Akhenaton

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Akhenaton / Amenhotep IV
Amenophis IV, Naphu(`)rureya, Ikhnaton[1]
Tiên vương:
Amenhotep III
Pharaông của Ai Cập
Vương triều thứ 18
Kế vị:
Smenkhkare
Tượng của Akhenaten, tại Viện bảo tàng Ai Cập, Cairo
Niên đại 1353 TCN - 1336 TCN[2] hay
1352 TCN - 1336 TCN[3] hay
1351 TCN - 1334 TCN[4]
Tên ngai
<
ra nfr xpr Z3 ra
wa
n
>

Neferkheperure-waenre
Beautiful are the Manifestations of Re[5]
the one of Re
Tên riêng
<
i t
n
ra
G25 x
n
>

Akhenaten
Servant of the Aten[6]
(sau năm trị vì thứ 4)
<
M17 Y5
N35
R4
X1 Q3
R8 S38 O28
>

Amenhotep
Tên
thần Horus
G5
E1
D40
i t
n
ra
N36
Srxtail2.GIF
Kanakht-Meryaten
The strong bull, beloved of the Aten
Tên Nebty
(hai quý bà)
G16
wr
r
sw t i i Aa13
Axt
t pr
i t
n
ra
Wernesytemakhetaten
Great of kingship in Akhetaten
Horus Vàng
G8
U39 r
n
V10
n
i t
n
ra
Wetjesrenenaten
Who displays the name of the Aten
Hôn phối Nefertiti, Kiya
Meritaten, Ankhesenpaaten
Con cái Smenkhkare? Meritaten, Meketaten,
Ankhesenpaaten,
Neferneferuaten Tasherit,
Neferneferure, Setepenre, Tutankhamun,
Ankhesenpaaten-ta-sherit?
Cha Amenhotep III
Mẹ Tiye
Mất 1336 TCN hay 1334 TCN
Chôn cất Mộ của Akhenaten[7]
Công trình lớn Akhetaten, Gempaaten, Hwt-Benben


Akhenaton hay Ikhnaton là một vị Pharaong nổi tiếng của Ai Cập cổ đại. Ông tiến hành rất nhiều cải cách trong luật lệ cai trị của các Pharaong ở Ai Cập cổ đại. Ông lên ngôi vua năm 1353 TCN, lấy hiệu là Amenhotep IV, nhưng thay đổi nghi lễ thờ cúng đa thần-Trong đó vị thần tối cao là thần Amun-Re của Ai Cập sang một vị thần duy nhất - thần Mặt trời Aton, và chuyển thủ đô từ Thebes (Ai Cập) sang một thành phố mới mà ông đặt tên là Armana (hay Akhetaton, tên ông). Sự thay đổi tôn giáo và thủ đô đó diễn ra vào năm trị vì thứ 4 của ông.

Thiên kiến của Akhenaton tới tôn giáo là ít quan tâm tới đế chế và kẻ thù của nó-tiêu biểu là người Hittites vùng Cận Đông, và nhiều vùng đất Ai Cập mất về tay người Hittites.[8] Con trai ông, Tutankhamun đã quay lại hình thức lễ nghi gốc ngay thời gian đầu ông trị vì.

Ông gần như hoàn toàn biến mất khỏi lịch sử cho đến khi được phát hiện, vào thế kỷ 19, ở Amarna, địa điểm của Akhetaten, thành phố, mà ông đã xây dựng cho thần Aten. Những cuộc khai quật thời kì đầu tại Amarna được tiến hành bởi Flinders Petrie đã khuấy động lên sự quan tâm đến vị vua bí ẩn, người mà có ngôi mộ được khai quật vào năm 1907 trong một cuộc khai quật được dẫn dắt bởi Edward R. Ayrton. Sự quan tâm đến Akhenaten càng tăng lên với phát hiện trong Thung lũng các vị vua ở Luxor, ngôi mộ của vua Tutankhamun, người đã được chứng minh là con trai của Akhenaten thông qua kiểm tra DNA vào năm 2010 [9]. Một xác ướp được tìm thấy ở KV55 vào năm 1907 gần như được xác định chắc chắn là của Akhenaten.

