Hatshepsut

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Hatshepsut
Hatshepsut
Tiên vương:
Thutmosis II
Pharaông của Ai Cập
Vương triều thứ 18
Kế vị:
Thutmosis III
Tượng của Hatshepsut tại Bảo tàng nghệ thuật Metropolitan
Niên đại 1479 TCN - 1458 TCN
Tên ngai
M23 L2
<
ra mAat kA
>

Maatkare[1]
Truth Ma'at is the Ka of Re
Tên riêng
G39 N5
<
i mn

n
W9 t
F4

t
A51
>

Khnumt-Amun Hatshepsut[1]
Joined with Amun ,
Foremost of Noble Ladies
Tên
thần Horus
G5
wsr s X1
D28
D28
D28
Srxtail2.GIF
Wesretkau[1]
Mighty of Kas
Tên Nebty
(hai quý bà)
G16
M13 X1 M4 M4 M4
Wadjrenput[1]
Flourishing of years
Horus Vàng
G8
G5
nTr t xa
Z2
Netjeretkhau[1]
Divine of appearance
Hôn phối Thutmosis II
Con cái Neferure
Cha Thutmosis I
Mẹ Hoàng hậu Ahmose
Sinh khoảng 1508 TCN[2]
Mất 1458 TCN
Chôn cất KV20 (chôn lại tại KV60[2])
Công trình lớn Đền Karnak, Deir el-Bahri,
Speos Artemidos


Hatshepsut (khoảng 1508-1458 TCN), con gái của pharaoh Thutmosis I cũng như vợ và em gái của pharaoh Thutmosis II, trị vì Ai Cập trong khoảng 1479-1458 TCN thuộc Vương triều thứ 18 sau khi Thutmosis II mất. Hatshepsut được đánh giá là một trong những nữ vương quyền lực nhất trong lịch sử thế giới cổ đại. Bà trị vì trong 21 năm, lâu hơn bất cứ vị nữ pharaoh trong lịch sử và để lại một loạt những công trình và tác phẩm điêu khắc ấn tượng, trong đó có lăng mộ Djeser-Djeseru của bà, một kiệt tác về kiến trúc. Bà đã lên ngôi năm 1479 TCN làm nhiếp chính cho cậu con trai nhỏ của Thutmosis II và thứ phi IsetThutmosis III (10 tuổi) lên ngôi và Hatshepsut đã đồng cai trị với ông. Sau khi Hatshepsut mất, Thutmosis III đã đập phá lăng mộ của Hatshepsut nhằm mục đích xoá bỏ hình ảnh Hatshepsut trong tâm trí người Ai Cập. Xác ướp của bà đã được nhà Ai Cập học Zahi Hawass tìm thấy vào tháng 6 năm 2007.

Mục lục

[sửa] So sánh với những nhà cai trị nữ khác

Dù một phụ nữ cầm quyền là điều hiếm xảy ra ở Ai Cập, điều này cũng không phải chưa từng xảy ra. Với tư cách nhiếp chính Hatshepsut là người tiếp sau Merneith của vương triều thứ nhất, người đã được chôn cất với danh dự cao nhất của một pharaoh và có thể đã đích thân cầm quyền. Nimaethap của vương triều thứ ba có thể từng là người thừa kế tước hiệu của Khasekhemwy, nhưng chắc chắn đã hành động như một nhiếp chính cho con trai bà, Djoser, và có thể đã cai trị như một pharaoh.[3] Hoàng hậu Sobekneferu của vương triều thứ mười hai được biết là đã nắm quyền lực chính thức như nhà cai trị của "Thượng và Hạ Ai Cập" ba thế kỷ trước Hatshepsut. Ahhotep I, được tán dương như một nữ hoàng chiến binh, có thể từng là một nhiếp chính giữa thời cầm quyền của hai con trai bà, KamoseAhmose I, ở cuối vương triều thứ mười bảy và bắt đầu vương triều thứ mười tám của chính Hatshepsut. Amenhotep I, cũng là người trước Hatshepsut ở vương triều thứ mười tám, có lẽ đã lên nắm quyền khi một đứa trẻ và mẹ của nó, Ahmose-Nefertari, được cho là đã từng là một nhiếp chính cho ông ta.[4] Các phụ nữ khác mà sự cầm quyền của họ được ví với các pharaoh đang được nghiên cứu gồm phụ nữ cùng nhiếp chính/người kế tục Akhenaten (thường được gọi là Nefertiti hay Meritaten) và Twosret. Trong số những người sau này, những vương triều không phải gốc Ai Cập, ví dụ đáng chú ý nhất về một người phụ nữ khác đã trở thành pharaoh là Cleopatra VII, pharaoh cuối cùng của Ai Cập cổ đại.

So sánh với các pharaoh nữ khác, thời kỳ cầm quyền của Hatshepsut kéo dài và thịnh vượng. Bà đã thành công trong việc tiến hành chiến tranh thời kỳ đầu cầm quyền, nhưng nói chung bà được coi là pharaoh đã mở ra một thời kỳ hoà bình lâu dài. Bà đã tái lập các quan hệ thương mại đã mất trong thời gian chiếm đóng nước ngoài và mang lại sự thịnh vượng lớn cho Ai Cập. Sự thịnh vượng này cho phép Hatshepsut tiến hành các dự án xây dựng mang lại tầm vóc và tiêu chuẩn mới cho kiến trúc Ai Cập cổ đại, so với kiến trúc cổ đại, và sẽ không bị một nền văn hoá khác vượt quá cho tới một ngàn năm sau.

[sửa] Gia đình và tuổi trẻ

Hoàng hậu Ahmose, Pharaoh Thutmose I, và con gái Neferure, mẹ, cha, và chị của Hatshepsut (note her youthful sidelock)

Hatshepsut là con gái lớn của Thutmose IHoàng hậu Ahmose, vị vua và hoàng hậu đầu tiên của dòng họ Thutmoside của vương triều thứ mười tám. Thutmose I và Ahmose được biết chỉ có một người con trai, một người con gái, Akhbetneferu (Neferubity), đã chết khi còn trẻ. Thutmose I cũng cưới Mutnofret, có lẽ là con gái của Ahmose I, và sinh ra nhiều anh em cùng cha khác mẹ với Hatshepsut: Wadjmose, Amenose, Thutmose II, và có lẽ Ramose, trong cuộc hôn nhân thứ hai này. Cả Wadjmose và Amenose đều được chuẩn bị để nối ngôi cha, nhưng không người nào sống qua tuổi thanh niên.

Khi cha bà mất năm 1493 trước Công Nguyên, Hatshepsut lấy người em cùng cha khác mẹ, Thutmose II, và lấy danh hiệu Phu nhân Đại Hoàng gia. Thutmose II cai trị Ai Cập trong ba hay mười ba năm. Phụ nữ hoàng gia cũng đóng một vai trò chủ chốt trong tôn giáo Ai Cập cổ đại. Thông thường một hoàng hậu có nhiệm vụ trong các nghi lễ tại các đền, như các nữ tu, trong một nền văn hoá nơi tôn giáo hoàn toàn trộn lẫn với các vai trò của các nhà cai trị. Ở thời Hatshepsut con gái các vị vua thường hoạt động trong vai trò vợ Thần (ḥmt nṯr), đó là một vai trò thần thánh thường được đảm nhiệm bởi các phụ nữ hoàng gia ở vương triều thứ mười tám. [5]

Hatshepsut có một con gái với Thutmose II, Neferure. Một số học giả cho rằng Hatshepsut và Thutmose II đã chuẩn bị cho Neferure trở thành người kế vị, thực hiện các bức chân dung chính thức của con gái họ với một bộ râu giả của hoàng gia và món tóc bên như được thấy ở những bức điêu khắc, chạm nổi và bức vẽ còn lại. Có nhiều hình ảnh của bà với người vú và các giám hộ trong các bảo tàng.

