Vương quốc Hy Lạp-Bactria

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vương quốc Hy Lạp-Bactria

256 TCN–125 TCN
Vị trí của Vương quốc Hy Lạp-Bactria
Lãnh thổ lớn nhất của Vương quốc Hy Lạp-Bactria vào khoảng thập niên 180 TCN, với các khu vực như TapuriaTraxiane tới phía tây, SogdianaFerghana ở phía bắc, BactriaArachosia ở phía nam.
Thủ đô Bactra
Ai-Khanoum
Ngôn ngữ Hy Lạp
Bactria
Tôn giáo Các vị thần Hy Lạp
Đạo Phật
Chính thể Quân chủ
Vua
 - 250-240 TCN Diodotus I
 - 145-130 TCN Heliocles I
Thời đại lịch sử Cổ đại
 - Khởi đầu năm 256 TCN
 - Giải thể 125 TCN

Vương quốc Hy Lạp-Bactria, là một phần phía đông của thế giới Hy Lạp, bao gồm Đại Hạ (tức Bactria) và Sogdiana ở khu vực Trung Á từ năm 250 - 125 TCN. Việc mở rộng vương quốc Hy Lạp-Bactria vào miền bắc Ấn Độ từ năm 180 TCN đã thiết lập vương quốc Ấn-Hy Lạp tồn tại tới khoảng năm 10 SCN.

Nền độc lập (khoảng năm 250 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Hy Lạp-Bactria được thành lập khi Diodotus I, tổng trấn của Bactria, và có thể là của các tỉnh lân cận ly khai khỏi vương quốc Seleukos khoảng năm 250 TCN. Chưa có sự thống nhất trong các nguồn cổ về sự thành lập của vương quốc Hy Lạp-Bactria, có thể là vào khoảng năm 255 TCN hoặc 246 TCN.[1] Nguyên do là vì tiền xu của vua nhà SeleukosAntiochos II rất ít được tìm thấy ở Đại Hạ, như vậy có thể Diodotos đã giành độc lập vào đầu triều đại của Antiochos.[2] Thời điểm những năm 240 TCN là do cuộc chiến tranh Syria lần thứ ba của vương quốc Seleukos:

Tiền vàng của Diodotus c. 245 BCE. Dòng chữ Hy lạp Hy lạp đọc là: ΒΑΣΙΛΕΩΣ ΔΙΟΔΟΤΟΥ - "(của) vua Diodotus".
Diodotus, lãnh tụ nghìn thành phố của xứ Đại Hạ (tiếng Latin: "Theodotus, mille urbium Bactrianarum praefectus"), đã chiến thắng và tự lập mình làm vua. Tất cả những người dân của phương đông chấp nhận điều này của ông và ly khai khỏi Macedonia (Justin, XLI, 4)[3])

Đất nước mới với nhiều đô thị và được coi là một trong những quốc gia giàu có nhất ở phương đông (opulentissimum illud mille urbium Bactrianum Imperium "đế quốc vô cùng thịnh vượng của hàng ngàn thành phố của Bactria" Justin, XLI, 1[4]) đã phát triển thế lực xa hơn và tham gia vào việc mở rộng lãnh thổ về phía đông và phía tây:

Những người Hy Lạp mà là nguyên nhân Bactria nổi loạn đã trở nên hùng mạnh dựa vào những tài nguyên của đất nước mà họ mà họ trở thành lãnh đạo không chỉ của Ariana, mà còn của Ấn Độ, như Apollodorus của Artemita nói: và rất nhiều bộ lạc đã bị họ chinh phục nhiều hơn là Alexandros. Những thành phố của họ là Bactra (còn được gọi là Zariaspa, mà qua đó dòng chảy của con sông cùng tên đổ vào Oxus), và Darapsa, và nhiều thành phố khác nữa. Trong số này có Eucratidia, được đặt tên bởi nhà vua cai trị nó.[5]

Arsaces, tù trưởng của bộ lạc du mục Parni, đã tiến vào Parthia và loại bỏ Andragoras, phó vương cũ và tự lập mình làm vua của Parthia, và ông đã trở thành người sáng lập của đế quốc Parthia. Vương quốc Hy Lạp-Bactria bị cắt đứt mối liên hệ với thế giới Hy Lạp cổ. Buôn bán đường bộ tiếp tục suy giảm trong khi buôn bán đường biển giữa Ai Cập - Hy Lạp và Bactria tiếp tục phát triển. Khi Seleukos II cố gắng để tiêu diệt những kẻ nổi loạn ở miền đông vào năm 239 TCN, đầu tiên, ông và Diodotos kết làm đồng minh để chống lại người Parthia.