Thời kì trì vì đầu tiên là Amenhotep IV[sửa | sửa mã nguồn]

Vị vua Akhenaten trong tương lai là một người con trai của Amenhotep III và chính cung hoàng hậu Tiye. Con trai cả vốn là Thái tử Thutmose, được công nhận là người thừa kế của Amenhotep III, nhưng ông đã mất khi còn tương đối trẻ và người tiếp theo được kế vị ngai vàng là một hoàng tử tên là Amenhotep.[10]

Hiện đã có nhiều cuộc tranh luận giữa các chuyên gia về thời kì cùng nhiếp chính có thể có giữa Amenhotep III và con trai Amenhotep IV. Chiều dài của thời kì cùng nhiếp chính được đề xuất là trong khoảng từ 2-12 năm. Hiện nay có giả thuyết giả định rằng không có sự đồng nhiếp chính nào cả và Amenhotep IV kế vị cha mình sau khi ông qua đời[11]

Amenhotep IV đã lên ngôi ở Thebes và ở đó ông bắt đầu một dự án xây dựng. Ông đã sớm ra lệnh xây dựng một ngôi đền dành riêng cho thần Aten ở phía đông Karnak. Ngôi đền này được gọi là Gempaaten. Gempaaten bao gồm một loạt các tòa nhà, bao gồm cả một cung điện và một cấu trúc gọi là Benben Hwt được dành riêng cho Nữ hoàng Nefertiti. Các ngôi đền thờ thần Aten khác được xây dựng tại Karnak trong thời gian này bao gồm Rud-menuTeni-menu có thể đã được xây dựng gần tháp môn thứ chín. Trong thời gian này, ông đã không đàn áp tôn thờ thần Amun, và vị Thầy tế tối cao của thần Amun vẫn còn tại vị trong năm thứ tư của triều đại ông.[10]

Nhà vua hiện diện với tên Amenhotep IV trong ngôi mộ của một số quý tộc ở Thebes: Kheruef (TT192), Ramose (TT55) và ngôi mộ của Parennefer (TT188)[12].

Trong ngôi mộ của Ramose, Amenhotep IV xuất hiện trên bức tường phía tây theo phong cách truyền thống, ngồi trên một ngai vàng với Ramose xuất hiện phía trước nhà vua.

Đổi tên thành Akhenaten[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ In English, IPA: [ˌɑkəˡnɑtən], or approximately "AHK-en-AHT-en";[1] his royal name Amenhotep in English is IPA: [ˌɑmənˈhotɛp], or approximately "AH-mun-HOE-tep"[2]
  2. ^ Encylopaedia Brittanica
  3. ^ Michael Rice, Who's Who in Ancient Egypt, Routledge, 1999
  4. ^ Jürgen von Beckerath, Chronologie des Pharaonischen Ägypten. Philipp von Zabern, Mainz, (1997) p.190
  5. ^ Clayton, op. cit., p.120
  6. ^ Peter Clayton, Chronicle of the Pharaohs, Thames and Hudson, 2006 paperback, p.120
  7. ^ Amarna Royal Tomb
  8. ^ Theo cuốn Lịch sử thế giới do Ngọc Lê chủ biên
  9. ^ “A Frail King Tut Died From Malaria, Broken Leg - ABC News”. Abcnews.go.com. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2010. 
  10. ^ a ă Aldred, Cyril, Akhenaten: King of Egypt,Thames and Hudson, 1991 (paperback), ISBN 0-500-27621-8 p 259-268
  11. ^ Dodson, Aidan, Amarna Sunset: Nefertiti, Tutankhamun, Ay, Horemheb, and the Egyptian Counter-Reformation. The American University in Cairo Press. 2009, ISBN 978977416304-3 p 6
  12. ^ Charles F. Nims, The Transition from the Traditional to the New Style of Wall Relief under Amenhotep IV, Journal of Near Eastern Studies, Vol. 32, No. 1/2 (Jan. - Apr., 1973), pp. 181-187

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Theo cuốn Lịch sử thế giới
  • Theo cuốn 1001 nhân vật và sự kiện lịch sử thế giới

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]