Khi Thutmose II mất, ông chỉ có một người con trai còn trẻ, Thutmose III, để kế vị. Thutmose III sinh ra như con trai của Isis, một người vợ thiếp của Thutmose II, chứ không phải của Phu Nhân Đại Hoàng gia, Hatshepsut, như Neferure. Vì Thutmose III còn khá trẻ, ông không thể thực hiện các nhiệm vụ của một pharaoh. Thay vào đó, Hatshepsut trở thành nhiếp chính của Ai Cập ở thời điểm đó, nắm các trách nhiệm nhà nước, và được công nhận bởi giới lãnh đạo tôn giáo. Thời điểm đó, con gái bà, Neferure, nắm vai trò của Hatshepsut từng đảm nhiệm trở thành nữ hoàng trong các nghi lễ tôn giáo. Sự sắp xếp chính trị này được miêu tả chi tiết trong các bản khắc trong hầm mộ của Ineni, một quan chức cao cấp trong triều:

Ngài (Thutmose II) đã đi thẳng tới thiên đường trong chiến thắng, đã hoà lẫn vào các vị thần; Con trai ngài thay thế trở thành vị vua của Hai Vùng đất, trở thành nhà cai trị của ngôi báu của cha mình. Chị gái ngài (Thutmose II's) Hoàng hậu Thần thánh, Hatshepsut đã sắp đặt công việc của Hai Vùng đất bằng lý trí của những kế hoạch của bà. Ai Cập được tạo ra để nỗ lực với sự cung kính dành cho, hạt giống tuyệt diệu của thần thánh (Thutmose I), xuất phát từ ngài.[6]

Vì thế, tuy Thutmose III được coi là người đồng nhiếp chính Ai Cập, triều đình hoàng gia công nhận Hatshepsut như là pharaoh trên ngôi cho tới khi bà qua đời. Mọi người tin rằng Neferure đã chết trước mẹ bởi những miêu tả về bà biến mất trước khi thời kỳ cầm quyền của vị pharaoh nữ kết thúc.

Thutmose III cầm quyền như pharaoh trong hơn ba mươi năm sau khi Hatshepsut mất. Mối quan hệ này giữa Neferure và Amenemhat đang bị giới học giả tranh luận, nhưng bởi Neferure được thể hiện trong đền chôn cất mẹ bà, có một số người tin rằng Neferure vẫn còn sống vài năm sau trong thời kỳ cai trị của Thutmose III, rằng con trai lớn của ông, Amenemhat, là con bà, và rằng vì thế ông là người kế vị ngôi báu của Thutmose III cho tới khi ông mất.[7]

[sửa] Cầm quyền

[sửa] Ngày tháng và thời gian cầm quyền

Hatshepsut được các học giả cổ đại cho rằng đã cai trị trong hai mươi hai năm. Josephus đã viết rằng bà cầm quyền hai mốt năm và chín tháng, trong khi Africanus nói thời kỳ cầm quyền của bà dài hai mươi hai năm, nhưng cả hai người đều trích dẫn theo Manetho. Bắt đầu từ thời điểm này trong lịch sử, những ghi chép về thời kỳ cầm quyền của Hatshepsut chấm dứt, bởi chuiến dịch chính đầu tiên ra nước ngoài của Thutmose III được xác định vào năm thứ hai hai của ông, và đó cũng là năm cầm quyền thứ hai hai của Hatshepsut.[8] Tuy nhiên, việc xác định thời điểm bắt đầu cầm quyền của bà khó khăn hơn thế. Cha bà bắt đầu nắm quyền từ năm 1506 hay 1526 trước Công Nguyên theo các biên niên sử hạ và thượng.[9] Tuy nhiên khoảng thời gian cầm quyền của Thutmose I và Thutmose II, không thể được xác định chắc chắn hoàn toàn. Với những thời cầm quyền ngắn, Hatshepsut đã có thể lên ngôi mười bốn năm sau khi Thutmose I, cha bà, trở thành pharaoh.[10] Những thời kỳ cầm quyền dài sẽ đặt thời điểm lên ngôi của bà là hai mươi nhăm năm sau khi Thutmose I lên ngôi.[11] Vì thế, Hatshepsut có thể đã nắm quyền lực sớm ngay từ năm 1512 trước Công Nguyên, hay muộn vào năm 1479 trước Công Nguyên.

Chứng thực sớm nhất về việc Hatshepsut cầm quyền như pharaoh xuất hiện trong hầm mộ của cha mẹ của Senenmut nơi một tuyển tập gỗ khắc chứa trong một bình gốm hay vỏ hai quai duy nhất hay từ hầm mộ, được đóng dấu với niên đại Năm 7.[12] Một bình khác cũng từ hầm mộ này được khám phá nguyên trạng trong một cuộc thám hiểm năm 1935-1936 của Metropolitan Museum of Art trên một quả đồi gần Thebes được đóng dấu của 'Hatshepsut Vợ Thần Linh' trong khi hai bình khác mang dấu The Good Goddess Maatkare. '[13] Niên đại của chiếc vỏ hai quai, "được đóng dấu bên trong phòng chôn cất [của hầm mộ] bằng những mảnh vỡ của chính hầm mộ của Senenmut," là không thể tranh cãi có nghĩa rằng Hatshepsut được công nhận như nhà vua của Ai Cập ở năm thứ 7 thời kỳ cai trị của bà.[14]

[sửa] Các thành tựu chính

Tập tin:Trees to transplant from Punt to Egypt - Hatshepsut Mortuary Temple.JPG
Thương mại với các quốc gia khác đã được tái lập; ở đây cây được tàu chở từ Punt được thể hiện đang được đưa lên bờ để trồng ở Ai Cập - chạm nổi từ đền tang Hatshepsut
Djeser-Djeseru là công trình chính thuộc khu vực đền tang của Hatshepsut tại Deir el-Bahri. Được thiết kế bởi Senemut, tể tướng của bà, công trình là một ví dụ về sự đối xứng hoàn hảo có trước Parthenon, và nó là khu phức hợp đầu tiên được xây dựng trên địa điểm bà chọn lựa, sau này sẽ trở thành Thung lũng của các vị Vua

Hatshepsut đã thiết lập mạng lưới thương mại từng bị ngắt quãng trong thời Hyksos chiếm đóng Ai Cập ở Thời kỳ trung gian thứ hai, nhờ đó tạo lập sự thịnh vượng cho vương triều thứ mười tám.

Bà giám sát việc chuẩn bị và cung cấp nguồn lực cho một phái bộ tới Vùng đất của Punt. Đoàn thám hiểm lên đường nhân danh bà trên năm con tàu, mỗi tàu dài 70 feet (21 m) với nhiều cột buồm và có 210 người gồm các thuỷ thủ và 30 tay chèo. Nhiều hàng hoá trao đổi được mang theo tới Punt, đáng chú ý nhất là nhựa thơm.