Ngay sau đó, Diodotos mất và được thừa kế bởi con trai Diodotos II, người đã thiết lập hòa bình với người Parthia (Justin l.c.). Diodotos II đã thiết lập liên minh với Arsaces của Parthia trong cuộc chiến chống lại Seleukos II:

Sau khi đón nhận tin về cái chết của Theodotus (Justin sử dụng một tên khác với nguyên bản) Arsaces thiết lập hòa bình và một liên minh với con trai ông, cũng lấy tên là Theodotus. Một thời gian sau, ông chống lại vua Seleukos II người đến để trừng phạt những kẻ nổi loạn và ông đã chiến thắng: người Parthia coi ngày này như là một trong những ngày đánh dấu sự bắt đầu của sự tự do của họ.[6]

Lật đổ Diodotus (khoảng 230 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền xu của cua Euthydemos (230-200 TCN). Dòng chữ khắc bằng tiếng Hy Lạp: ΒΑΣΙΛΕΩΣ ΕΥΘΥΔΗΜΟΥ - "(của) vua Euthydemos".

Euthydemus, một người Hy Lạp ở Magnesia theo Polybius,[7] có thể là phó vương của Sogdiana, lật đổ Diodotus II khoảng năm 230 TCN và bắt đầu triều đại của riêng mình. Ethydemus đã mở rộng quyền kiểm soát tới Sogdiana, tới tận thành phố Alexandria Eschate thành lập bởi Alexandros Đại ĐếFerghana:

Và họ còn chiếm Sogdiana, nằm ở phía trên Bactria về phía đông giữa sông Oxus, mà là ranh giới hình thức giữa người Bactria và người Sogdian, và sông Iaxartes. Iaxartes cũng là ranh giới hình thức giữa người Sogdians và những người du mục. - Strabo XI.11.2[8]

Kháng chiến chống quân Seleukos xâm lược[sửa | sửa mã nguồn]

Euthydemus bị tấn công bởi vua Antiochos III Đại đế, người mà ông ta đã cố gắng chống lại ở bên bờ sông Arius, ngày nay là Herirud. Mặc dù ông chỉ huy 10000 kị binh bắn cung, Euthydemos đã thất bại trong trận chiến đầu tiên bên bờ sông Arius và phải rút lui.[9] Ông sau đó đã thành công khi chống đỡ cuộc vây hãm thành phố Bactra trong 3 năm. Trước khi Antiochos quyết định phải công nhận nhà vua mới và chấp nhận gả một người con gái của mình cho con trai Euthydemos là Demetrios khoảng năm 206 TCN.[10]

"... nếu ông ta không chịu nhường yêu cầu này, không những cả hai sẽ không được an toàn: vì thấy rằng những đoàn người du mục lớn đã ở rất gần, một mối nguy hiểm cho cả hai; và rằng nếu họ cho chúng vào trong nước, nó chắc chắn sẽ hoàn toàn bị man rợ hóa."(Polybius, 11.34).

Bành trướng lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự rút lui của quân đội Seleukos, dường như lãnh thổ Bactria đã được mở rộng. Ở phía tây, các vùng ở miền đông bắc Iran có thể đã bị xáp nhập, có thể xa hơn tới Parthia, nơi các vị vua đã bị Antiochos III Đại đế đánh bại. Những tỉnh này có thể đã được thống nhất dưới quyền phó vương Bactria của TapuriaTraxiane.

Quan hệ với Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Gương đồng với khảm thủy tinh đời Chu-Hán, có sử dụng kỹ thuật Hy Lạp-Bactria (hình hoa hồng, đường nét hình học, và khảm thủy tinh). 300-200 TCN. Victoria and Albert Museum.
Bình với khảm thủy tinh đời nhà Chu mang ảnh hưởng của phương tây, thế kỷ 4-3 TCN, British Museum.

Ở phía bắc, Euthydemus cũng cai trị Sogdiana và Ferghane, và có những dẫn chứng ở Alexandria Eschate rằng người Hy lạp-Bactria đã tiến hành những cuộc viễn chinh tới tận KashgarÜrümqi. Dẫn đến những mối liên hệ đầu tiên giữa Trung Quốc và phương Tây khoảng năm 220 TCN. Nhà sử học Hy Lạp Strabo viết rằng:

Họ đã mở rộng đế chế của mình xa tới tận Seres (người Trung Quốc) và Phryni. (Strabo, XI.XI.I)[5]

Một số bức tượng nhỏ và tiêu biểu hình những người lính Hy Lạp, đã được tìm thấy ở phía bắc dãy Thiên Sơn, ở ngưỡng cửa tới Trung Quốc, và hiện nay được trưng bày tại bảo tàng Tân Cương, Urumqi (Boardman[11])

Ảnh hưởng của Hy Lạp vào nghệ thuật Trung Quốc cũng đã được đề xuất (Hirth, Rostovtzeff). Những nét trang trí với hoa hồng, đường nét hình học, và khảm thủy tinh, gợi ý ảnh hưởng của Hy Lạp,[12] có thể được tìm thấy trên một số gương đồng vào thời đầu triều đại nhà Hán, thời gian giữa năm 300-200 trước Công nguyên[13].

