Merneptah

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Merneptah
Tiên vương:
Ramesses II
Pharaông của Ai Cập
Vương triều thứ 19
Kế vị:
Seti II/
Amenmesse
Tượng của Merenptah tại Viện bảo tàng Ai Cập, Cairo
Niên đại 1213 TCN - 1203 TCN
Tên ngai
<
N5 E11
n
N36
nTr nTr nTr
>

Baenre Merynetjeru
Linh hồn của Ra, người yêu quý các vị thần
Tên riêng
<
H6 X1
D42
U4 D2
Z1
R4
X1 Q3
V28 Q3
X1
U6
N35
>

Merneptah Hotephermaat
Beloved of Ptah, Joyous is Truth
Tên
thần Horus
Kanakht Haiemmaat
Tên Nebty
(hai quý bà)
Iribauertaentjemhu
Horus Vàng Nebsenedjaashefit[1]
Hôn phối Isisnofret, Takhat
Cha Ramesses II
Mẹ Isisnofret
Mất 1203 TCN
Chôn cất KV8


Merneptah,(hay Merentaph) là vị vua thứ tư của Vương triều thứ 19 của Ai Cập cổ đại. Ông cai trị trong khoảng từ cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8,1213 đến 2 tháng 5,1203 TCN theo lịch sử ghi nhận vào thời đó.[2] Ông là con thứ 13 của Ramesses II.[3] và là người duy nhất trong số đó đi tới quyền lực bởi vì những người anh trai ông, trong đó có cả người anh cả của ông, Khaemwaset hay Khaemwase đã chết trước cha ông, bởi trong thời gian đó ông khoảng 60 tuổi. Tên ngai của ông là Ba-en-re Mery-netjeru, nghĩa là "Linh hồn của Ra, người yêu quý của các vị thần"

Merneptah có thể là con thứ 4 của của Istnofret (Isisnofret), bà vợ thứ hai của Ramesses II, và ông đã cưới hoàng hậu Isisnofret, người vợ hoàng gia của ông, người có thể là chị ông lại mang tên mẹ của họ. Isisnofret và ông có hai người con, Naneferkaptah và Ahura, những người đã cưới nhau và có một con trai, Merab. Và có thể là Merneptah cũng cưới hoàng hậu Takhat và một trong những người con trai họ muốn trở thành một trong những pharaoh cuối cùng của vương triều thứ 19, Seti II. Họ cũng là cha mẹ của hoàng tử Merenptah và một người con khác có thể đã cướp ngôi, Amenmesse. Về sau đó còn có nữ hoàng Twosret, vợ Seti II lên ngôi sau khi chồng bà băng hà.

Chiến dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Merneptah đã có đến bên ngoài dăm ba chiến dịch quân sự trong thời gian ông cai trị, phần lớn giao chiến với người Libya, nhũng người-với sự giúp đỡ của Hải nhân (Sea Peoples), đã đe dọa Ai Cập ở phương Tây. Vào năm trị vì thứ 5 của ông, Merneptah dẫn đầu chiến thắng 6 tiếng trận đánh trong năm trị vì thứ năm của ông đối với lực lượng Libya và Hải nhân ở thành phố Perire, hầu như đã xác định vị trí ở bờ phía tây vùng châu thổ. Sự miêu tả chiến dịch của ông đánh quân Hải nhân và Libu thì mô tả trong văn xuôi ở bức tường bên cạnh cái cột thứ 6 ở Karnak (Ai Cập) và bài viết khắc trên bia đá Merneptah, hay còn được biết như bia đá Israel, những cái đã giải thích tới được cho là hòan toàn sự phá hủy ở Israel vào chiến dịch năm thứ 6 của ông ở Canaan:"Israel bị cướp phá...dòng dõi của nó không còn nữa". Đây được công nhận là bảng tường thuật đầu tiên của người Ai Cập thượng cổ ghi về cuộc sống của Israel--"không như một thành phố hay đất nước, nhưng lại như một bộ lạc hay người"

Kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Merneptah makes an offering to Ptah on a column

Merneptah đã cao tuổi khi ông lên ngôi[4] Merneptah chuyển trung tâm hành chính của Ai Cập từ Piramesse (Pi-Ramesses), kinh đô của cha ông, quay về Memphis, nơi ông xây dựng một cung điện hoàng gia bên cạnh đền thờ của thần Ptah.

Naneferkaptah là người thừa kế của hoàng gia, con trai người vợ hoàng gia của Merneptah, Nữ hoàng Isetnofret (Isisnofret), nhưng ông, vợ ông, và người thừa kế của họ đã qua đời trước khi Merneptah mất, và câu chuyện của họ còn tồn tại trong các ghi chép.[5] Người kế vị của Merneptah, Seti II, là một con trai của Nữ hoàng Isisnofret. Tuy nhiên, sự kế vị của Seti II đã bị thách thức: một vị vua đối thủ có tên là Amenmesse, người hoặc là một con trai của Merneptah với Takhat hay, nhiều ít có khả năng, của Ramesses II, đã nắm quyền kiểm soát Thượng Ai Cập và Kush trong thời gian giữa triều đại trị vì của Seti II. Seti đã có thể đã tái khẳng định quyền lực của mình ở Thebes trong năm thứ năm của ông ta, chỉ sau khi ông đánh bại Amenmesse. Có thể trước khi chiếm lấy Thượng Ai Cập, Amenmesse đã được biết đến như là Messui và đã là phó vương của Kush.

Xác ướp[sửa | sửa mã nguồn]

Quan tài của Merneptah ở mộ ông, KV8

Merneptah bị viêm khớp và xơ cứng động mạch của tuổi già và mất sau khi một triều đại kéo dài gần một thập kỷ. Ban đầu, Merneptah được chôn trong ngôi mộ KV8 trong Thung lũng các vị vua, nhưng xác ướp của ông đã không được tìm thấy. Năm 1898, nó đã nằm cùng với mười tám xác ướp khác trong một hố nơi giấu xác ướp bí mật được tìm thấy trong lăng mộ của Amenhotep II (KV35) bởi Victor Loret. Xác ướp của Merneptah được đưa tới Cairo và cuối cùng được tháo băng bởi Tiến sĩ G. Elliott Smith vào ngày 8 tháng 7 năm 1907. Tiến sĩ Smith ghi chú rằng:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "King Merenptah", Digital Egypt, University College London (2001). Truy cập 2007-09-29.
  2. ^ Jurgen von Beckerath,Chronologie des Pharaonischen Agypten,Mainz, (1997)< pp.190
  3. ^ Gae Callender, The Eye of Horus:A History of Ancient Egypt, Longman Cheshire (1993), p.263
  4. ^ Joyce Tyldesley (2001). Ramesses: Egypt's Greatest Pharaoh. Penguin Books. tr. 185. 
  5. ^ “Ancient History Sourcebook: Tales of Ancient Egypt: The Magic Book, c. 1100 BCE”. Fordham University. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Eva March Tappan, ed., The World's Story: A History of the World in Story, Song and Art, (Boston: Houghton Mifflin, 1914), Vol. III: Egypt, Africa, and Arabia, trans. W. K. Flinders Petrie, pp. 47–55, scanned by: J. S. Arkenberg, Department of History, California State Fullerton; Professor Arkenberg has modernized the text and it is available via Internet Ancient History Sourcebook