mới như là một cơ hội để giành lại hoàn toàn quyền độc lập của họ. Alexandros hành động nhanh chóng và Thebes, là thành phố chống lại anh tích cực nhất, đã đầu hàng khi anh xuất hiện ở cửa thành. Hội đồng Hy Lạp tại Eo Corinth, với ngoại lệ Sparta, bầu anh lên như là tư lệnh chống lại Ba Tư, mà trước đây chức danh này được phong tặng cho cha anh.

Năm kế tiếp, (335 TCN), Alexandros cảm thấy tự do tiến đánh ThraciaIllyria để bảo vệ Danube như là biên giới phương bắc của Vương quốc Macedonia. Trong khi anh đang chinh phạt phía bắc một cách thắng lợi, người Thebes và Athena lại nổi dậy một lần nữa. Alexandros phản ứng lập tức và trong khi các thành phố khác lại một lần nữa do dự, Thebes lần này quyết định chống trả cật lực nhất. Sự chống trả là vô ích; cuối cùng, thành phố bị chinh phục với nhiều máu đổ. Người Thebes chịu số phận thê thảm hơn khi thành phố bị đốt trụi và lãnh thổ bị chia ra giữa các thành phố Boeotian khác. Hơn nữa, tất cả các công dân của thành phố bị bán thành nô lệ, chỉ chừa lại các thầy tu, các lãnh tụ của các đảng ủng hộ Macedonian và hậu duệ của Pindar, người mà nhà không bị đụng chạm đến. Kết cục của Thebes làm Athena sợ hãi mà đầu hàng và sẵn sàng chấp nhận yêu sách của Alexandros cho lưu đày các lãnh tụ của đảng chống lại Macedonia, Demosthenes là người đầu tiên.

[sửa] Giai đoạn của các cuộc chinh phạt

Bản đồ của đế quốc Macedonia dưới triều Alexandros

[sửa] Sự sụp đổ của Đế quốc Ba Tư

Quân của Alexandros đã vượt qua Hellespont với khoảng 42.000 binh sỹ - chủ yếu là người Macedonia[5] và Hy Lạp, đa phần là từ các thành phố tự trị phía nam Hy Lạp, nhưng cũng có bao gồm một số người Thracia, Paionia và Illyria. Sau một chiến thắng khởi đầu chống lại lực lượng Ba Tư tại Trận đánh Granicus, Alexandros chấp nhận sự đầu hàng của thủ phủ tỉnh Ba Tư và ngân khố của Sardis và tiếp tục tiến xuống bờ biển Ionia. Tại Halicarnassus, Alexandros đã thành công trong việc tổ chức những cuộc bao vây đầu tiên, cuối cùng buộc đối phương, thuyền trưởng đánh thuê Memnon xứ Rhodes và các satrap (thống đốc) Ba Tư của Caria, Orontobates, phải rút lui bằng đường biển. Alexandros trao Caria cho Ada, người từng là nữ hoàng xứ Caria trước khi bị chiếm ngôi bởi người em trai là Pixodarus. Từ Halicarnassus, Alexandros tiến vào vùng núi Lycia và đồng bằng Pamphylia, khẳng định chủ quyền trên tất cả các thành phố ven biển và từ chối quyền đó cho kẻ thù của ông. Từ Pamphylia trở đi, bờ biển không còn cảng lớn nào và do đó Alexandros di chuyển vào trong lục địa. Tại Termessus, Alexandros khiêm tốn nhưng không ập vào thành phố Pisidia. Tại thủ đô cổ đại Phrygia của xứ Gordium, Alexandros "tháo" nút thắt Gordian Knot, một thách thức được nói là chờ cho vị "vua châu Á" trong tương lai. Theo một câu chuyện sinh động nhất, Alexandros nói rằng không cần biết làm thế nào nút thắt được mở ra, và ông cắt nó bằng thanh gươm. Một dị bản khác nói ông đã không dùng gươm, nhưng thực sự đã tìm ra cách mở nút.

