Mentuhotep II

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mentuhotep II
Tiên vương:
Intef III
Pharaông của Ai Cập
Vương triều thứ 11
Kế vị:
Mentuhotep III
Mentuhotep Seated edit.jpg
Niên đại 2046 TCN - 1995 TCN
Tên ngai
<
ra
nb
Hp
>

Nebhepetre
The Lord of the Rudder is Re[1]
Tên riêng
<
mn
n
T
w Htp
t p
>

Mentu-hotep
The God Montu is Content[2]
Hôn phối Tem, Neferu, 5 phi tần khác
Mất 1995 TCN


Nebhotepre Mentuhotep II (cai trị: 2046 TCN-1995 TCN) là vị pharaoh đã sáng lập ra Vương triều thứ 11 thuộc Ai Cập cổ đại, triều đại đầu tiên của Trung vương quốc. Ông thống nhất lại vương quốc bằng những chiến thắng trong cuộc nội chiến giữa các tiểu vương quốc, thời suy của Cổ vương quốc. Mentuhotep II này đã đóng đô ở Thebes (Ai Cập). Ông cũng cải tổ lại Ai Cập sau thời chiến, đất nước trở lại thịnh vượng. Ông sống thọ khoảng 51 tuổi và băng hà năm 1995 TCN, mộ ông rất lớn nằm ở Deir el-Bahri. Ông chỉ có duy nhất một người con được biết đến là Mentuhotep III.

Nhà vua đã vài lần thay đổi tên của mình trong triều đại của ông, có lẽ để phản ánh các sự kiện chính trị quan trọng. Tên lúc lên nối ngôi của ông là Nebhepetre, và ông là vị vua đầu tiên của thời Trung vương quốc Ai Cập. Cuộn giấy Turin cho là ông có một triều đại 51 năm [3]

Trong năm thứ 14 của triều đại của ông, một cuộc nổi loạn đã xảy ra. Điều này có thể được liên hệ với các cuộc xung đột giữa Mentuhotep II có căn cứ tại Thebes và triều đại thứ 10 đối thủ ở Herakleopolis Magna.

Trong triều đại của ông, Mentuhotep đã có thể thống nhất Ai Cập lần đầu tiên kể từ khi triều đại thứ 6. Thời gian chính xác khi thống nhất đất nước là không được biết đến, nhưng nó được giả định là đã xảy ra trong thời gian trước năm 39 của triều đại của ông[4]

Mentuhotep II đã dẫn đầu chiến dịch quân sự ở phía nam nhằm vào Nubia, mà đã giành được độc lập trong thời kỳ chuyển tiếp đầu tiên. Ngoài ra còn có bằng chứng về hành động quân sự chống lại người Canaan. Nhà vua đã tổ chức lại đất nước và đặt một tể tướng vào vị trí đứng đầu chính quyền. Các vị Tể tướng của triều đại của ông là BebiDagi. Quan coi quốc khố của ông là Khety, người đã tham gia vào tổ chức lễ hội sed cho nhà vua. Các quan chức quan trọng khác là quan coi quốc khố Meketre và quan trông coi ấn Meru. Tướng của ông là Intef

Mentuhotep II đã được chôn cất trong một ngôi mộ lớn, mà ông đã xây dựng tại Deir el-Bahri. Mentuhotep II cũng xây dựng nhiều đền thờ và nhà nguyện ở một số nơi thuộc vùng Thượng Ai Cập. Những nơi này bao gồm Denderah, Abydos, Armant và Gebelein.[5]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.narmer.pl/dyn/11en.htm
  2. ^ Clayton, Peter A. Chronicle of the Pharaohs: The Reign-by-Reign Record of the Rulers and Dynasties of Ancient Egypt. Thames & Hudson. p72. 2006. ISBN 0-500-28628-0
  3. ^ [1]
  4. ^ Grajetzki, The Middle Kingdom, p. 19
  5. ^ Grajetzki, The Middle Kingdom, p. 20-21

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • W. Grajetzki, The Middle Kingdom of Ancient Egypt: History,Archaeology and Society, Duckworth, London 2006 ISBN 0-7156-3435-6, 18-23
  • Labib Habachi: King Nebhepetre Menthuhotep: his monuments, place in history, deification and unusual representations in form of gods. Annales du Service des Antiquités de l'Égypte 19 (1963), p. 16-52

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền vị:
Intef III
Pharaoh của Ai Cập
Triều địa thứ 11
Kế vị
Mentuhotep III