Những nghiên cứu tiền xu cũng cho thấy rằng một số sự trao đổi công nghệ có thể đã xảy ra vào dịp này: Người Hy lạp-Bactria là những người đầu tiên trên thế giới phát hành tiền xu bằng hợp kim đồng-nickel (tỷ lệ 75/25),[14] một công nghệ hợp kim chỉ được biết đến bởi người Trung Quốc vào thời gian này dưới cái tên "đồng trắng" (một số vũ khí từ thời Chiến Quốc làm bằng hợp kim đồng-niken[15]). Việc tiến hành xuất khẩu kim loại của Trung Quốc, đặc biệt là sắt, cho mục đích thương mại đã được chứng thực vào khoảng thời gian đó. Những vị vua nhà Euthydemos, Euthydemus II, AgathoclesPantaleon đã ban hành những đồng tiền này vào khoảng năm 170 trước Công nguyên và có một cách khác được cho rằng quặng đồng niken có nguồn gốc từ các mỏ tại Anarak [16]. Hợp kim đồng-Nickel không được sử dụng một lần nữa trong tiền đúc cho đến thế kỷ 19.

Sự hiện diện của người Trung Quốc tại Ấn Độ từ thời cổ đại cũng được nêu đến bởi sự miêu tả của Ciñas trong tác phẩm MahabharataManu Smriti.

Nhà thám hiểm nhà Hán và đại sứ Trương Khiên viếng thăm Bactria trong năm 126 TCN, và nhắc đến sự hiện diện của các sản phẩm Trung Quốc tại các chợ của Bactria:

"Khi ở Đại Hạ (Bactria), thần thấy gậy trúc đất Cung (vùng Tây nam Tứ Xuyên ngày nay), vải bố đất Thục (vùng Tứ Xuyên ngày nay). Khi thần hỏi người dân làm thế nào họ có được, họ trả lời, "Thương nhân chúng tôi mua chúng từ các chợ ở Thân Độc (Sindhu, tức Ấn Độ ngày nay)"".[17]

Khi trở về, Trương Khiên tâu lên hoàng đế Trung Quốc Hán Vũ Đế về mức độ tinh vi của các nền văn minh đô thị của Ferghana, BactriaParthia, và hoàng đế đã trở nên quan tâm đến việc phát triển mối quan hệ thương mại với họ:

"Thiên tử khi nghe thấy những điều này đã nói rằng: Đại Uyên (大宛, Ferghana) và những vùng thuộc Đại Hạ (Bactria) cùng An Tức (安息, Parthia) là các nước lớn, sản vật phong phú, với dân cư sống trong các nơi cố định và có nghề nghiệp gần giống như của người Hán, nhưng có quân đội yếu và trả giá cao cho các sản vật của Trung Hoa" (Hán thư, Tiền Hán thư).

Những mối tiếp xúc này ngay lập tức dẫn tới việc sai phái nhiều đoàn sứ giả từ Trung Quốc tới và điều đó giúp cho Con đường tơ lụa được phát triển.[18]

Quan hệ với Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Sắc lệnh song ngữ của Ashoka (viết bằng tiếng Hy Lạptiếng Aramaic), được tìm thấy ở Càn-đà-la. Khoảng 250 TCN, Bảo tàng Kabul.

Hoàng đế Ấn Độ là Chandragupta, sáng tổ nhà Maurya, đã tái chinh phục Tây Bắc Ấn Độ khi Alexandros Đại đế qua đời khoảng năm 322 TCN. Tuy nhiên, ông đã giữ quan hệ với người láng giềng Hy Lạp của mình, vương quốc Seleukos, một triều đại liên minh hoặc sự công nhận của hôn giữa người Hy Lạp và Ấn Độ đã được thiết lập và một số người Hy Lạp, chẳng hạn như sử gia Megasthenes, đã cư ngụ tại triều đình Maurya. Sau đó, mỗi hoàng đế Maurya đều có một đại sứ Hy Lạp tại triều đình của mình.

Theo sắc lệnh của Ashoka, ghi trên đá, một trong số đó viết bằng tiếng Hy Lạp, ông gửi sứ thần Phật giáo đến các vùng đất Hy Lạp ở châu Á và xa tới tận Địa Trung Hải. Các sắc lệnh ghi tên của từng vị vua cai trị thế giới Hy Lạp vào thời điểm đó.

Một số của người dân Hy Lạp vẫn ở tây bắc Ấn Độ dường như đã chuyển đổi sang theo Phật giáo:

"Ở đây ở trong đất đai của nhà vua trong số những người Hy Lạp, người Kamboja, người Nabhakas, người Nabhapamkits, người Bhojas, người Pitinikas, người Andhras và Palidas, ở khắp mọi nơi mọi người đang tin theo những lời chỉ dạy của trời trong Phật pháp."