Tuy nhiên, điều đáng để ý nhất, người Ai Cập đã mang theo về từ chuyến đi này ba mươi mốt cây hương trầm sống, rễ của chúng được giữ cẩn thận trong những chiếc giỏ trong suốt chuyến hành trình. Đây là nỗ lực đầu tiên được ghi nhận trong việc di thực cây cối từ nước ngoài. Lời tường thuật nói rằng Hatshepsut đã cho trồng những cây này trong những sân vườn khu phức hợp đền tang lễ Deir el Bahri của bà. Người Ai Cập cũng mang về những người Punt. Chuyến đi thám hiểm tới Phunt này diễn ra khoảng năm cai trị thứ mười chín của Hatshepsut.

Bà đã cho khắc để tưởng nhớ chuyến thám hiểm này tại Deir el-Bahri, đây cũng là nơi nổi tiếng về những bức hoạ thể hiện chân thực Nữ hoàng của Vùng đất của Punt, Nữ hoàng Iti, người có lẽ có một đặc điểm di truyền được gọi là mông nhiều mỡ. Hatshepsut cũng cử các đoàn thám hiểm tới Byblos và Sinai ngay sau chuyến thám hiểm tới Punt. Rất ít điều được biết về các cuộc thám hiểm này. Dù nhiều nhà Ai Cập học đã cho rằng chính sách đối ngoại của bà chù yếu là hoà bình,[15] có bằng chứng cho thấy Hatshepsut đã chỉ huy những chiến dịch quân sự thành công tại Nubia, miền Cận Đông, và Syria trong những năm đầu cầm quyền.

[sửa] Các dự án xây dựng

Hatshepsut là một trong những người tiến hành nhiều công trình xây dựng nhất thời Ai Cập cổ đại, với hàng trăm dự án xây dựng ở cả ThượngHạ Ai Cập, với tầm vóc và số lượng to lớn hơn mọi công trình của những bậc tiền bối thời Vương triều Giữa của bà. Các pharaoh sau này đã tìm cách chiếm một số công trình của bà thành của họ.

Bà sử dụng nhà kiến trúc vĩ đại Ineni, người cũng từng làm việc cho cha bà, chồng bà, và cho vị tể tướng hoàng gia Senemut. Trong thời cai trị của bà, tượng được sản xuất nhiều đến nỗi hầu như mọi bảo tàng lớn trên thế giới đều có tượng của Hatshepsut trong bộ sưu tập của mình; ví dụ Phòng Hatshepsut tại Metropolitan Museum of ArtThành phố New York được dành riêng để trưng bày những tác phẩm đó.

Tuân theo truyền thống của hầu hết các pharaoh, Hatshepsut cũng có các công trình tưởng niệm xây dựng tại Đền Karnak. Bà cũng tái lập Khu Mut nguyên thuỷ, đại nữ thần cổ đại Ai Cập, tại Karnak từng bị cướp phá bởi những kẻ cai trị nước ngoài trong thời chiếm đóng của Hyksos. Bà có hai đài tưởng niệm hình tháp, cao nhất thế giới thời ấy, được dựng lên trên lối vào ngôi đền. Một tháp vẫn còn tồn tại và là đài tưởng niệm hình tháp thời cổ đại cao nhất còn sót lại trên trái Đất; tháp kia đã bị vỡ thành hai mảnh và bị đổ.

Một dự án khác, Nhà nguyện Đỏ Karnak, hay Nhà nguyện Đỏ, ban đầu được dự định cùng với hai tháp trở thành bộ ba chói lọi, có thể đã tồn tại giữa hai tháp của bà. Sau này bà ra lệnh xây thêm hai tháp nữa để kỷ niệm năm thứ mười sáu làm pharaoh; một tháp đã bị vỡ trong quá trình xây dựng, và ví thể một tháp thứ ba được xây lên để thay thế nó. Tháp vỡ bị bỏ lại ở địa điểm khai thác đá tại Aswan, nơi nó vẫn tồn tại đến ngày nay. Được gọi là Tháp chưa hoàn thành, nó cho thấy các tháp đã được khai thác đá như thế nào.[16]

Nhà nguyện đỏ của Hatshepsut - Karnak

Đền Pakhet do Hatshepsut xây dựng tại Beni Hasan trong Minya Governorate phía nam Al Minya. Cái tên, Pakhet là một sự tổng hợp khi kết hợp BastSekhmet, người giống nữ thần chiến tranh hình sư tử, trong một khu vực bao quanh phía bắc và phía nam nơi thờ cúng họ. Đền hang dưới đất, được đào vào các vách đá trên sườn phía đông của sông Nile, được người Hy Lạp ca ngợi và gọi là Speos Artemidos trong thời họ chiếm đóng Ai Cập, thời kỳ được gọi là Triều đại Ptolemaic. Họ coi vị nữ thần như một hình tượng khác của nữ thần săn bắn Artemis của họ. Đền này được cho là đã được xây dựng dọch theo nhiều đền cổ đại khác đã không còn tồn tại. Đền này có một architrave với một văn bản đề tặng dài thể hiện sự lên án nổi tiếng của Hatshepsut với Hyksos đã được James P. Allen dịch.[17] Họ đã chiếm đóng Ai Cập và khiến nó rơi vào sự suy thoái văn hoá kéo dài tới một sự hồi sinh được đưa lại bởi các chính sách và cải cách của bà. Đền này say này đã bị thay đổi và một số trang trí bên trong của nó đã bị Seti I chiếm đoạt, ở thời vương triều thứ mười chín, nhằm đưa tên ông thay thế Hatshepsut.

Theo truyền thống của nhiều pharaoh, kiệt tác của các dự án xây dựng của Hatshepsut là đền tang lễ của bà. Bà đã xây cho mình một khu phức hợp tại Deir el-Bahri. Nó được thiết kế và thực hiện bởi Senemut tại một địa điểm trên Bờ Tây Sông Nile gần lối vào cái ngày nay được gọi là Thung lũng của các vị Vua bởi mọi pharaoh sau này đều lựa chọn xây dựng khu phức hợp của họ với sự huy hoàng của bà. Các công trình của bà là những công trình lớn đầu tiên được dự định cho địa điểm đó. Điểm trung tâm là Djeser-Djeseru hay "sự Hùng vĩ của những điều Hùng vĩ", một cấu trúc kiểu dãy cột hài hoà tuyệt đối gần một ngàn năm trước khi đền Parthenon được xây dựng. Djeser-Djeseru nằm ở trên một loạt tầng bậc từng được tô đẹp với các khu vườn tươi tốt. Djeser-Djeseru được xây dựng thành kiểu mặt vách nổi cao phía trên nó. Djeser-Djeseru và các công trình khác thuộc khu phức hợp Dei el-Bahri của Hatshepsut được coi là những tiến bộ quan trọng trong kiến trúc. Một thành tựu lớn khác của bà là cột hình tháp Hatshepsut (cũng được gọi là đài tưởng niệm hình tháp granite).

[sửa] Những lời ca ngợi chính thức

Hyperbole is common, virtually, to all royal inscriptions of Egyptian history. While all ancient leaders used it to laud their achievements, Hatshepsut has been called the most accomplished pharaoh at promoting her accomplishments.[18] This may have resulted from the extensive building executed during her time as pharaoh, in comparison to many others. It afforded her with many opportunities to laud herself, but it also reflects the wealth that her policies and administration brought to Egypt, enabling her to finance such projects. Aggrandizement of their achievements was traditional when pharaohs built temples and their tombs.