Quân của Alexandros băng qua Cổng Cilician, chạm phải và đánh bại quân chủ lực của Ba Tư dưới sự chỉ huy của Darius III trong Trận đánh Issus vào năm 333 TCN. Darius tháo chạy khỏi trận đánh trong hoảng loạn bỏ lại vợ là Stateira I, hai con gái, mẹ già, và phần lớn của cải cá nhân. Sisygambis, mẹ của hoàng hậu, không bao giờ tha thứ Darius đã bỏ rơi con gái bà. Bà chối bỏ Darius, và Alexandros đã cưới được một con gái của Darius III là Stateira II. Tiến xuống bờ biển Địa Trung Hải, anh lấy được TyreGaza sau những trận vây hãm nổi tiếng (xem Cuộc bao vây Tyre). Alexandros đi ngang qua gần đó nhưng có lẽ không ghé vào Jerusalem.

Vào năm 332 TCN – 331 TCN, Alexandros được chào đón như là người giải phóng ở Ai Cập của thời Ptolemy và được công nhận là con trai của Zeus bởi các tu sỹ Ai Cập thờ thần Ammon tại Đền thờ thần ở Ốc đảo Siwa trong sa mạc ở Libya. Từ đó trở về sau, Alexandros nhắc đến thần Zeus-Ammon như là cha thật sự của mình, và sau đó đồng tiền có hình ông với sừng cừu như là chứng minh cho niềm tin phổ biến này. Ông thành lập thành phố Alexandria ở Ai Cập, sau đó trở thành một kinh đô phồn vinh của triều đại Ptolemy sau khi ông qua đời. Rời khỏi Ai Cập, Alexandros hành quân về phía đông vào vùng Assyria (bây giờ là bắc Iraq) và đánh bại Darius và quân đội Ba Tư thứ ba tại Trận đánh Gaugamela. Darius buộc phải bỏ chạy sau khi người lái chiến xa của ông ta bị giết, và Alexandros đuổi theo ông ta xa đến tận Arbela. Trong khi Darius chạy về vùng núi về phía Ecbatana (nay là Hamadan), Alexandros tiến về thành Babylon.

Từ Babylon, Alexandros đi đến Susa, một trong những thủ đô Achaemenid, và chiếm được kho báu. Gửi đi toàn bộ quân lính đến Persepolis, thủ đô Ba Tư, bằng Đường Hoàng gia, Alexandros ập vào và chiếm được Cổng Ba Tư (vùng nay là Dãy núi Zagros), sau đó đánh vào Persepolis trước khi kho báu ở đó có thể bị cướp phá. Alexandros cho phép lực lượng liên hợp cướp phá Persepolis. Một ngọn lửa lớn bùng cháy ở dinh thự phía đông của Xerxes và lan đi khắp thành phố. Không ai biết việc đốt cháy Athenian Acropolis là một tai nạn do say rượu hay là một hành động trả thù cố ý trong Chiến tranh Ba Tư lần hai. Cuốn Sách của Arda Wiraz, một tác phẩm Zoroastrian được viết ra vào thế kỉ thứ 3 hay 4, cũng nói về những thư viện lưu trữ chứa đựng "tất cả Avesta và Zand, được viết trên những tấm da bò đã thuộc, với mực mạ vàng" đã bị thiêu hủy; nhưng những câu như vậy thường bị nghi ngờ bởi các học giả, bởi vì nói chung là người ta nghĩ rằng qua nhiều thế kỉ Avesta chủ yếu được truyền khẩu bởi những người Magia.

Anh sau đó đuổi theo và bắt được Darius, ông này sau bị giết bởi những đồ đệ của Bessus, thống đốc vùng Bactria và cũng là một người bà con. Bessus sau đó tự tuyên bố là người kế vị của Darius như là Artaxerxes V và rút lui vào vùng Trung Á để tiến hành chiến tranh du kích đánh lại Alexandros. Với cái chết của Darius, Alexandros tuyên bố cuộc chiến trả thù đã chấm dứt, và giải thể quân Hy Lạp và các đồng minh khác trong chiến dịch Đồng minh (mặc dù anh cho phép những ai muốn thì tái đăng kí như là lính đánh thuê trong quân đội hoàng gia của anh ta).