Hơn nữa, theo những nguồn Pali, một số sứ giả của Ashoka đã là những tu sĩ Phật giáo người Hy Lạp, cho thấy sự trao đổi tôn giáo gần gũi giữa hai nền văn hóa:

Xâm lược Ấn Độ (sau năm 180 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Demetrios, con trai của Euthydemos, bắt đầu một cuộc xâm lược của Ấn Độ từ năm 180 TCN, một vài năm sau khi nhà Sunga lật đổ đế quốc Maurya. Có nhiều nguyên nhân cho cuộc xâm lược này. Một số nhà sử học gợi ý rằng các cuộc xâm lược Ấn Độ được dự định để trợ giúp cho đế quốc Maurya và bảo vệ cho đạo Phật khỏi sự ngược đãi của nhà Sunga. Một số nhà sử học khác cho rằng thông tin về sự ngược đãi Đạo Phật là do phóng đại.

Demetrios đã có thể tiến xa tới tận kinh đô Pataliputra của đế quốc ở miền đông Ấn Độ (Patna ngày nay). Tuy nhiên, những chiến dịch này thường được quy cho Menandros. Cuộc xâm lược này kết thúc vào năm 175 TCN. Điều này đã dẫn đến việc thiết lập vương quốc Ấn-Hy Lạp kéo dài gần hai thế kỷ cho đến khoảng năm 10 SCN. Đạo Phật phát triển mạnh dưới thời các vị vua Ấn-Hy Lạp, trước hết trong số họ là Menandros I.

Sự nổi loạn của Eucratides[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng tetradrachm bạc của vua Eucratides 171-145 TCN. Dòng chữ Hy Lạp: ΒΑΣΙΛΕΩΣ ΜΕΓΑΛΟΥ ΕΥΚΡΑΤΙΔΟΥ - "(của) vua Eucratides Đại đế".

Quay trở lại Bactria, nơi mà Eucratides, một tướng lĩnh cũ của Demetrius hoặc một đồng minh của nhà Seleukos đã cố gắng lật đổ triều đại của Ethydemus và thiết lập quyền lực của ông ta khoảng năm 170 TCn. Có lẽ đã phế truất Antimachus IAntimachus II. Một chi của dòng họ Euthydemus ở Ấn Độ đã cố gắng để phản công lại. Một vị vua Ấn Độ tên là Demetrios, (rất có thể là Demetrios II) được cho là đã quay trở lại Bactria với 60.000 lính để lật đổ kẻ cướp ngôi nhưng đã bị đánh bại và chết trong một trận đánh:

Eucratides tiến hành nhiều cuộc chiến tranh với lòng dũng cảm tuyệt vời, và, trong khi suy yếu bởi họ, và bị đặt dưới sự bao vây của Demetrios, vua của người Ấn Độ. Ông đã tiến hành nhiều cuộc đột kích và cố gắng để chiến thắng 60.000 kẻ thù với 300 chiến binh, và vì vậy đã giải phóng sau bốn tháng, ông đã đặt Ấn Độ dưới sự cai trị của mình. - Justin, XLI,6[19]

Eucratides đã tiến hành những cuộc mở rộng mạnh mẽ ở tây bắc Ấn Độ, và cai trị trên một lãnh thổ rộng lớn được biết đến nhờ những đồng tiền của ông được ban hành rộng rãi ở Ấn Độ,có thể xa tới sông JhelumPunjab. Tuy vậy, ông đã bị đẩy lùi bởi vua Ấn-Hy Lạp là Menandros I, người đã cố gắng để tạo ra một vùng lãnh thổ rộng lớn thống nhất.

Trong một thông tin có thể là nhầm lẫn, Justin giải thích rằng Eucratides đã thiệt mạng trên chiến trường bởi con trai và người đồng cai trị với mình, người con trai đó có thể là Eucratides II hoặc Heliocles I (mặc dù có những suy đoán rằng đó có thể là kẻ thù của ông, con trai của Demetrius II). Người con đã điều khiển cỗ chiến xa của mình kéo theo thân thể đẫm máu của Eucratides và bỏ mặc thân xác không chân tay mà không hề chôn cất:

"Khi Eucratides trở về từ Ấn Độ, ông bị sát hại trên đường trở về bởi con trai ông, người mà ông đã cai trị cùng mình, và người, mà không ẩn giết cha mẹ ông, như thể ông ta đã không giết một người cha mà là một kẻ thù, chạy trên cỗ xe qua máu của cha mình, và ra lệnh bỏ lại xác chết được mà không được chôn xuống mộ "Justin XLI, 6[19]

Thất bại trước người Parthia[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng xtatơ vàng của Eucratides, đồng vàng lớn nhất thời cổ đại. Với trong lượng 169.2 gam, và có đường kính 58 milimét.