Large granite sphinx bearing the likeness of the pharaoh Hatshepsut, depicted with the traditional false beard, a symbol of her pharaonic power - Metropolitan Museum of Art

Women had a high status in ancient Egypt and enjoyed the legal right to own, inherit, or will property. A woman becoming pharaoh was rare, however, only Khentkaues, Sobeknefru, and possibly Nitocris[19] preceded her in known records as ruling solely in their own name. The latter's existence is disputed and is likely a mis-translation of a male king. Twosret, a female king and the last pharaoh of the nineteenth dynasty, may have been the only woman to succeed her among the indigenous rulers. In Egyptian history, there was no word for a "queen regnant" and by the time of her reign, pharaoh had become the name for the ruler. Hatshepsut is not unique, however, in taking the title of king. Sobekneferu, ruling six dynasties prior to Hatshepsut, also did so when she ruled Egypt. Hatshepsut had been well trained in her duties as the daughter of the pharaoh. During her father's reign she held the powerful office of God's Wife. She had taken a strong role as queen to her husband and was well experienced in the administration of her kingdom by the time she became pharaoh. There is no indication of challenges to her leadership and, until her death, her co-regent remained in a secondary role, quite amicably heading her powerful army—which would have given him the power necessary to overthrow a usurper of his rightful place, if that had been the case.

Hatshepsut assumed all of the regalia and symbols of the pharaonic office in official representations: the Khat head cloth, topped with the uraeus, the traditional false beard, and shendyt kilt.[18] Many existing statues alternatively show her in typically feminine attire as well as those that depict her in the royal ceremonial attire. Statues portraying Sobekneferu also combine elements of traditional male and female iconography and, by tradition, may have served as inspiration for these works commissioned by Hatshepsut.[20] After this period of transition ended, however, most formal depictions of Hatshepsut as pharaoh showed her in the royal attire, with all of the pharaonic regalia.

At her mortuary temple, in Osirian statues that regaled the transportation of the pharaoh to the world of the dead, the symbols of the pharaoh as Osiris were the reason for the attire and they were much more important to be displayed traditionally, her breasts are obscured behind her crossed arms holding the regal staffs of the two kingdoms she ruled. This became a pointed concern among writers who sought reasons for the generic style of the shrouded statues and led to misinterpretations. Understanding of the religious symbolism was required to interpret the statues correctly. Interpretations by these early scholars varied and often, were baseless conjectures of their own contemporary values. The possible reasons for her breasts not being emphasized in the most formal statues, were debated among some early Egyptologists, who failed to take into account the fact that many women and goddesses portrayed in ancient Egyptian art often lack delineation of breasts, and that the physical aspect of the gender of pharaohs was never stressed the art. With few exceptions, subjects were idealized.

Osirian statues of Hatshepsut at her tomb, one stood at each pillar of the extensive structure, note the mummification shroud enclosing the lower body and legs as well as the crook and flail associated with Osiris - Deir el-Bahri
The Hawk of the Pharaoh, Hatshepsut - Temple at Luxor

Modern scholars, however, have theorized that by assuming the typical symbols of pharaonic power, Hatshepsut was asserting her claim to be the sovereign rather than a "King's Great Wife" or queen consort. The gender of pharaohs was never stressed in official depictions; even the men were depicted with the highly-stylized false beard associated with their position in the society.

Moreover, the Osirian statues of Hatshepsut—as with other pharaohs—depict the dead pharaoh as Osiris, with the body and regalia of that deity. All of the statues of Hatshepsut at her tomb follow that tradition. The promise of resurrection after death was a tenet of the cult of Osiris. Since many statues of Hatshepsut depicted in this fashion have been put on display in museums and those images have been widely published, viewers who lack an understanding of the religious significance of these depictions have been misled.

Most of the official statues commissioned of Hatshepsut show her less symbolically and more naturally, as a woman in typical dresses of the nobility of her day. Notably, even after assuming the formal regalia, Hatshepsut still described herself as a beautiful woman, often as the most beautiful of women, and although she assumed almost all of her father's titles, she declined to take the title "The Strong Bull" (the full title being, The Strong Bull of his Mother), which tied the pharaoh to the goddesses Isis, the throne, and Hathor, (the cow who gave birth to and protected the pharaohs)—by being her son sitting on her throne—an unnecessary title for her, since Hatshepsut became allied with the goddesses, herself, which no male pharaoh could. Rather than the strong bull, Hatshepsut, having served as a very successful warrior during the early portion of her reign as pharaoh, associated herself with the lioness image of Sekhmet, the major war deity in the Egyptian pantheon.

Religious concepts were tied into all of these symbols and titles. By the time of Hatshepsut's reign, the merger of some aspects of these two goddesses provided that they would both have given birth to, and were the protectors of, the pharaohs. They became interchangeable at times. Hatshepsut also traced her lineage to Mut, a primal mother goddess of the Egyptian pantheon, which gave her another ancestor who was a deity as well as her father and grandfathers, pharaohs who would have become deified upon death.

While Hatshepsut was depicted in official art wearing regalia of a pharaoh, such as the false beard that male pharaohs also wore, it is most unlikely that she ever wore such ceremonial decorations, just as it is unlikely that the male pharaohs did. Statues such as those at the Metropolitan Museum of Art, depicting her seated wearing a tight-fitting dress and the nemes crown, are thought to be a more accurate representation of how she would have presented herself at court.[21]

As a notable exception, only one male pharaoh abandoned the rigid symbolic depiction that had become the style of the most official artwork representing the ruler, Pharaoh Amenhotep IV (later Akhenaten) of the same eighteenth dynasty, whose wife, Nefertiti, also may have ruled in her own right following the death of her husband.

One of the most famous examples of the legends about Hatshepsut is a myth about her birth. In this myth, Amun goes to Ahmose in the form of Thutmose I and awakens her with pleasant odors. At this point Amun places the ankh, a symbol of life, to Ahmose's nose, and Hatshepsut is conceived by Ahmose. Khnum, the god who forms the bodies of human children, is then instructed to create a body and ka, or corporal presence/life force, for Hatshepsut. Heket, the goddess of life and fertility, and Khnum then lead Ahmose along to a lioness bed where she gives birth to Hatshepsut. Reliefs depicting each step in these events are at Karnak and in her mortuary temple.

The Oracle of Amun proclaimed that it was the will of Amun that Hatshepsut be pharaoh, further strengthening her position. She reiterated Amun's support by having these proclamations by the god Amun carved on her monuments:

Welcome my sweet daughter, my favorite, the King of Upper and Lower Egypt, Maatkare, Hatshepsut. Thou art the Pharaoh, taking possession of the Two Lands.[22]

Hatshepsut claimed that she was her father's intended heir and that he made her the heir apparent of Egypt. Almost all scholars today view this as historical revisionism, or prolepsis, on Hatshepsut's part since it was Thutmose II—a son of Thutmose I by Mutnofret—who was her father's heir. Moreover, Thutmose I could not have foreseen that his daughter Hatshepsut would outlive his son within his own lifetime. Thutmose II soon married Hatshepsut and the latter became both his senior royal wife and the most powerful woman at court. Biographer Evelyn Wells, however, accepts Hatshepsut's claim that she was her father's intended successor. Once she became pharaoh herself, Hatshepsut supported her assertion that she was her father's designated successor with inscriptions on the walls of her mortuary temple:

Then his majesty said to them: "This daughter of mine, Khnumetamun Hatshepsut—may she live!—I have appointed as my successor upon my throne... she shall direct the people in every sphere of the palace; it is she indeed who shall lead you. Obey her words, unite yourselves at her command." The royal nobles, the dignitaries, and the leaders of the people heard this proclamation of the promotion of his daughter, the King of Upper and Lower Egypt, Maatkare—may she live eternally.[23]

American humorist Will Cuppy wrote an essay on Hatshepsut which was published after his death in the book The Decline and Fall of Practically Everybody. Regarding one of her wall inscriptions, he wrote,

For a general notion of Hatshepsut's appearance at a certain stage of her career, we are indebted to one of those wall inscriptions. It states that "to look upon her was more beautiful than anything; her splendor and her form were divine." Some have thought it odd that the female Pharaoh should have been so bold, fiftyish as she was. Not at all. She was merely saying how things were about thirty-five years back, before she had married Thutmose II and slugged it out with Thutmose III. "She was a maiden, beautiful and blooming", the hieroglyphics run, and we have no reason to doubt it. Surely there is no harm in telling the world how one looked in 1515 B.C.[24]

[sửa] Cái chết, tang lễ và ướp xác

Hatshepsut qua đời, ở thời điểm chúng ta sẽ gọi là tuổi trung niên xét theo tuổi thọ đặc trưng hiện tại, trong năm cầm quyền thứ hai mươi hai của mình.[25] Ngày mất chính xác của Hatshepsut—và thời gian khi Thutmose III trở thành pharaoh của Ai Cập—được coi là Năm 22, II Peret ngày 10 của thời kỳ cùng cai trị của họ, như được ghi lại trên một tấm bia duy nhất được dựng tại Armant[26] hay ngày 16 tháng 1 năm 1458 trước Công Nguyên.[27] Thông tin này xác nhận sự đáng tin cậy cơ bản của những ghi chép về danh sách các vị vua của Manetho bởi ngày lên ngôi của Thutmose III và Hatshepsut được biết là I Shemu ngày 4.[28] (ví dụ: Hatshepsut mất 9 tháng ở năm cầm quyền thứ 22 của mình như Manetho viết trong Bản tóm tắt của ông với thời gian cai trị 21 năm và 9 tháng) Không lời đề cập nào về nguyên nhân cái chết còn lại. Nếu việc xác định xác ướp của bà gần đây (xem bên dưới) là chính xác, tuy nhiên, việc chụp X quang máy tính sẽ cho thấy rằng bà chết vì bị nhiễm trùng máu ở độ tuổi năm mươi.[2][29] Nó cũng cho thấy rằng bà mắc chứng viêm khớp, hàm răng kém, và có thể cả tiểu đường.[2]

[sửa] Chôn cất

Xem thêm: KV20

Hatshepsut đã bắt đầu xây dựng một hầm mộ khi bà là Đại Phu nhân Hoàng gia của Thutmose II, nhưng tầm vóc của nó không xứng đáng với một pharaoh, vì thế khi lên ngôi, việc chuẩn bị một nơi chôn cất khác đã được đặt ra. Hầm mộ KV20 này, ban đầu được xây dựng cho cha bà Thutmose I và có lẽ là hầm mộ hoàng gia đầu tiên trong Thung lũng của các nhà vua, đã được mở rộng với một phòng chôn cất mới. Hatshepsut cũng chửa chữa lại nơi chôn cất của cha bà và chuẩn bị một phòng cho cả Thutmose I và cả bà trong KV20. Vì thế dường như khi bà chết (không muộn hơn hai mươi hai năm cầm quyền của bà), bà được chôn cất trong hầm mộ này cùng cha.[30] Tuy nhiên, trong thời gian cầm quyền của Thutmose III, một hầm mộ mới (KV38) cùng với đồ chôn cất mới đã được cung cấp cho Thutmose I, vì thế ông bị đưa khỏi hầm mộ cũ và chôn lại ở nơi khác. Cùng lúc ấy, xác ướp của Hatshepsut có thể đã bị chuyển vào hầm mộ bà vú của bà, Sitre-Re, trong KV60. Có thể rằng Amenhotep II, con trai của Thutmose III với người vợ thứ hai, là người ủng hộ thực hiện những hành động đó với nỗ lực đảm bảo sự kế vị của chính ông. Bên cạnh những thứ được tái khám phá từ KV20 trong cuộc khai quật hầm mộ này của Howard Carter năm 1903, các đồ tuỳ táng khác thuộc Hatshepsut đã được tìm thấy ở những nơi khác, gồm một "ngai vàng" hình sư tử cái (gọi là giường thì chính xác hơn), một bàn chơi senet có khắc hình đầu sư tử cái, những mảnh đồ chơi bằng thạch anh đỏ có khắc danh hiệu pharaoh của bà, một chiếc nhẫn dấu, và một phần bức tượng shabti nhỏ có tên bà. Trong Phòng lưu trữ Xác ướp Hoàng gia tại DB320 một cái két ngà voi đã được tìm thấy với tên Hatshepsut và nó chứa một lá gan hay lá lách đã được ướp cùng một chiếc răng. Tuy nhiên, có một phụ nữ hoàng gia của vương triều thứ hai mươi mốt cũng có tên ấy, và chiếc két này có thể thuộc về bà.[31]

[sửa] Xác định xác ướp

Xem thêm: KV60

Trong một thời gian dài chiếc rương được tìm thấy trong DB320 được cho là tất cả những gì còn sót lại từ xác ướp của Hatshepsut. Xác ướp một phụ nữ chưa xác định—được tìm thấy cùng bà vú nuôi của Hatshepsut, Sitire-Re, một cánh tay của xác ướp đặt theo kiểu chôn cất truyền thống của pharaoh—dẫn tới giả thuyết rằng xác ướp không xác định bên trong KV60 có thể là Hatshepsut.[32]

Tháng 3 năm 2006, Zahi Hawass, Tổng thư ký Hội đồng Cổ di tích Tối cao Ai Cập, tuyên bố đã định vị được xác ướp Hatshepsut, đã bị đặt lầm chỗ ở tầng ba Bảo tàng Cairo.[33] Tháng 6 năm 2007, có thống báo rằng các nhà Ai Cập học tin rằng họ đã xác định được xác ướp của Hatshepsut trong Thung lũng của các nhà Vua.[2][34][35][36] Bằng chứng quyết định gồm việc sở hữu một chiếc răng hàm gãy một chân vừa khít với hàm của xác ướp; hàm răng trong hàm khuyết một răng và cũng chỉ có một chân. Chiếc răng hàm này được tìm thấy bên trong chiếc rương có ghi tên và vòng tước hiệu của Hatshepsut; CT scan do Hawass' tiến hành cho thấy chiếc răng này đã bị lấy khỏi miệng xác ướp; nó khớp hoàn toàn vào chân răng trống trong hàm xác ướp.[2][29].[37] Bằng chứng khác ủng hộ xự xác định này gồm những kết quả so sánh DNA với xác ướp của Ahmose Nefertari, cụ Hatshepsut và là nữ chúa của vương triều thứ mười tám.[2][38] Tuy nhiên, các nhà Ai Cập học không tham gia vào dự án này vẫn chưa chấp nhận hoàn toàn các kết quả thu được cho tới khi những thử nghiệm tiếp theo được tiến hành.[2]

Các hình CT scan của xác ướp được cho là của Hatshepsut cho thấy bà mất trong tuổi năm mươi vì vỡ áp xe sau khi nhổ một chiếc răng. Dù đây là nguyên nhân, có lẽ bà cũng không thể sống lâu hơn; có những dấu hiệu ở xác ướp cho thấy sự di căn ung thư xương, cũng như có thể cả ung thư gantiểu đường.[2]

[sửa] Thay đổi sự công nhận

Sphinx Hatshepsut với tai tròn bất thường và cổ áo nhấn các đặc điểm của sư tử cái của bức tượng, nhưng với năm ngón chân - trang trí đoạn dưới tay vịn cầu thang thuộc khu đền của bà

Tới cuối thời kỳ cai trị của Thutmose III và trong thời cai trị của con ông, một nỗ lực đã được thực hiện nhằm đẩy Hatshepsut khỏi một số ghi chép lịch sử và pharaoh. Sự loại trừ này được tiến hành theo cách mạnh mẽ nhất có thể. Các hình oval tước hiệu và hình ảnh của bà bị đục bỏ trên một số bức tường đá, để lại những hình trống Hatshepsut rõ ràng.