Chiến dịch ba năm của Alexandros ban đầu là chống lại Darius và sau đó là các satrap (thống đốc) của các vùng Sogdiana, Spitamenes, đã đưa anh qua các vùng Media, Parthia, Aria, Drangiana, Arachosia, BactriaScythia. Trong quá trình đó, anh chiếm được và tái thiết lập HeratMaracanda. Hơn nữa, anh lập ra một chuỗi các thành phố mới, tất cả đều gọi là Alexandria, bao gồm cả Kandahar ngày nay ở Afghanistan, và Alexandria Eschate ("Xa nhất") ở vùng nay là Tajikistan. Cuối cùng cả hai đều bị phản lại bởi tay chân thân cận của của họ, Bessus vào năm 329 TCN và Spitamenes năm sau đó.

[sửa] Những sự chống đối Alexandros

Trong thời gian này, Alexandros cho phổ biến một số loại áo quần và phong tục Ba Tư trong triều đình của anh, đáng chú ý là phong tục proskynesis, một cách hôn tay tượng trưng mà người Ba Tư thường làm để tỏ lòng kính trọng với những người có địa vị xã hội cao hơn, nhưng phong tục này không được người Hy Lạp chấp thuận. Những người Hy Lạp cho là cử chỉ này được dành riêng cho các thần linh và tin rằng Alexandros tự thần thánh hóa chính anh ta bằng cách yêu cầu cử chỉ đó. Điều này đã làm giảm sút sự thông cảm đáng kể đối với anh ta trong những người cùng quê hương. Nơi này cũng diễn ra một vụ mưu sát anh nhưng bị bại lộ, và một trong những sỹ quan, Philotas, bị xử tử vì tội phản bội vì đã không báo lên âm mưu đó kịp thời. Parmenion, cha của Philotas, người là đứng đầu một quân đoàn tại Ecbatana, bị ám sát theo lệnh của Alexandros, người sợ rằng Parmenion có thể trả thù cho con trai. Một số cuộc xử án khác về tội phản bội theo sau đó, và nhiều người Macedonia bị xử tử. Sau đó, trong một trận cãi nhau lúc say rượu tại Maracanda, anh cũng giết một người đàn ông đã cứu sống anh tại Granicus, Clitus Đen. Sau đó trong chiến dịch Trung Á, một vụ mưu sát Alexandre thứ hai được khám phá, lần này là bởi những người hầu cận của anh, và sử gia chính thức của anh, Callisthenes xứ Olynthus (người đã bị thất sủng vì đã dẫn đầu trong việc chống lại việc giới thiệu phong tục proskynesis), bị xử là liên đới chủ mưu và nhiều sử gia cho rằng đây là những vu cáo. Tuy nhiên, các chứng cứ khá rõ là Callisthenes, thầy của các người hầu cận, phải là người dụ dỗ họ ám sát nhà vua.

[sửa] Xâm lược Ấn Độ

Sau cái chết của Spitamenes và đám cưới của anh với Roxana (Roshanak trong tiếng Bactria) để củng cố quan hệ mới thiết lập với các tiểu vương vùng Trung Á, vào năm 326 TCN Alexandros cuối cùng rảnh tay để quay sự chú ý về phía Ấn Độ. Alexandros cho mời tất cả các thủ lĩnh của vùng trước là tiểu vương quốc xứ Gandhara, về phía bắc của vùng nay là Pakistan, đến gặp anh và chấp nhận đầu hàng. Ambhi, người cai trị xứ Taxila, với vương quốc trải dài từ sông Ấn đến tận Hydaspes (sông Jhelum), tuân theo. Nhưng thủ lĩnh của một số bộ tộc vùng cao bao gồm các phần AspasiosAssakenois của Kambojas (tên cổ), được biết trong sử sách Ấn Độ như là AshvayanaAshvakayana (những cái tên chỉ bản chất cưỡi ngựa của họ), từ chối không đầu hàng.