Đồng thời, và có thể trong hoặc sau khi chiến dịch Ấn Độ của mình, Eucratides của Bactria đã bị tấn công và đánh bại bởi vua Mithridates I của Parthia, người đã liên minh với những người ủng hộ của nhà Euthydemos:

Người Bactria, đã vướng vào các cuộc chiến tranh khác nhau, bị mất không chỉ cai trị của họ mà còn là sự tự do của họ, vì kiệt sức bởi cuộc chiến tranh của họ chống lại người Sogdians, người Arachotes, và Dranges, người Arians và người Ấn Độ, cuối cùng họ đã bị nghiền nát, như thể rút ra tất cả máu của họ, bởi một kẻ thù yếu hơn họ, người Parthia. (Justin, XLI,6[19])

Sau chiến thắng của mình, Mithridates đã chiếm được các vùng lãnh thổ phía tây của Bactria là Arius, các vùng TapuriaTraxiane:

Các phó vương Turiva và của Aspionus đã bị đoạt khỏi tay Eucratides bởi người Parthia. (Strabo XI.11.2[8])

Trong năm 141 TCn, vương quốc Hy Lạp-Bactria dường như đã tham gia vào một liên minh với vua nhà Seleukos là Demetrios II để một lần nữa chiến đấu chống lại Parthia:

Những người dân của Phương Đông hoan nghênh ông ta (Demetrios II) đến, một phần do sự tàn bạo của các vị vua Arsaces, vua của người Parthia, một phần vì, họ đã quen với sự cai trị của người Macedonia, họ không thích sự kiêu ngạo của những người mới. Dẫu vậy, Demetrios, với sự ủng hộ của người Ba Tư, Elymes, Bactria, đã truy đuổi người Parthia trong nhiều trận đánh. Cuối cùng, bị lừa bởi một nền hòa bình giả, ông đã bị bắt làm tù binh. - Justin XXXVI, 1,1[20]

Sử gia thế kỷ thứ 5 Orosius tuyên bố rằng Mithridates I đã cố gắng để chiếm những vùng lãnh thổ giữa sông Ấn và Hydaspes vào cuối khoảng thời gian trị vì của ông, khoảng năm 138 TCN, trước khi vương quốc của ông bị suy yếu do cái chết của ông vào năm 136 TCN.[21]

Heliocles I đã cai trị cho đến khi qua đời trong những vùng lãnh thổ còn lại. Thất bại, cả ở phía tây và phía đông, đã để lại Bactria suy yếu và mở cửa cho các cuộc xâm lược của dân du mục.

Các cuộc xâm lược của dân du mục[sửa | sửa mã nguồn]

Sự xâm lược của người Nguyệt Chi (khoảng năm 162 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Sự di cư của người Nguyệt Chi vượt qua Trung Á, khoảng từ năm 176 TCN tới năm 30 CN.

Theo sử nhà Hán, sau một thất bại tan nát vào năm 162 TCN trước quân Hung Nô, những bộ tộc du mục người Nguyệt Chi chạy trốn từ lưu vực Tarim ở phía tây, vượt qua các nền văn minh đô thị lân cận của người "Đại Uyên" (có lẽ là thuộc địa Hy Lạp ở Ferghana), và tái định cư phía bắc của sông Oxus, ngày nay là KazakhstanUzbekistan, ở phần phía bắc của vương quốc Hy Lạp-Bactria. Người Đại Uyên vẫn tồn tại và có một nền văn minh đô thị hùng mạnh mà đã có rất nhiều mối quan hệ và trao đổi với Trung Quốc từ năm 130 trước Công Nguyên.

Người Nguyệt Chi rõ ràng đã chiếm vùng lãnh thổ Hy Lạp-Bactria ở phía bắc của sông Oxus trong thời kỳ trị vì của Eukratides, người đang bận rộn tại Ấn Độ để chiến đấu chống lại vương quốc Ấn-Hy Lạp.

Người Scythia (khoảng năm 140 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện vật bằng vàng của người Saka tại Bactria.

Khoảng năm 140 TCN, người Scythia phía đông (người Saka, hoặc Sacaraucae theo nguồn Hy Lạp), dường như đã bị đẩy về phía trước do sự di chuyển xuống phía Nam của người Nguyệt Chi bắt đầu xâm lược các phần khác nhau của ParthiaBactria. Cuộc xâm lược Parthia của họ đã được ghi lại, trong đó họ tấn công theo hướng tiến về các thành phố Merv, HecatompolisEctabana. Họ đã cố gắng để đánh bại và giết chết vua Parthia là Phraates II, con trai của Mithridates I, đánh đuổi lính đánh thuê Hy Lạp dưới sự chỉ huy của ông (quân đội, ông đã thu được trong chiến thắng trước Antiochos VII). Một lần nữa trong 123 TCN, người kế vị cũng là chú của Phraate, Artabanus I đã bị giết bởi người Scythia.[22]

Có vẻ như là Bactria cũng bị tấn công và bị chia cắt thành nhiều vùng trong cùng đợt di chuyển lớn của người Scythia. Việc tiêu hủy thành phố Hy Lạp-Bactria Ai-Khanoum,khoảng năm 140 TCN, thường xuyên được quy cho họ. Người Scythia sẽ ngày càng di chuyển từ phía Nam và Đông Nam vào AfghanistanẤn Độ, dưới áp lực của người Nguyệt Chi.