Tại đền Deir el-Bahri, nhiều bức tượng Hatshepsut đã bị phá bỏ và trong nhiều trường hợp, bị đập vỡ hay làm biến dạng trước khi bị đem chôn trong một cái hố. Tại Karnak, thậm chí còn có một nỗ lực xây tường bao quanh các tháp tưởng niệm của bà. Tuy rõ ràng rằng việc viết lại lịch sử của Hatshepsut chỉ xảy ra ở cuối thời cầm quyền của Thutmose III, vẫn chưa biết lý do tại sao nó xảy ra, ngoài một nguyên nhân thường thấy là sự tự đề cao của các pharaoh và các bộ máy triều đình của họ, hay có lẽ để tiết kiệm tiền khi không cần phải xây thêm nơi chôn cất cho Thutmose III, mà thay vào đó sử dụng các công trình đã được Hatshepsut xây dựng.

Tuy nhiên, Amenhotep II người đồng nhiếp chính của Thutmose III trước khi ông chết, dường như đã có một động cơ bởi vị trí của ông trong dòng dõi hoàng gia không đủ mạnh để đảm bảo sự thăng tiến lên chức vị pharaoh của ông. Ông được một số người cho là kẻ phá huỷ trong thời kỳ cầm quyền cuối của một pharaoh đã rất già. Hơn nữa, ông được ghi chép, là người đã chiếm nhiều thành tựu của Hatshepsut trong thời gian cầm quyền. Thời kỳ cầm quyền của ông cũng được ghi dấu bởi những nỗ lực phá vỡ dòng dõi hoàng gia, không ghi lại tên của các hoàng hậu của mình và hạn chế các danh hiệu quyền lực và các chức vụ chính thức của phụ nữ hoàng gia như, Vợ thần của Amun.[39]

Trong nhiều năm, giả sử rằng chính Thutmouse III hành động với sự oán hận khi đã trở thành pharaoh, các nhà Ai Cập học hiện đại đầu tiên cho rằng những hành động xoá bỏ là tương tự như damnatio memoriae của La Mã. Điều này có thể có ý nghĩa khi nghĩ rằng Thutmose có thể từng là một vị đồng nhiếp chính bất đắc dĩ trong nhiều năm. Tuy nhiên, sự đánh giá tình hình này có lẽ quá đơn giản. Ít có khả năng một Thutmose quyết tâm và có chủ ý—không chỉ vị tướng thành công nhất của Ai Cập mà còn là một nhà thể thao, tác gia, sử gia, nhà thực vật học và kiến trúc sư được ca ngợi—bỏ ra tới hai thập kỷ trong thời gian cai trị của mình để suy nghĩ trước khi tìm cách trả thù cho mình lên chính bà mẹ ghẻ đồng thời là thím của mình. Theo nhà Ai Cập học nổi tiếng Donald Redford:

Đây và đó, trong những khoảng ngừng tối của một hầm mộ hay lăng mộ nơi không một cặp mắt tầm thường nào có thể thấy, hình oval tước hiệu và hình ảnh vị nữ hoàng vẫn còn lại nguyên vẹn ... thứ mà những con mắt tầm thường sẽ không bao giờ còn nhìn thấy, vẫn mang lại cho nhà vua sự ấm áp và sùng kính của một sự hiện diện thần thánh.[40]
Tập tin:Hatshepsut, defaced.jpg
Hai bức tượng này từng giống nhau, tuy nhiên, các biểu tượng của quyền lực pharaoh của bà: Uraeus, Vương miện đúp, và chòm râu sai truyền thống đã bị tước bỏ khỏi hình bên trái; nhiều hình ảnh thể hiện Hatshepsut đã bị phá huỷ hay phá hoại trong nhiều thập kỷ sau khi bà qua đời, có thể bởi Amenhotep II ở cuối thời cai trị của Thutmose III, khi ông đang là đồng nhiếp chính cho Thutmose III, nhằm đảm bảo sự thăng tiến của mình lên chức vị pharaoh và sau đó, tuyên bố nhiều thành tựu của bà là của mình

Những việc xoá bỏ xảy ra không thường xuyên và bừa bãi, và chỉ những hình ảnh rõ ràng và dễ nhận biết của Hatshepsut là bị xoá bỏ; nếu việc xoá bỏ được thực hiện đầy đủ thì hiện tại chúng ta không có quá nhiều hình ảnh Hatshepsut như vậy. Thutmose III có thể đã chết trước khi những thay đổi này kết thúc và có thể ông không bao giờ muốn xoá bỏ toàn bộ hình ảnh của bà. Trên thực tế, chúng ta không có bằng chứng ủng hộ việc kết luận rằng Thutmose ghét hay căm thù Hatshepsut khi bà còn sống. Nếu điều này là thực, với tư cách người đứng đầu quân đội, một vị trí do chính Hatshepsut trao cho ông (rõ ràng bà không lo ngại về sự trung thành của người đồng nhiếp chính), chắc chắn ông đã có thể thực hiện thành công một cuộc đảo chính, nhưng ông không hề có hành động thách thức quyền lực của bà và những thành tựu cũng như các hình ảnh của bà vẫn còn hiện diện trên các công trình công cộng bà đã xây dựng trong hai mươi năm sau khi bà mất.

Các tác gia như Joyce Tyldesley đặt giả thuyết rằng có lẽ Thutmose III, không có bất kỳ một động cơ độc ác nào, đã quyết định vào cuối cuộc đời mình, loại bỏ Hatshepsut khỏi nơi bà mong muốn được hiện diện như một đồng nhiếp chính-vị trí truyền thống của người phụ nữ quyền lực trong triều đình Ai Cập như ví dụ của Nữ hoàng Ahhotep—chứ không phải là một vị vua. Bằng cách hạn chế những dấu hiệu giống quá rõ rệt với pharaoh tại những tượng đài của Hatshepsut và giảm ngôi vị của bà chỉ còn là một người đồng nhiếp chính của mình, Thutmose III có thể tuyên bố rằng sự tiếp nối hoàng gia chuyển trực tiếp từ Thutmose II tới Thutmose III mà không có bất kỳ sự ngắt quãng nào với người dì của mình.

