Mithridates VI của Pontos

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Mithridates VI của Pontus)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mithridates VI Eupator
(Mithridates Đại đế)
Quốc vương của Pontus
Tiền in hình Mithridates VI của Pontus. Bảo tàng Anh quốc.
Tiền in hình Mithridates VI của Pontus. Bảo tàng Anh quốc.
Tại vị  119 - 63 TCN
Tiền nhiệm Mithridates V Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Pharnaces II Vua hoặc hoàng đế
Hôn phối Laodice
Hậu duệ
Machares
Pharnaces II của Pontos
Ariarathes IX của Cappadocia
Athenais Philostorgos II
Cleopatra của Pontos
Thân phụ Mithridates V
Thân mẫu Laodice
Sinh 119 TCN
Mất 63 TCN
An táng Sinope, Thổ Nhĩ Kỳ

Mithradates VI (tiếng Hy Lạp: Μιθριδάτης, tiếng Ba Tư cổ: Mithradatha, “Món quà của Mithra”) (134 TCN – 63 TCN), còn được biết đến như là Mithradates Đại đế (Megas) và Eupator Dionysius, là quốc vương của Pontus ở miền Bắc Tiểu Á (nay ở Thổ Nhĩ Kỳ) từ khoảng 119 – 63 TCN. Mithradates là vị vua mang dòng dõi Hy Lạp và Ba Tư. Tự cho là thuộc dòng dõi của Alexandros Đại đếDarius I của Ba Tư. Cả 2 tên của ông đều được sử dụng trong các văn bản cổ. Người La Mã thường gọi ông là Mithridates, trong khi Mithradates là tên theo các công văn Hy Lạp và thể hiện rõ lòng thành kính của nhà vua đối với vị Thần Mithra của người Ba Tư cổ đại.

Mithradates được xem là một ông vua hung dữ, một trong những kẻ thù đáng gờm nhất của La Mã.[1] Ông đã lâm chiến với ba vị danh tướng kiệt xuất nhất trong giai đoạn cuối của Cộng hòa La Mã, bao gồm: Sulla, Lucullus, và Pompey. Những chiến công của ông được tái hiện lại trong vở bi kịch cùng tên của nhà văn hào Pháp Jean Racine, từng được diễn tại cung đình Phổ dưới triều vua Friedrich II tức Friedrich Đại Đế. [2]

Mục lục

[sửa] Khởi đầu triều đại

Mithradates VI là con trai của vua Mithridates V (150 TCN–120 TCN), người mất khi ông còn là một đứa trẻ. Trong thời kì Eupator trưởng thành, toàn bộ quyền lực đều nằm trong tay mẹ của ông, Laodice, người mà sau này đã bị ông phế truất và bỏ tù năm 115 TCN. Tuy nhiên, thân mẫu ông trong nỗ lực để trở thành nữ hoàng và có được ngai vàng của vương quốc Pontus đã giết hại hầu hết anh em của ông, trừ Laodice, em gái và là người mà sau này ông kết hôn.

Mithradates có tham vọng là khống chế toàn bộ biển ĐenTiểu Á. Sau khi ông chinh phục được Colchis, nhà vua của Pontus đã xung đột về quyền lực tối cao tại vùng thảo nguyên Pontic với vua của người ScythiaPalacus. Trung tâm quan trọng nhất của bán đảo Krym, Tauric Chersonesusvương quốc Bosporan đã sẵn sàng giao lại sự độc lập của họ để đổi lấy sự bảo vệ của Mithradates chống lại người Scythia, những kẻ thù cổ xưa của họ. Sau nhiều nỗ lực để xâm lựoc vùng đất Krym, người Scythia và đồng minh của mình là Rhoxolanoi đã phải chịu nhiều tổn thất nặng nề dưới bàn tay của thống chế xứ Pontus là Diophantus, và phải chấp nhận khuất phục dưới lưỡi gươm của Mithradates như là chúa tể của họ.