Cuộc xâm lược lần thứ hai của người Nguyệt Chi (120 TCN-)[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Trương Khiên viếng thăm người Nguyệt Chi trong năm 126 TCN, ông đã cố gắng để thiết lập liên minh với họ để chống lại người Hung Nô, ông kể lại rằng người Nguyệt Chi đã định cư ở phía bắc của sông Oxus, nhưng cũng đã gây ảnh hưởng của họ trên vùng lãnh thổ phía nam của sông Oxus, mà thuộc về Bactria.

Theo Trương Khiên, người Nguyệt Chi có một lực lượng đáng kể từ 100.000 và 200.000 cung thủ[23], mà giống hệt với những người Hung Nô, và có lẽ đã dễ dàng đánh bại các lực lượng Hy Lạp-Bactrian (năm 208 TCN khi vua Hy Lạp-Bactria Euthydemus I đối mặt với cuộc xâm lược của vua Seleukos Antiochus III Đại đế, ông đã chỉ huy 10.000 lính kỵ binh [9]). Trương Khiên thực sự đã viếng thăm Bactria (được đặt tên là Daxia tại Trung Quốc) trong năm 126 TCN, và miêu tả một đất nước hoàn toàn mất tinh thần và có hệ thống chính trị đã biến mất, mặc dù cơ sở hạ tầng đô thị của nó vẫn còn:

"Đại Hạ nằm cách Đại Uyên trên 2.000 lí về phía tây nam, phía nam sông Gui (Oxus). Người dân quốc gia này canh tác đất và có các thành phố và nhà cửa. Tập quán của họ là tương tự như của Đại Uyên. Họ không có người cai trị vĩ đại mà chỉ có các thủ lĩnh nhỏ cai quản các thành phố khác nhau. Người dân là kém cỏi trong việc sử dụng vũ khí và sợ đánh trận, nhưng họ lại thông minh trong buôn bán. Sau khi người Đại Nguyệt Chi chuyển về phía tây và tấn công các vùng đất, thì toàn bộ quốc gia này nằm dưới sự thống trị của họ. Dân số nước này khá đông, ước khoảng trên 100 vạn dân. Kinh đô của họ là thành phố Lanshi (Bactra) và có chợ mà ở đó mọi thứ hàng hóa được mua và bán". ("Sử Ký", Tư Mã Thiên, phần về Trương Khiên)

Người Nguyệt Chi tiếp tục mở rộng thêm về phía nam vào Bactria khoảng năm 120 TCN.Cuộc xâm lược này cũng được mô tả trong các nguồn tài tư liệu cổ điển phương Tây từ thế kỷ 1 trước Công nguyên, với những tên gọi khác nhau mà được sử dụng bởi người Trung Quốc:

"Những bộ tộc đã cướp bóc người Hy Lạp-Bactria nổi tiếng nhất là người Asii, Pasiani, Tochari, và Sacarauli, những người đến từ đất nước ở phía bên kia bờ sông Jaxartes, đối diện với Sacae và Sogdiani."
(Strabo, 11-8-1)[24]

Khoảng thời gian đó vua Heliocles rời bỏ Bactria và dời đô đến thung lũng Kabul, từ nơi đó ông cai trị phần lãnh địa Ấn Độ của mình. Rời bỏ lãnh thổ Bactria, ông là vị vua cuối cùng của vương quốc Hy lạp-Bactria, mặc dù một số con cháu của ông, di chuyển vượt ra ngoài Hindu Kush, sẽ cai trị phần phía tây của vương quốc Ấn-Hy Lạp. Vị vua cuối cùng của phần vương quốc Ấn-Hy Lạp phía tây, Hermaeus, sẽ cai trị cho đến khoảng năm 70 TCN, khi người Nguyệt Chi xâm chiếm lãnh thổ của ông ta một lần nữa ở Paropamisadae (trong khi những vị vua Ấn-Hy Lạp miền đông sẽ tiếp tục cai trị cho đến khoảng năm 10 SCN trong vùng đất nay là Punjab).

Nhìn chung, người Nguyệt Chi ở lại Bactria trong hơn một thế kỷ. Họ được hy lạp hóa ở mức độ nào, như bằng việc sử dụng bảng chữ cái Hy Lạp viết để thể hiện ngôn ngữ của họ, và bởi nhiều đồng tiền còn lại, đúc theo phong cách của các vị vua Hy Lạp-Bactrian, với các văn bản bằng tiếng Hy Lạp.

Khoảng năm 12 TCN người Nguyệt Chi sau đó di chuyển xa hơn đến miền bắc Ấn Độ, nơi họ thành lập đế chế Quý Sương.

Các vị vua Hy Lạp-Bactria[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng họ Diodotus[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng lãnh thổ Bactria, Sogdiana, Ferghana, Arachosia:

Tiền xu Demetrius I. Người thành lập vương quốc Ấn-Hy Lạp (kh. 205-171 BC). Dòng chữ Hy Lạp: ΒΑΣΙΛΕΩΣ ΔΗΜΗΤΡΙΟΥ - "(của) vua Demetrius".
Đồng tetradrachm bạc của vua Eucratides 171-145 TCN. Dòng chữ Hy Lạp: ΒΑΣΙΛΕΩΣ ΜΕΓΑΛΟΥ ΕΥΚΡΑΤΙΔΟΥ - "(của) vua Eucratides Đại đế".