Những hành động xoá bỏ hay cắt xén gây tranh cãi tại một số công trình công cộng của bà có thể là việc cần thiết để giảm bớt các thành tựu của Hatshepsut. Hơn nữa, ở nửa sau thời kỳ cầm quyền của Thutmose III, các quan chức cao cấp có thế lực từng phục vụ dưới quyền Hatshepsut có thể đã chết, vì thế hạn chế sự chống đối mạnh mẽ của tôn giáo và quan liêu tới một sự thay đổi trong một nền văn hoá phân tầng mạnh này. Vị quan cao cấp và gần gũi nhất của Hatshepsut, Senenmut dường như hoặc đã bất thần nghỉ hưu hay chết ở khoảng Năm 16 và 20 thời Hatshepsut và, không bao giờ được chôn cất trong bất kỳ một ngôi mộ nào đã được chuẩn bị kỹ lưỡng của ông.[41] Theo Tyldesley, điều bí ẩn về sự biến mất bất ngờ của Senenmut "đã làm các nhà Ai Cập học đau đầu trong nhiều thập kỷ" vì thiếu bằng chứng khảo cổ học hay văn bản chắc chắn" và cho phép "sự tưởng tượng sống động về Senemut được tự do phát huy" dẫn tới một số lượng lớn các giả thuyết mạnh được đưa ra "một số trong số đó có thể ủng hộ bất kỳ một âm mưu ám sát/bí ẩn tưởng tượng nào."[42] Các quan chức mới trong triều đình, được Thutmose III chỉ định, có thể đã có quyền lợi trong việc đề cao các thành tựu của vị vua mới của họ nhằm đảm bảo sự tiếp nối thành công của chính gia đình mình.

Bia kép của Hatshepsut (giữa trái) với vương miện Khepresh màu xanh dâng rượu cho nữ thần Amun và Thutmose III phía sau bà với vương miện hedjet trắng, đứng gần Wosret - Bảo tàng Vatican

Tyldesley cũng đưa ra một giả thuyết về Hatshepsut cho rằng việc xoá bỏ của Thutmose III tại các công trình của Hatshepsut là một nỗ lực lạnh lùng nhưng dựa trên lý trí của Thutmose nhằm dập tắt hồi ức về một "hoàng đế nữ trái lệ thường người mà thời kỳ cai trị của bà có thể bị các thế hệ tương lai coi là một sự xúc phạm với Ma'at, và sự đồngn nhiếp chính dị thường của bà" có thể "tạo ra sự nghi ngờ nghiêm trọng tới tính chính thống của quyền nắm quyền của ông. Tội lỗi của Hatshepsut không cần gì nhiều hơn là sự thực bà là một người phụ nữ."[43] Ông thêm rằng Thutmose III có thể coi khả năng một sự kế tục tương tự của một vị nữ vương trong lịch sử Ai Cập có thể tạo ra những nguy hiểm chưa từng có bởi thực tế đã cho thấy một phụ nữ có khả năng cai trị Ai Cập không thua kém gì một vị vua nam giới truyền thống. Sự kiện này, theo lý thuyết, có thể thuyết phục "các thế hệ tương lai về những vị nữ vương mạnh" khiến họ không "còn hài lòng với vị trí truyền thống là một người vợ, người chị và cuối cùng là người mẹ của một vị vua" mà là nắm lấy quyền lực.[44] Tuy Nữ hoàng Sobekneferu của Thời kỳ Vương triều Giữa Ai Cập đã có một thời kỳ cẩm quyền ngắn khoảng bốn năm, bà đã cai trị "ở thời kỳ cuối cùng của một Triều đại [triều đại thứ 12] đang suy tàn, và ngay từ ngày đầu cầm quyền những lời đàm tiếu đã bắt đầu tấn công bà. Vì thế, đối với những người Ai Cập bảo thủ bà có thể được coi là một 'Nữ hoàng Chiến binh' yêu nước người đã không thành công trong việc "phục hồi sức mạnh của Ai Cập - một kết quả nhấn mạnh ý đã được Tyldesley miêu tả như một quan điểm truyền thống của Ai Cập rằng một phụ nữ không có khả năng tự mình kiểm soát ngôi báu, [45]; vì thế, ít người Ai Cập sẽ muốn lặp lại một cuộc thí nghiệm với người phụ nữ trên ngôi báu.

In contrast, Hatshepsut's glorious reign was a completely different case: she demonstrated that women were as capable as men of ruling the two lands since she successfully presided over a prosperous Egypt for more than two decades.[46] If Thutmose III's intent here was to forestall the possibility of a woman assuming the throne, he failed since Twosret and Neferneferuaten (possibly), a female co-regent or successor of Akhenaten, assumed the throne during the New Kingdom after his reign. Unlike Hatshepsut, however, these later rulers enjoyed only brief and short-lived reigns.

The erasure of Hatshepsut's name, whatever the reason or the person ordering it, almost caused her to disappear from Egypt's archaeological and written records. When nineteenth-century Egyptologists started to interpret the texts on the Deir el-Bahri temple walls (which were illustrated with two seemingly male kings) their translations made no sense. Jean-Francois Champollion, the French decoder of hieroglyphs, was not alone in feeling confused by the obvious conflict between words and pictures:

Hieroglyphs showing Thutmose III on the left and Hatshepsut on the right, she having the trappings of the greater role - Red Chapel, Karnak
If I felt somewhat surprised at seeing here, as elsewhere throughout the temple, the renowned Moeris [Thutmose III], adorned with all the insignia of royalty, giving place to this Amenenthe [Hatshepsut], for whose name we may search the royal lists in vain, still more astonished was I to find upon reading the inscriptions that wherever they referred to this bearded king in the usual dress of the Pharaohs, nouns and verbs were in the feminine, as though a queen were in question. I found the same peculiarity everywhere...[47]

The 2006 discovery of a foundation deposit including nine golden cartouches bearing the names of both Hatshepsut and Thutmose III in Karnak may shed additional light on the eventual attempt by Thutmose III and his son Amenhotep II to erase Hatshepsut from the historical record and the correct nature of their relationships and her role as pharaoh.[48]

Records of her reign, documented in diverse ancient sources, failed to generate much research about this pharaoh by early modern Egyptologists and Hatshepsut went from being one of the most obscure leaders of Egypt at the beginning of the twentieth century—to one of its most famous, by the century's end. Archaeological discoveries of the early twentieth century provided information that had been missing from those records and, technical advances later in the century, enabled better identifications to make contemporary historical records more complete. In the twenty-first century, DNA analysis confirmed the identity of her remains and her genetic relationship to those of her great-grandmother.

