Khufu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khufu
Cheops
Tiên vương:
Sneferu
Pharaông của Ai Cập
Vương triều thứ 4
Kế vị:
Djedefre
Tượng của Khufu ở Bảo tàng Ai Cập tại Cairo
Niên đại 2589 TCN - 2566 TCN[1]
23 năm
Tên riêng
G39 N5
<
Aa1 G43 I9 G43
>

Khufu
Được Khnum che chở[2]
Tên
thần Horus
Medjedu
Tên Nebty
(hai quý bà)
Nebty-r-medjed
Horus Vàng Bikwy-nub
Hôn phối Meritates, Henutsen,
và 2 người nữa không biết tên[1]
Con cái Djedefre, Kawab, Khafre,
Djedefhor, Banefre,
Khufukaef, Hetepheres II,
Meresankh II, Khamerernebty[1]
Cha Sneferu
Mẹ Hetepheres I
Mất 2566 TCN
Công trình lớn Kim tự tháp lớn Giza, con tàu Khufu


Khufu, còn có tên là Cheops (phát âm theo tiếng ViệtKê-ốp) hay Kheops hay Suphis theo Manetho, (trị vì: 2589 - 2566 TCN) là một vị pharaong vào thời kì Cổ vương quốc của Ai Cập cổ đại. Ông là vị vua thứ hai của Vương triều thứ 4. Khufu thường được coi là chủ nhân của Kim tự tháp lớn ở Giza, một trong Bảy kì quan thế giới cổ đại. Tên của Khufu nghĩa là "Được Khnum che chở"[3].

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là con trai của vua Sneferu, người sáng lập ra Vương triều thứ 4hoàng hậu Hetepheres I. Khác với cha mình, Khufu được đề cập như một pharaong tàn bạo và nhẫn tâm trong văn hóa dân gian thời kỳ sau[4]. Bản thân cha ông, Sneferu cũng là một chủ nhân của những kim tự tháp lớn (Kim tự tháp BentKim tự tháp ĐỏDahshur). Ông đã cưới Henutsen, Meritates và hai hoàng hậu khác. Ông có chín người con trai và một trong số đó, Djedefre được chỉ định làm thừa kế trực tiếp. Ông cũng có 15 người con gái, một trong số đó về sau là vợ của Djedefre, nữ hoàng Hetepheres II.

Năm sinh của Khufu không rõ; chỉ biết ông lên ngôi pharaong khi ông khoảng 20 tuổi, năm 2589 TCN, sau khi Sneferu băng hà và cai trị được 23 năm theo Danh sách các vị vua Turin. Ông cai trị vào một thời đại hoàng kim của Ai Cập, người ta còn bàn cãi nhiều về thời gian cai trị của ông. Có một số người như nhà sử học Manetho cho là ông đã cai trị lâu hơn: Khufu làm vua khoảng 65 năm; Herodotus cho là 50 năm.

Vua Khufu đã lệnh cho Tể tướng Hemon, vị quan đầu triều bấy giờ cho 300.000 công nhân xây Đại kim tự thápGiza[5], kim tự tháp lớn nhất Ai Cập. Ông cũng cho đúc con tàu Khufu, một di sản văn hoá được phát hiện ở Giza năm 1954. Theo truyền thuyết con tàu này để vị hoàng đế đầy quyền lực thực hiện chuyến đi cuối cùng trên Trái Đất trước khi ông bị chôn vùi mãi mãi trong kim tự tháp. Ông băng hà vào năm 2566 TCN. Ông được coi là một pharaoh huyền thoại. Trong số chín người con trai của ông có hai người sau này trở thành pharaong là Djedefre và Khafre. Khufu là một vị vua đã mất những pho tượng còn nguyên vẹn thân hình ông, chỉ còn duy nhất một pho tượng nguyên vẹn ở Bảo tàng Ai Cập tại Cairo. Người ta vẫn chưa rõ về cuộc đời Khufu.

Chinh phạt[sửa | sửa mã nguồn]

Kim tự tháp lớn, lăng mộ hoành tráng của Khufu ở Giza

Trong thời gian trị vì của của mình, Khufu cũng mở ra nhiều cuộc chinh phạt như xâm chiếm bán đảo Sinai, LibyaNubia. Ở trong kim tự tháp lớn của ông có mô tả nhiều chiến công của ông.

Dấu tích[sửa | sửa mã nguồn]

Xác ướp Khufu không được tìm thấy trong bất cứ một phòng nào kim tự tháp Khufu. Không rõ xác ướp của ông được chôn ở đâu.

Gần đây, một nhóm nhà khảo cổ người Nhật Bản đã phát hiện ra một hầm đá được xây dựng vào Vương triều thứ 26 (664-625 TCN), thời kì Ai Cập đã sắp dưới ách đô hộ của người Ba Tư. Ở trong đó có một tượng nhân sư rất lớn được đặt trên bệ đá giữa hai chân nó. Đây là dấu tích quan trọng nhất về Khufu được phát hiện, cho thấy vị hoàng đế huyền thoại này đã được tôn làm thánh vào thời Vương triều thứ 26. Trên đầu tượng nhân sư có ghi: Khufu, vị hoàng đế thứ nhì của Vương triều thứ 4. Xung quanh còn có 14 pho tượng khác tượng trưng những người lính hộ vệ của Khufu. Nhân sư là con vật huyền thoại Ai Cập tượng trưng cho quyền năng của thần linh. Vì vậy, nhà Ai Cập học Nozonu Kawai giải thích: Nhân sư mang tên của Cheops là một bằng chứng quan trọng, chứng tỏ ông đã được chính thức phong làm thánh ở Vương triều thứ 26 của Ai Cập[6].

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà văn Ai Cập Naguib Mahfouz, người đã được giải Nobel văn học năm 1988, có viết một câu chuyện nói về vua Khufu và hai người con trai đã kế vị ngai vàng ông, Djedefre và Khafre[7].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Clayton, Peter A. 'Chronicle of the Pharaohs. p42. Thames and Hudson, London, 2006. ISBN 978-0-500-28628-9
  2. ^ King Kheops truy cập 18 tháng 11, 2006
  3. ^ Peter Clayton, Chronicle of the Pharaohs, Thames and Hudson Ltd, 2006 paperback, p.42
  4. ^ Pharaoh Khufu, Pr Ntr Kmt, Truy cập 30-3-2008
  5. ^ Kimmelman, Michael (1999-09-17). “Egyptian Art: The Mysterious Lure of an Old Friend”. The New York Times. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2007. 
  6. ^ Dấu ấn của Hoàng đế Cheops trên bức tượng nhân sư
  7. ^ Naguib Mahfouz, Abath al-Aqdar (1939); xem giới thiệu

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]