Dòng họ Euthydemus[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng lãnh thổ Bactria, Sogdiana, Ferghana, Arachosia:

  • Euthydemos I (cai trị 223-200 TCN) lật đổ Diodotus II.

Các hậu duệ của vua Hy Lạp- Bactrian Euthydemus đã xâm chiếm miền bắc Ấn Độ khoảng năm 190 TCN. triều đại của họ có thể đã bị đuổi khỏi Bactria sau năm 170 TCN bởi vị vua mới Eucratides, nhưng vẫn còn tồn tại ở các vùng đất của đế quốc ở Ấn Độ ít nhất cho đến khoảng năm 150 TCN.

  • Demetrios I (cai trị 200-180 TCN) con trai của Euthydemus I, vua của Hy Lạp-Bactria và đã chinh phục Ấn độ.

Các lãnh thổ bị chinh phục bởi Demetrius đã bị chia tách thành 2 phần phía tây và phía đông, được cai trị bởi những kẻ tiếm vị và các vị vua kế nhiệm.

Vùng đất Bactria:

  • Euthydemos II (khoảng năm 180 TCN)có thể là con trai của Demetrius.
  • Antimachos I (có thể là 185-170 TCN) em trai của Demetrius. Đã bị đánh bải bởi kẻ nổi loạn Eucratides.

Vùng đất Paropamisadae, Arachosia, Gandhara, Punjab:

Dòng họ Eucratides[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng đất BactriaSogdiana:

Heliocles, vị vua Hy Lạp cuối cùng của Bactria, đã bị lật đổ bởi các bộ lạc du cư của người Nguyệt Chi từ miền Bắc. Con cháu của Eucratides có thể đã cai trị vương quốc Ấn-Hy Lạp.

Nền văn hóa Hy Lạp ở Bactria[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu cột phong cách Corinth, tìm thấy tại Ai-Khanoum, thế kỷ 2 TCN

Người Hy Lạp-Bactria đã được biết đến với nền văn hóa Hy Lạp ở mức độ cao, và họ giữ liên lạc thường xuyên với cả các quốc gia Địa Trung Hải láng giềng và Ấn Độ. Họ đã được biết đến vì sự thân thiện với Ấn Độ và thường xuyên trao đổi đại sứ.

Thành phố của họ, chẳng hạn như Ai-Khanoum ở đông bắc Afghanistan (có thể là Alexandria trên sông Oxus), và Bactra (hiện nay là Balkh), nơi vẫn tàn tích Hy Lạp đã được tìm thấy, thể hiện một nền văn hóa đô thị Hy Lạp tinh vi. Những nơi này cho thấy một sự phát triển cao của văn hóa Hy Lạp-Bactria khoảng năm 145 trước Công nguyên, khi thành phố bị thiêu cháy trong suốt cuộc xâm lược của dân du mục và không bao giờ phát triển lại. Ai-Khanoum "có tất cả các điểm nổi bật của một thành phố Hy Lạp, với một nhà hát Hy Lạp, phòng khu tập luyện và một số nhà ở Hy Lạp với dãy hàng cột".Những tàn tích của các cây cột cổ điển kiểu Corinth đã được tìm thấy trong những cuộc khai quật ở di chỉ này, cũng như các mảnh vỡ điêu khắc khác nhau. Đặc biệt một đoạn chân rất lớn theo phong cách Hy Lạp cổ đại tuyệt vời đã được phục hồi, nó được ước tính là thuộc về một bức tượng cao 5-6 mét.

Khối đá với những chữ khắc của Kineas bằng tiếng Hy Lạp. Ai Khanoum.

Một trong những dòng chữ khắc Hy Lạp được tìm thấy ở Ai-Khanoum, Herôon của Kineas, có thời gian vào khoảng năm 300-250 trước Công nguyên, và diễn đạt những châm ngôn Delphi:

"Là một đứa trẻ, hãy học cách cư xử tốt.
Là thanh niên, hãy học cách kiểm soát những đam mê.
Khi ở tuổi trung niên, hãy công bằng.
Khi về già, hãy đưa ra lời khuyên tốt.
Sau này chết, mà không hối tiếc. "

Một số các đồng tiền của người Hy Lạp-Bactria, và những người kế tục Ấn-Hy Lạp, được coi là những ví dụ đẹp nhất của nghệ thuật tiền xu Hy Lạp với "một sự pha trộn tốt đẹp của chủ nghĩa hiện thực và lý tưởng hóa", bao gồm cả các đồng tiền lớn nhất được đúc trong thế giới Hy Lạp cổ đại:đồng tiền vàng lớn nhất được đúc bởi vua Eucratides (trị vì 171-145 TCN), đồng xu bạc lớn nhất của vua Ấn Độ-Hy Lạp Amyntas (trị vì c. 95-90 trước Công nguyên).