Alexandros thân chinh thống lĩnh lính cầm khiên, bộ binh, lính bắn cung người Agriania và lính cưỡi ngựa phóng lao tấn công bộ lạc Kamboja -- người Aspasios của thung lũng Kunar/Alishang, người Guraean của thung lũng Guraeus (Panjkora), và người Assakenois ở thung lũng SwatBuner. Một trận đánh khốc liệt với người Aspasios và chính Alexandros bị trọng thương nơi vai vì trúng lao nhưng cuối cùng người Aspasios thua trận; 40.000 người của họ bị bán thành nô lệ. Người Assakenois đối đầu Alexandros với quân đội bao gồm 30.000 kị binh, 38.000 bộ binh và 30 voi[6]. Họ đã chiến đấu dũng cảm và kháng cự ngoan cường chống lại quân xâm lược trong nhiều địa điểm cố thủ ở các thành phố Ora, Bazira và Massaga. Đồn Massaga chỉ bị hạ sau nhiều ngày đánh nhau đẫm máu và chính Alexandros bị thương ở cổ chân. Khi thủ lĩnh của Massaga ngã xuống trên chiến trường, quyền tổng tư lệnh vào tay bà mẹ già của ông ta Cleophis (q.v.) người cũng cương quyết bảo vệ đất mẹ đến hơi thở cuối cùng. Việc Cleophis giữ quyền tổng chỉ huy quân đội đã đưa toàn bộ lực lượng phụ nữ địa phương vào chiến trận[7]. Alexandros chỉ có thể hạ được Massaga bằng cách sử dụng các âm mưu chính trị và nội phản. Theo như Curtius: "Alexandros không chỉ thảm sát toàn bộ dân thành Massaga, nhưng ông ta còn phá hủy các tòa nhà thành những đống đổ nát." Một cuộc thảm sát tương tự diễn ra tại Ora, một địa điểm phòng thủ khác của người Assakenois.

Sau những cuộc thảm sát và đốt phá bởi Alexandros ở Massaga và Ora, rất nhiều người Assakenois chạy lên một đồn cao gọi là Aornos. Alexandros đuổi sát theo họ và chiếm được đồn trên đồi cao nhưng chỉ sau bốn ngày đánh nhau ác liệt. Câu chuyện của Massaga được lặp lại ở Aornos và sự tàn sát người bộ lạc diễn ra tương tự sau đó.

Viết về chiến dịch của Alexandros chống lại người Assakenois, Victor Hanson nhận xét: "Sau khi hứa hẹn những người Assacenis xung quanh rằng họ sẽ được tha mạng khi bị bắt, ông xử tử tất cả lính đã đầu hàng. Các điểm phòng thủ của họ ở Ora và Aornus cũng bị đánh ập vào. Các quân đoàn đóng trong đó có lẽ đều bị thảm sát.”[8]

Sisikottos, người đã giúp Alexandros trong chiến dịch này, được phong làm thống đốc của Aornos.

Sau khi hạ được Aornos, Alexandros băng qua sông Indus và đánh và thắng trận lịch sử chống lại Porus, vua của xứ đó trong vùng Punjab trong Trận đánh Hydaspes vào năm 326 TCN.

Sau chiến thắng này, Porus đã gây được ấn tượng mạnh mẽ với Alexandros về sự dũng cảm trong chiến đấu, vì vậy liên minh được với Alexandros và được ông cho giữ chức phó vương, cai quản vương quốc của chính mình, thậm chí còn thêm một số vùng đất khác nữa. Alexandros đặt tên cho một trong hai thành phố mới mà ông ta tìm được là Bucephala, tên của con ngựa đã đưa ông đến Ấn Độ. Alexandros tiếp tục chinh phục toàn bộ vùng thượng nguồn sông Indus.

Phía Đông của vương quốc Porus, gần sông Hằng, là đế chế hùng mạnh Ma Kiệt Đà dưới sự cai trị của triều đại Nanda. Lo sợ về khả năng phải đối mặt với một đội quân Ấn Độ hùng mạnh khác nữa và kiệt sức bởi nhiều năm chinh chiến, quân đội của ông nổi loạn ở sông Hyphasis (nay là Beas), không muốn chiến đấu tiếp nữa:

"Về phần người dân Macedonia, dẫu sao, cuộc chiến với Porus làm mài mòn lòng dũng cảm của họ và ngăn cản họ tiến xa hơn vào Ấn Độ. Thay vì làm tất cả những gì có thể để đẩy lùi kẻ thù với quân số chỉ có 20000 bộ binh và 2000 chiến mã, họ lại kịch liệt chống lại Alexandros khi ông khăng khăng đòi vượt qua sông Hằng, mà họ biết rộng 32 Fulông, sâu 100 sải, trong khi các nhánh sông phía bên kia được mai phục bởi vô số bộ binh, kỵ sĩ và voi. Họ được báo rằng các vị vua của Ganderites và Praesii đang đợi họ với 80000 kỵ sĩ, 200000 lính đánh bộ, 8000 xe ngựa và 6000 voi thiện chiến." Theo Plutarch, Vita Alexandri, 62 [9]

Alexandros, sau khi bàn bạc với các cố vấn Coenus, bị thuyết phục quay trở lại. Alexandros buộc phải trở về phía nam. ông gửi phần lớn quân đến Carmania (hiện thuộc phía nam Iran) với tướng Craterus, và giao nhiệm vụ thăm dò vịnh Ba Tư dưới quyền của đô đốc Nearchus, trong khi ông dẫn đoàn quân còn lại về bằng con đường phía nam qua Gedrosia (ngày nay là Makran phía nam Pakistan).

[sửa] Sau Ấn Độ

Alexandros và Porus, họa phẩm của Charles Le Brun, 1673.

Phát hiện rằng rất nhiều phó vương và thủ lĩnh các đội quân của ông cư xử không đứng đắn khi ông vắng mặt, Alexandros cho hành hình rất nhiều người trong số họ làm gương trên đường đến Susa. Để biểu lộ thiện chí, ông ban thưởng cho binh lính và thông báo rằng ông sẽ gửi những người lính già và tàn tật về Macedonia dưới quyền của Craterus, nhưng quân đội hiểu nhầm ý định của ông và nổi dậy ở thị trấn của Opis, từ chối bị gửi đi và chỉ trích cay độc việc chấp nhận phong tục, trang phục của người Ba Tư và sự gia nhập của lính Ba Tư vào đoàn quân Macedonia. Alexandros cho hành quyết những kẻ cầm đầu cuộc nổi loạn, nhưng tha tội cho binh lính. Với dự định thiết lập mối giao hảo lâu dài giữa những người Macedonia và người Ba Tư, ông tổ chức hàng loạt hôn lễ giữa các sĩ quan của ông và người Ba Tư và cả những phụ nữ quý tộc Susa, nhưng rất hiếm cuộc hôn nhân nào kéo dài được hơn 1 năm.

Nỗ lực nhằm hòa hợp nền văn hóa Persia với những người lính Hi Lạp của ông còn thể hiện ở việc huấn luyện một đội quận gồm những chàng trai Persia theo cách của người Macedonia. Không có ghi chép chắc chắn về việc Alexandros chấp nhận cách gọi vua của người Ba Tư shahenshah ("đại hoàng đế" hay "vị vua của các vị vua"). Tuy nhiên, hầu hết các sử gia đều tin rằng ông đã chấp nhận việc đó.

Có giả thiết là Alexandros đã muốn xâm chiếm hoặc nhập với bán đảo Ả Rập, nhưng giả thiết này vẫn còn đang được tranh cãi. Có người cho rằng Alexandros đã tiến về phía tây và tấn công CarthageÝ thay vì chiếm Ả Rập.

[sửa] Qua đời

Sau hành trình đến Ecbatana để lấy lại phần lớn của cải của Ba Tư, người bạn thân nhất và được ông yêu mến, tên là Cleitos đã chết vì bệnh tật. Alexandros đã quẫn trí, mắc bệnh và băng hà trên đường trở về tại cung điện của Nebuchadrezzar II, Babylon vào 10 tháng 6, 323 TCN, khi mới 33 tuổi.[10]

[sửa] Nguyên nhân

[sửa] Người kế vị

Sau khi ông chết, Alexandros được kế vị bởi một người anh khác mẹ của ông, Philip III Arrhidaeus (khoảng 359 TCN-317 TCN). Vài tuần sau đó, Roxana sinh hạ một người con trai, cũng mang tên Alexandros, cũng được lên ngôi, Alexandros IV. Nhưng, các vua này chỉ là bù nhìn, còn đế quốc đã bị các vị tướng lãnh hàng đầu phân chia.[11]