Vị vua trẻ sau đó đã chuyển sự quân tâm của mình tới Tiểu Á, nơi mà người La Mã đã củng cố quyền cai trị của mình. Ông ta đã tính toán để phân chia vùng PaphlagoniaGalatia với Nicomedes III của Bithynia. Điều này sớm trở nên rõ ràng với Mithradates vì Nicomedes đã thành lập một liên minh chống lại Pontus với sự tham gia của Cộng hòa La Mã. Khi mà Mithradates đang cùng với Nicomedes tranh chấp việc kiểm soát vùng Cappadocia và đánh bại ông ta trong một chuỗi các trận đánh thì Rôma phải bắt đầu hỗ trợ cho Bithynia. Người La Mã đã 2 lần can thiệp vào các cuộc xung đột thay mặt cho Nicomedes ( 95 TCN và năm 92 TCN) làm cho chiến tranh La Mã- Pontus không thể tránh khỏi.

[sửa] Các cuộc chiến tranh Mithridatic

Bản đồ vương quốc Pontus, Trước triều đại của Mithridates VI (tím đậm), Sau những cuộc chinh phục của ông (tím), Những vùng đát ông chinh phục trong chiến tranh Mithridatic (hồng).

Quốc vương kế tiếp của xứ Bithynia, Nicomedes IV là một ông vua bù nhìn của người La Mã. Mithradates đã có âm mưu lật đổ ông ta nhưng không thành công và Nicomedes được người cố vấn La Mã xúi giục tuyên bố chiến tranh với Pontus. Lúc này Rôma đang vướng vào cuộc nội chiến với các đồng minh Ý của mình và chỉ có vài quân đoàn ở Macedonia. Mithradates đã xâm lược Bithynia và nhanh chóng hành quân qua quốc gia này, đưa quân đội của mình tới tận Propontis.

Vương quốc Pontus bao gồm một hỗn hợp các dân tộc của Ionia Hy lạp và các thành phố của Tiểu Á. Gia đình hoàng gia đã hầu như Hy Lạp hóa sau khi kinh đô chuyển về thành phố Hy Lạp là Sinope. Những nhà vua này luôn cố gắng để thể hiện sức mạnh của mình đối với các thần dân của họ, họ thể hiện bộ mặt Hy lạp đối với thế giới Hy Lạp và bộ mặt Iran-Tiểu Á với thế giới phương Đông. Bất cứ khi nào khoảng cách giữa các nhà vua đối với các thần dân Tiểu Á trở nên lớn hơn, họ sẽ nhấn mạnh nguồn gốc Ba Tư của mình. Theo cách này, hoàng gia đã tuyên truyền rằng họ thừa hưởng dòng dõi từ những vị vua của Hy Lạp và Ba Tư bao gồm: Cyrus, Darius I, Seleucus I và cả Alexandros Đại đế.

Dù với bất cứ mục đích nào của ông, các thành bang Hy Lạp (bao gồm cả Athena) defected to the side của Mithridates và chào đón quân đội của ông tại lục địa Hy lạp trong khi hạm đội của ông vây hãm người La Mã tại đảo Rhodes.

Tigranes II, vua của quốc gia lân cận Armenia, đã thiết lập đồng minh với Mithradates và cưới người con gái yêu quý của vua Pontus, Cleopatra. Họ sẽ hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc xung đột với Rôma.

Sau khi chinh phục miền Tây Tiểu Á năm 88 TCN, Mithradates VI ban lệnh giết toàn bộ người La Mã sống ở đây. Cuộc tàn sát 80000 người La Mã gồm nam giới, phụ nữ, trẻ em được biết đến trong thế giới cổ đại là sự kiện Asiatic Vespers. Trong cuộc chiến tranh Mithridatic lần I nổ ra từ năm 88 TCN tới năm 84 TCN. Lucius Cornelius Sulla đã buộc Mithridates rút khỏi Hy lạp và để Lucius Licinius Murena ở lại phụ trách quân đội La Mã ở Tiểu Á và tự mình quay trở lại Ý để đáp trả mối đe dọa từ Gaius Marius. Sau đó, Mithradates VI đã bị đánh bại nhưng không nản chí. Hòa bình được lập lại bởi La Mã và Pontus nhưng cũng chỉ là tạm thời, cho tới khi Murena tấn công Mithridates năm 83 TCN, dẫn đến cuộc chiến tranh Mithridatic lần II từ năm 83 -81 TCN. Hòa bình lại được lập lại sau khi Murena chịu một vài thất bại.

Mithridates đã phục hồi lực lượng của mình và khi quân La Mã cố gắng tấn công vùng phụ cận của Bithynia. Mithradates VI đã tấn công cùng với một đội quân lớn, dẫn đến chiến tranh Mithridatic lần III từ năm 73 TCN đến năm 63 TCN. Đầu tiên là Lucullus và sau đó là Pompey Đại đế được Rôma gửi đến để chống lại Mithridates.