Một số thành phố Hy Lạp-Bactria đã tiếp tục được xác định, như Saksanokhur ở miền nam Tajikistan, hoặc ở Dal'verzin Tepe.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ J. D. Lerner, The Impact of Seleucid Decline on the Eastern Iranian Plateau: the Foundations of Arsacid Parthia and Graeco-Bactria, (Stuttgart 1999)
  2. ^ F. L. Holt, Thundering Zeus (Berkeley 1999)
  3. ^ Justin XLI, paragraph 4
  4. ^ Justin XLI, paragraph 1
  5. ^ a ă Strabo XI.XI.I
  6. ^ Justin XLI
  7. ^ Polybius 11.34
  8. ^ a ă Strabo 11.11.2
  9. ^ a ă Polybius 10.49, Battle of the Arius
  10. ^ Polybius 11.34 Siege of Bactra
  11. ^ On the image of the Greek kneeling warrior: "A bronze figurine of a kneeling warrior, not Greek work, but wearing a version of the Greek Phrygian helmet.. From a burial, said to be of the 4th century BC, just north of the Tien Shan range". Ürümqi Xinjiang Museum. (Boardman "The diffusion of Classical Art in Antiquity")
  12. ^ Notice of the British Museum on the Zhou vase (2005, attached image): "Red earthenware bowl, decorated with a slip and inlaid with glass paste. Eastern Zhou period, 4th–3rd century BC. This bowl was probably intended to copy a more precious and possibly foreign vessel in bronze or even silver. Glass was little used in China. Its popularity at the end of the Eastern Zhou period was probably due to foreign influence."
  13. ^ "The things which China received from the Graeco-Iranian world-the pomegranate and other "Chang-Kien" plants, the heavy equipment of the cataphract, the traces of Greeks influence on Han art (such as) the famous white bronze mirror of the Han period with Graeco-Bactrian designs (...) in the Victoria and Albert Museum" (Tarn, "The Greeks in Bactria and India", p363-364)
  14. ^ Copper-Nickel coinage in Greco-Bactria.
  15. ^ Ancient Chinese weapons A halberd of copper-nickel alloy, from the Warring States Period.
  16. ^ A.A. Moss pp317-318 Numismatic Chronicle 1950
  17. ^ Tư Mã Thiên, Sử Ký, mục "Đại Uyển liệt truyện"
  18. ^ C.Michael Hogan, Silk Road, North China, Megalithic Portal, ed. A. Burnham
  19. ^ a ă â Justin XLI,6
  20. ^ Justin XXXVI, 1,1
  21. ^ Mentioned in "Hellenism in ancient India", Banerjee, p140, to be taken carefully since Orosius is often rather unreliable in his accounts.
  22. ^ "Parthians and Sassanid Persians", Peter Wilcox, tr.15
  23. ^ "Họ là một nước du mục, di chuyển từ nơi này đến nơi khác cùng bầy đàn gia súc, và phong tục cũng giống như dân Hung Nô. Họ có khoảng 10 đến 20 vạn cung thủ... The Yuezhi originally lived in the area between the Qilian or Heavenly mountains and Dunhuang, but after they were defeated by the Xiongnu they moved far away to the west, beyond Dayuan, where they attacked and conquered the people of Daxia (Bactria) and set up the court of their king on the northern bank of the Gui (Oxus) river" ("Records of the Great Historian", Sima Qian, trans. Burton Watson, p234)
  24. ^ Strabo 11-8-1 về cuộc xâm lược Bactria của dân du mục

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • "The Shape of Ancient Thought. Comparative studies in Greek and Indian Philosophies" by Thomas McEvilley (Allworth Press and the School of Visual Arts, 2002) ISBN 1-58115-203-5
  • "The Oxford Illustrated History of Greece and the Hellenistic World" by John Boardman, Jasper Griffin, Oswyn Murray (Oxford University Press) ISBN 0-19-285438-0
  • "The Diffusion of Classical Art in Antiquity" by John Boardman (Princeton University Press, 1994) ISBN 0-691-03680-2
  • "Records of the Great Historian. Han dynasty II", Sima Qian, trans. Burton Watson. Columbia University Press. 1993. ISBN 0-231-08167-7
  • "Monnaies Gréco-Bactriennes et Indo-Grecques, Catalogue Raisonné", Osmund Bopearachchi, 1991, Bibliothèque Nationale de France, ISBN 2-7177-1825-7.
  • "Buddhism in Central Asia" by B.N. Puri (Motilal Banarsidass Pub, January 1, 2000) ISBN 81-208-0372-8
  • "The Greeks in Bactria and India", W.W. Tarn, Cambridge University Press.
  • "De l'Indus à l'Oxus, Archéologie de l'Asie Centrale", Osmund Bopearachchi, Christine Sachs, ISBN 2-9516679-2-2