Năm 317 TCN, Philip III bị giết chết bởi mẹ Alexandros, Olympias. Xong đến năm 308 TCN, Alexandros IV bị tướng Cassander ám sát.[12] Từ đó, lần lượt các tướng lãnh của Alexandros đều lần lượt xưng vương/đế ở các vùng đất mà họ chiếm giữ.[13]

[sửa] Đời tư

Sự gắn bó sâu sắc nhất về tình cảm của Alexandros hầu như được cho là đối với người đồng hữu, người chỉ huy đội kị binh (chiliarchos) và là người bạn từ thời thơ ấu của ông, Hephaestion. Ông học cùng Alexandros, như một nhóm trẻ em con nhà quý tộc khác ở Macedonia, dưới sự dạy dỗ của Aristotle. Hephaestion đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên trong lịch sử của mình vào thời điểm Alexandros tiến đến Troia. Tại đây hai người bạn đã hi sinh tại các đền thờ của hai vị anh hùng AchillesPatroclus; Alexandros tại đền thờ Achilles, và Hephaestion tại đền thờ Patroclus. Aelian trong cuốn Varia Historia (12.7) khẳng định rằng Hephaestion "tiết lộ ông là eromenos ["người tình"] của Alexandros, như Patroclus đối với Achilles vậy."

Một số nhà sử học đã đặt nghi vấn về khẳng định về mối quan hệ đồng tính giữa Alexandros và Hephaestion. Robin Lane Fox viết rằng tuy "những lượm lặt gần đây nhất cho khẳng định rằng Alexandros có mối quan hệ yêu đương với Hephaiston", không có văn kiện lịch sử đương thời nào nói về vấn đề này. Tuy nhiên, Fox nói thêm, "sự thực là tình bạn của hai người đàn ông này sâu sắc và thân thiết một cách khác thường." [14] Vì cái chết của Hephaestion, Alexandros khóc thương cho ông ta rất nhiều, và không ăn uống gì trong mấy ngày liền.

[sửa] Chú thích

  1. ^ Cái tên Αλέξανδρος bắt nguồn từ các từ άλεξ (bảo vệ) và άνδρας (người) trong tiếng Hy Lạp
  2. ^ Một việc Alexandros phải lặp lại hai lần vì các miền phía nam Hy Lạp nổi loạn sau khi Philipos qua đời
  3. ^ Plutarch, Alexander 2.2-3.
  4. ^ Plutarch, Alexander 2.1.
  5. ^ See note 1
  6. ^ Curtius.
  7. ^ (Ancient India, 1971, p 99, Dr R. C. Majumdar; History and Culture of Indian People, The Age of Imperial Unity, Foreign Invasion, p 46, Dr R. K Mukerjee.
  8. ^ Carnage and Culture: Landmark Battles in the Rise to Western Power, 2002, p 86, Victor Hanson.
  9. ^ Plutarch, Vita Alexandri, 62
  10. ^ Theo cuốn Lịch sử thế giới, tài liệu nước ngoài do Bùi Đức Tịnh biên dịch, phần Alexander đại đế trang 76
  11. ^ Theo cuốn Lịch sử thế giới, tài liệu nước ngoài do Bùi Đức Tịnh biên dịch, phần Alexander đại đế trang 76
  12. ^ Bức tường cổ tôn vinh Alexander Đại đế
  13. ^ Ví dụ như vào năm 305 TCN, Ptolemy xưng đế ở Ai Cập, Seleucus xưng đế ở các vùng đất Trung Á, và Cassander xưng vương tại Macedonia.
  14. ^ Nghiên cứu về Alexandros, Little, Brown và Co. Boston, 1980, p. 261.

[sửa] Liên kết ngoài


Tiền nhiệm:
Philip II
Vua Macedonia
336–323 TCN
Kế vị:
Philip III & Alexandros IV
Tiền nhiệm:
Darius III
Hoàng đế Ba Tư vĩ đại (Shah)
330–323 TCN
Pharaong của Ai Cập
332–323 TCN

Công cụ cá nhân