[sửa] Xem thêm

[sửa] Ghi chú

  1. ^ a b c d e Queen Hatshepsut accessed August 1, 2006
  2. ^ a b c d e f g h i Wilford, John Noble. “Tooth May Have Solved Mummy Mystery”, New York Times, 2007-06-27. Truy cập 29 tháng 6 năm 2007.
  3. ^ Christensen, Martin K.I. (25 tháng 7 năm 2007). “Women in Power: BCE 4500-1000”. Worldwide Guide to Women in Leadership. Truy cập 25 tháng 8 năm 2007.
  4. ^ Shaw and Nicholson, p. 28.
  5. ^ Troy, L. 1986. Patterns of Queenship: in ancient Egyptian myth and history:97-99; Appendix B, B2/25. BOREAS 14. Uppsala: ACTA Universitatis Upsaliensis.
  6. ^ Extract from the biography of Ineni, translated by J. H. Breasted, Ancient Records of Egypt; historical documents, vol. 2, Chicago: 1906, p.341
  7. ^ Shaw, op.cit., p.254 (see below: References).
  8. ^ Steindorff, George; and Seele, Keith. When Egypt Ruled the East p.53. University of Chicago, 1942
  9. ^ Grimal, Nicolas. A History of Ancient Egypt pp. 204. Librairie Arthéme Fayard, 1988.
  10. ^ Gabolde, Luc (1987).La Chronologie du règne de Thoutmosis II, ses conséquences sur la datation des momies royales et leurs répercutions sur l'histoire du développement de la Vallée des Rois SAK 14: 61–87.
  11. ^ Grimal, Nicolas. A History of Ancient Egypt p.204. Librairie Arthéme Fayard, 1988
  12. ^ Joyce Tyldesley, Hatchepsut: The Female Pharaoh, Penguin Books, 1996 hardback, p.99
  13. ^ Tyldesley, Hatchepsut, p.99
  14. ^ Tyldesley, Hatchepsut, p.99
  15. ^ Joyce Tyldesley, Hatchepsut: The Female Pharaoh, Penguin Books, 1998 paperback, pp.137-144
  16. ^ The Unfinished Obelisk by Peter Tyson March 16, 1999 NOVA online adventure
  17. ^ James P. Allen, "The Speos Artemidos Inscription of Hatshepsut", Bulletin of the Egyptological Seminar 16 (2002), pp.1-17, pls.1+2.
  18. ^ Back in the limelight by Nevine El-Aref, Al-Ahram Weekly.
  19. ^ Callender/Shaw p.170.
  20. ^ Eternal Egypt
  21. ^ Breasted, James Henry, Ancient Records of Egypt: Historical Documents from the Earliest Times to the Persian Conquest, The University of Chicago Press, 1906, pp. 116-117.
  22. ^ Hatshepsut, Female Pharaoh of Egypt by Caroline Seawright.
  23. ^ Will Cuppy, The Decline and Fall of Practically Everybody; Barnes & Noble Books, New York, reprint 1992.
  24. ^ Tyldesley pp. 210.
  25. ^ Joyce Tyldesley, Chronicle of the Queens of Egypt, Thames & Hudson, 2006. p.106
  26. ^ James P. Allen, 'The Military Campaign of Thutmose III' in "Hatshepsut: From Queen to Pharaoh," ed: Catherine Roehrig, The Metropolitan Museum of Art New York, Yale Univ. Press, 2005. p.261 Allen writes here that the Armant stela is considered by scholars to mark the occasion of Thutmose III's sole reign since he uses the epithet "Thutmose, Ruler of Maat" twice on this document for the first time in his reign. This means he was asserting his own claim to the administration of Egypt subsequent to that of Hatshepsut who had likely died
  27. ^ Jürgen von Beckerath, Chronologie des Pharaonischen Ägypten. Mainz, Philipp von Zabern. 1997. p.189
  28. ^ a b “Tooth Clinches Identification of Egyptian Queen”, Reuters, June 27, 2007. Truy cập 13 tháng 4 năm 2008.
  29. ^ Dennis C. Forbes, Maatkare Hatshepset: The Female Pharaoh, KMT, Fall 2005, pp.26-42.
  30. ^ Bickerstaffe, Dylan The Discovery of Hatshepsut's 'Throne', KMT, Spring 2002, pp. 71-77
  31. ^ Tyldesley pp. 213-214.
  32. ^ Hatshepsut Mummy Found Accessed August 20, 2006
  33. ^ “Egyptologists Think They Have Hatshepsut's Mummy.”, Reuters, June 25, 2007. Truy cập 13 tháng 4 năm 2008.
  34. ^ “'Find of century' for Egyptology.”, BBC, 27 June 2007. Truy cập 13 tháng 4 năm 2008.
  35. ^ “Tooth solves Hatshepsut mummy mystery”, The Guardian, 2007-06-27. Truy cập 9 tháng 11 năm 2007.
  36. ^ “The Search for Hatshepsut and the Discovery of Her Mummy by Dr. Zahi Hawass, June 2007”.
  37. ^ Chip Brown, "The King Herself," National Geographic, April 2009, p. 107.
  38. ^ Gardiner, Alan. Egypt of the Pharaohs. p. 198. Oxford University Press, 1964.
  39. ^ Redford, p. 87.
  40. ^ Tyldesley, Hatchepsut, p.206
  41. ^ Tyldesley, Hatchepsut, p.207 Tyldesley notes on page 252 that a detailed discussion of Senenmut's disappearance and a useful list of other publications on this topic is given in A.R. Schulman's 1969-1970 paper "Some Remarks on the Alleged 'Fall' of Senmut," JARCE 8, pp.29-48
  42. ^ Tyldesley, Hatchepsut, p.225
  43. ^ Tyldesley, Hatchepsut, pp.225-226
  44. ^ Tyldesley, Hatchepsut, p.226
  45. ^ Tyldesley, Hatchepsut, p.226
  46. ^ Thèbes, 18 juin 1829, Lettres écrites d'Égypte et de Nubie en 1828 et 1829 by Champollion le Jeune, Nouvelle Edition, 1868 http://www.gutenberg.org/catalog/world/readfile?fk_files=45205
  47. ^ Mensan, Romain (Spring 2007). “Tuthmosid foundation deposits at Karnak”. Egyptian Archaeology 30: 21. 

[sửa] Tham khảo

  • Donald B. Redford, History and Chronology of the 18th dynasty of Egypt: Seven studies, Toronto: University Press, 1967
  • Ian Shaw, The Oxford History of ancient Egypt, Oxford University Press, 2000, 512 pages, ISBN 0-19-280293-3
  • Chip Brown, "The King Herself," National Geographic, April 2009, pp. 88–111.
  • Gae Callender The Middle Kingdom Renaissance (Chapter 7)
  • Joyce Tyldesley, Hatchepsut: The Female Pharaoh, Penguin Books, 1998, paperback, 270 pages, ISBN 0-14-024464-6
  • Evelyn Wells, Hatshepsut, Double Day, 1969, hardback, 211 pages, Library of Congress catalog card # 69-10980
  • Harbin, Michael, The Promise and the Blessing, Grand Rapids, Michigan: Zondervan Press, 2005
  • Judith Tarr, King and Goddess, Tor Books, 1996, hardback, 384 pages, ISBN 0-31-286092-9
  • Fakhry, Ahmed, A new speos from the reign of Hatshepsut and Thutmosis III at Beni-Hasan, In: Annales du Service des Antiquités de l’Égypte, Issue 39 (1939), S. 709 – 723
  • Gardiner, Alan Henderson, Davies’s copy of the great Speos Artemidos inscription, In: Journal of Egyptian Archaeology Issue 32 (1946), S. 43 – 56
  • Fairman, H. W.; Grdseloff, B., Texts of Hatshepsut and Sethos I inside Speos Artemidos, In: Journal of Egyptian Archaeology, Issue 33 (1947), S. 12 – 33
  • Pauline Gedge, Child of the Morning, Macmillan Canada, 1977

[sửa] Liên kết ngoài

Tìm thêm về Hatshepsut tại một trong những đồng dự án của Wikipedia
Commons-logo.svg Commons Hình ảnh
Wiktsister en.png Wiktionary Từ điển
Wikibooks-logo.svg Wikibooks Sách
Wikiquote-logo.svg Wikiquote Danh ngôn
Wikisource-logo.svg Wikisource Tư liệu

Bản mẫu:Người Ai Cập cổ đại