Sau sự thất bại của ông trước Pompey năm 65 TCN, Mithridates VI đã vội vã bỏ trốn cùng với một đội quân nhỏ từ Colchis (Gruzia ngày nay) vượt qua dãy Caucausus để tới Krym và cố gắng tăng cường quân đội để chống lại Rôma nhưng đã thất bại để làm điều này. Vào năm 63 TCN, ông rút đến thành lũy cuối cùng ở Panticapaeum. Con trai cả của ông, Machares, nhà vua của Cimmerian Bosporus, người mà có vương quốc được công nhận bởi người La Mã, đã không có thiện chí giúp đỡ vua cha. Mithridates đã giết Machares, ông đã cướp ngai vàng của vương quốc Bosporan. Mithridates đã ra lệnh cưỡng bách rất nhiều người Scythians tòng quân để chiếm lại vương quốc của mình. Pharnaces II, người con trai út đã dấy lên một cuộc nổi loạn chống lại cha mình cùng sự giúp đỡ của những người La Mã bị đày ải trong quân đội của Mithridates. Mithridates sau đó chấp nhận tự tử và được chôn tại kinh thành Sinope của Pontus.

[sửa] Trong văn hóa nghệ thuật

Vị vua hung bạo Mithridates VI Đại Đế đã được tái hiện qua vở bi kịch "Mithridate" do nhà soạn kịch xuất sắc của nước PhápJean Racine sáng tác.[3][4] Vị đại minh quân của nước PhổFriedrich II Đại Đế vô cùng yêu thích vở bi kịch hùng tráng này.[1].[2] Chính ông cũng từng đóng vai chính trong vở bi kịch.[2] Sau khi quân Phổ bị quân Áo đánh tan nát trong trận kịch chiến tại Hochkirch (1758), vị vua bách chiến bách thắng vẫn cố giữ điềm tĩnh và khi viên thư lại Triều đình Phổ là Henri Alexandre De Catt vào yết kiến ông, nhà vua trích dẫn lời thoại của vua Mithridates VI Đại Đế trong vở kịch cùng tên: [5]

Năm mới đã đến, Trẫm được hội ngộ Ái Khanh - hỡi Arbates!

—Friedrich II Đại Đế

Vở bi kịch Mithridate trở thành một tác phẩm bền bỉ theo thời gian..[2] Vở bi kịch này đã ăn sâu vào lòng nhà vua nước Phổ, và cho đến lúc cao niên ông vẫn còn xem được vở này diễn ở Tân cung Vô Ưu tại kinh thành Potsdam.[6][7]

[sửa] Xem thêm

[sửa] Tài liệu tham khảo

  1. ^ a b Giles MacDonogh, Frederick the Great: A Life in Deed and Letters, trang 6
  2. ^ a b c d Nathan Ausubel, Superman: the life of Frederick the Great, trang 326
  3. ^ Giles MacDonogh, Frederick the Great: A Life in Deed and Letters, trang 105
  4. ^ Giles MacDonogh, Frederick the Great: A Life in Deed in Letters, trang 114
  5. ^ Pierre Gaxotte, Philip Hamilton McMillan Memorial Publication Fund, Frederick the Great, trang 335
  6. ^ Pierre Gaxotte, Philip Hamilton McMillan Memorial Publication Fund, Frederick the Great, trang 334
  7. ^ Pierre Gaxotte, Philip Hamilton McMillan Memorial Publication Fund, Frederick the Great, trang 389

[sửa] Liên kết bên ngoài

[sửa] Đọc thêm

  • Mayor, Adrienne: "The Poison King: The Life and Legend of Mithradates, Rome's Deadliest Enemy" Princeton: Princeton University Press, 2009, ISBN 978-0-691-12683-8
  • Duggan, Alfred: He Died Old: Mithradates Eupator, King of Pontus, 1958
  • Ford, Michael Curtis: The Last King: Rome's Greatest Enemy, New York, Thomas Dunne Books, 2004, ISBN 0312275390
  • McGing, B.C.: The Foreign Policy of Mithridates VI Eupator, King of Pontus (Mnemosyne, Supplements: 89), Leiden, Brill Academic Publishers, 1986, ISBN 90-04-07591-7 [paperback]

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác