Người Ấn-Scythia
|
|||||||||||||||||||||||||||||
Người Ấn-Scythia là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ người Saka (hoặc Scythia), những người di cư vào Bactria, Sogdiana, Arachosia, Gandhara, Kashmir, Punjab, Gujarat, Maharashtra và Rajasthan, từ giữa thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 4 CN.
Đã có những tuyên bố rằng các nhà sử học cổ đại bao gồm Arrian và Ptolemy đã đề cập đến người Saka cổ đại ("Sakai") mà cơ bản là những người du mục [1] Tuy nhiên, Italo Ronca, trong nghiên cứu chi tiết của ông về chương VI của Ptolemy , đã chỉ ra các tuyên bố : "vùng đất của Sakai thuộc về những người du mục, họ không có các thị trấn nhưng ở trong rừng và hang động" là sự giả mạo[2]
Vua Saka đầu tiên ở Ấn Độ là Maues hoặc Moga, người xây dựng nên quyền lực của người Saka ở Gandhara và dần dần mở rộng uy quyền tối cao khắp phía tây bắc Ấn Độ. Người Ấn-Scythia cầm quyền ở Ấn Độ kết thúc với vị phó vương miền Tây cuối cùng Rudrasimha III trong năm 395 CN .
Cuộc xâm lược Ấn Độ của các bộ lạc Scythia từ Trung Á, thường được gọi là cuộc xâm lược của người Ấn-Scythia, đóng một phần quan trọng trong lịch sử của Nam Á cũng như các nước lân cận. Trong thực tế, cuộc chiến tranh của người Ấn- Scythia chỉ là một chương trong các sự kiện gây ra bởi các cuộc di cư từ Trung Á của các bộ lạc du mục do cuộc xung đột với các bộ lạc khác như Hung Nô ở thế kỷ thứ 2 CN, và đã có ảnh hưởng lâu dài đến Bactria, Kabul, Parthia và Ấn Độ là cũng như Roma xa xôi ở phía tây.
Mục lục |
Nguồn gốc [sửa]
Tổ tiên của người Ấn-Scythia được cho là những bộ lạc người Saka (Scythia).
"Một nhóm những người nói ngôn ngữ Ấn-Âu, mà đã xuất hiện sớm trong khu vực Tân Cương là người Saka (Ch. Sai) Saka là một thuật ngữ chung chung hơn một cái tên cho một nhà nước cụ thể hoặc một nhóm dân tộc; Những bộ lạc Saka là một phần của một nền văn hóa của những người du mục vượt qua Siberia và vùng đất thảo nguyên Trung Á-Âu từ Tân Cương đến biển Đen. Người Scythia mà Herodotus mô tả trong cuốn bốn tác phẩm Lịch sử của ông(Saka là một từ Iran tương đương với từ Scythos trong tiếng Hy Lạp, và nhiều học giả quy cho họ lại với nhau như là người Saka-Scythia), Sakas là những người du mục cưỡi ngựa nói tiếng Iran mà đã triển khai chiến xa trong trận chiến, hiến tế ngựa, và chôn cất người chết trong các gò hay những ngôi mộ gò đất được gọi là kurgan "[3]
.
Sự bành trướng của người Nguyệt Chi [sửa]
Trong thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, một trào lưu di cư mới đã bắt đầu trong số các bộ lạc ở Trung Á, mà đã gây ra ảnh hưởng lâu dài về mặt lịch sử đối với Rome ở châu Âu và Bactria, Kabul, Parthia và Ấn Độ ở phía đông. Nó được ghi lại trong biên niên sử của triều đại Hán và các ghi chép khác của Trung Quốc, trào lưu đại di cư của các bộ lạc bắt đầu sau khi các bộ lạc Nguyệt Chi đã người Hung Nô đánh bại, họ chạy trốn về phía tây sau thất bại của họ và tạo ra một hiệu ứng dây chuyền khi họ xua đuổi các bộ tộc Trung Á khác trên đường đi của mình.
Văn học Ấn Độ đã sớm ghi chép lại liên minh quân sự giữa người Sakas, Kambojas, Pahlavas và Paradas. Truyền thuyết Puranic cổ xưa đã đề cập đến một vài cuộc đồng xâm lược Ấn Độ bởi người Scythia. Cuộc xung đột giữa Bahu-Sagara của Ấn Độ và Haihaya-Kamboja-Saka-Pahlava-Parada cũng được gọi là cuộc chiến tranh chống lại "năm bộ lạc du mục" (Panca-ganha). Người Sakas, Yavanas, Tusharas và Kambojas cũng tham chiến trong cuộc chiến tranh Kurukshetra dưới sự chỉ huy của Sudakshina Kamboja. Trong tác phẩm Valmiki Ramayana cũng chứng thực rằng người Sakas, Kambojas, Pahlavas và Yavanas đã cùng chiến đấu với nhau chống lại vua Hindu Vishwamitra của Kanauj
Vào khoảng năm 177 TCN, Mặc Đốn đã chỉ huy người Hung Nô đánh vào lãnh thổ của người Nguyệt Chi tại khu vực Cam Túc và đã giành được một thắng lợi quan trọng. Mặc Đốn khoe khoang trong một bức thư gửi cho hoàng đế nhà Hán rằng, do "sự tuyệt vời của các chiến binh, và sức mạnh của bầy ngựa của mình, ông đã giành thắng lợi trong việc tiêu diệt người Nguyệt Chi, tàn sát hoặc ép phục tùng toàn bộ bộ lạc này".
Theo các sử liệu Trung Quốc, một phần lớn người Nguyệt Chi vì thế đã nằm dưới sự thống trị của nguời Hung Nô, và họ có thể là tổ tiên của những người nói tiếng Tochari đã được chứng thực vào thế kỷ 6. Một nhóm rất nhỏ người Nguyệt Chi chạy về phía nam tới lãnh thổ của người Khương, và được người Trung Quốc biết đến như là "Tiểu Nguyệt Chi". Theo Hán thư, họ chỉ có khoảng 150 gia đình.
Cuối cùng, một nhóm lớn người Nguyệt Chi đã chạy khỏi khu vực lòng chảo Tarim/ Cam Túc về phía tây bắc, đầu tiên định cư tại thung lũng Ili, ngay phía bắc dãy núi Thiên Sơn, tại đó họ phải đương đầu và đánh bại người Sai (Sakas hay người Scythia): "Người Nguyệt Chi tấn công vua của người Sai, người đã di chuyển một khoảng cách đáng kể về phía nam và người Nguyệt Chi sau đó đã chiếm đất của ông ta" (Hán Thư 61 4B). Người Sai cũng phải di cư, và họ đã tới Kashmir, sau khi vượt qua "chỗ vượt lơ lửng" (có lẽ là đèo Khunjerab giữa Tân Cương và miền bắc Pakistan ngày nay).
Sau năm 155 TCN, người Ô Tôn, liên kết với người Hung Nô và để trả thù cho các mâu thuẫn trước đây, đã xua đuổi người Nguyệt Chi và ép họ phải chạy về phía nam. Người Nguyệt Chi đã vượt qua khu vực văn minh đô thị láng giềng là Đại Uyên tại Ferghana, và định cư trên bờ phía bắc của sông Oxus, trong khu vực của Transoxiana, ngày nay thuộc Tajikistan và Uzbekistan, chỉ ngay phía bắc của Vương quốc Hy Lạp-Bactria. Thành phố Alexandria trên sông Oxus của người Hy Lạp dường như đã bị người Nguyệt Chi đốt cháy hoàn toàn vào khoảng năm 145 TCN.
Ở Parthia, giữa những năm 138-124 trước Công Nguyên, các bộ lạc Massagetae và Sacaraucae đã tham gia vào cuộc xung đột với đế chế Parthia, chiến thắng nhiều trận, và giết chết liền hai vị vua Phraates II và Artabanus I.
Vua Parthia, Mithridates II cuối cùng đã tái khôi phục lại sự kiểm soát Trung Á, đầu tiên là đánh bại người Nguyệt Chi ở Sogdiana trong năm 115 trước Công nguyên, và sau đó đánh bại người Scythia ở Parthia và Seistan khoảng năm 100 TCN
Sau thất bại của họ, các bộ lạc Nguyệt Chi di cư vào Bactria, nơi mà họ kiểm soát nhiều thế kỷ sau, và từ đó, sau đó họ chinh phục miền bắc Ấn Độ để thành lập Vương quốc Quý Sương.
Định cư ở Sakastan [sửa]
Người Saka đã định cư tại các khu vực ở phía đông Iran, mà vẫn được gọi cho tới sau này là Sistan. Từ đó, họ dần dần mở rộng vào tiểu lục địa Ấn Độ, nơi đó họ đã thiết lập một loạt các vương quốc khác nhau, và là nơi họ được gọi là người "Ấn-Scythia".
Hoàng đế nhà Arsaces, Mithridates II (c 123-88/87 trước Công nguyên) đã được ghi nhận nhiều thành công chống lại người Scythia và thêm nhiều tỉnh vào đế chế Parthia,[4] và dường như nhóm dân du mục Scythia đến từ Bactria cũng đã bị chinh phục bởi ông ta. Một phần của những người này đã di chuyển từ Bactria tới Hồ Helmond trong náo động từ áp lực của người Nguyệt Chi và định cư tại Drangiana (Sigal), một khu vực mà sau này được gọi là "Sakistana của người Sakai (Scythia) Skythian",[5] vào khoảng cuối thế kỷ thứ 1 trước Công Nguyên [6] . Khu vực này vẫn còn được gọi là Seistan.
Sakistan hoặc Seistan Drangiana có thể không chỉ là vùng đất sinh sống của một mình dân Saka nhưng cũng có thể có cả người Pahlavas và Kambojas[7] Sắc lệnh trên đá của vua Ashoka chỉ đề cập tới người Yavanas, Kambojas và Gandhara ở phía tây bắc, nhưng không có gì đề cập đến người Sakas, những người di cư tới khu vực này hơn một thế kỷ sau đó.
Sự hiện diện của người Sakas ở Sakastan trong thế kỷ 1 trước CN đã được đề cập bởi Isidore của Charax trong tác phẩm "những trạm của người Parthia" của ông. Ông giải thích rằng họ đã có biên giới vào thời điểm đó với các thành phố Hy Lạp ở phía đông (Alexandria của Caucasus và Alexandria của Arachosia) và người Parthia kiểm soát vùng đất Arachosia ở phía nam:
- "Ở phía ngoài kia là Sacastana của người Sacae-Scythia, mà cũng là Paraetacena, 63 schoeni. Thành phố Barda và thành phố Min và thành phố Palacenti và thành phố Sigal, ở nơi đó là nơi cư ngụ của hoàng gia Sacae; và gần đó là thành phố Alexandria (Alexandria của Arachosia), và sáu ngôi làng ". Những trạm của người Parthia, 18.[8]
Những vương quốc Ấn-Scythia [sửa]
Từ Abhira tới Surastrene [sửa]
Vương quốc Ấn-Scythia đầu tiên trong tiểu lục địa Ấn Độ đã chiếm phần phía nam của Pakistan ngày nay (mà họ đã tiến đến từ miền nam Afghanistan), trong vùng đất từ Abiria (Sindh) tới Surastrene (Gujarat), từ khoảng năm 110 đến năm 80 trước Công nguyên. Họ dần dần tiếp tục di chuyển về phía bắc vào vùng đất của người Ấn-Hy Lạp cho đến những cuộc chinh phục của Maues, khoảng năm 80 trước Công nguyên.
Người Ấn-Scythia cuối cùng đã thành lập một vương quốc ở phía tây bắc, có căn cứ tại Taxila, với hai đại phó vương, một ở Mathura ở phía đông, và một ở Surastrene (Gujarat) ở phía tây nam.
Ở phía đông nam, người Ấn-Scythia xâm lược khu vực Ujjain, nhưng sau đó bị đẩy lùi vào năm 57 trước Công nguyên bởi vua Malwa Vikramaditya. Để kỷ niệm sự kiện này, Vikramaditya đã thiết lập kỷ nguyên Vikrama, một loại lịch Ấn Độ đặc biệt, cụ thể bắt đầu từ năm 57 trước Công nguyên. Hơn một thế kỷ sau đó, vào năm 78 CN, người Sakas một lần nữa sẽ xâm chiếm Ujjain và thiết lập kỷ nguyên Saka, đánh dấu bước khởi đầu sự tồn tại lâu dài của tiểu quốc của người Saka, phó vương phía Tây.[9]
Gandhara và Punjab [sửa]
Sự hiện diện của người Scythia ở tây bắc Ấn Độ trong thế kỷ 1 trước CN cùng thời với các vương quốc Ấn-Hy Lạp ở đó, và có vẻ như ban đầu họ đã công nhận quyền lực của nhà vua Hy Lạp địa phương.
Maues đầu tiên chinh phục Gandhara và Taxila khoảng năm 80 TCN, nhưng vương quốc của ông tan rã sau khi ông chết. Ở phía đông, vị vua Ấn Độ Vikrama tái chiếm lại Ujjain từ tay người Ấn-Scythia, kỉ niệm chiến thắng của mình bằng cách sáng tạo ra kỷ nguyên Vikrama (bắt đầu từ năm 58 TCN). Các vị vua Ấn-Hy Lạp tiếp tục cai trị một lần nữa sau thời Maues, và thịnh vượng, như được chỉ ra bởi sự phong phú từ các đồng tiền của vua Apollodotos II và Hippostratos. Không lâu sau đến thời Azes I, khoảng năm 55 TCN, người Ấn-Scythia cuối cùng đã kiểm soát khu vực Tây Bắc Ấn Độ, với chiến thắng của ông trước Hippostratos.
Nghệ thuật điêu khắc [sửa]
Một số tác phẩm điêu khắc đá đã được tìm thấy trong lớp địa tầng Saka sớm (lớp địa tầng số 4, tương ứng với triều đại của Azes I, trong đó rất nhiều tiền xu sau này đã được tìm thấy) trong đống đổ nát của Sirkap, trong suốt cuộc khai quật được tổ chức bởi John Marshall.
Khu vực Mathura(Các phó vương miền bắc) [sửa]
Ở miền trung Ấn Độ, người Ấn-Scythia đã chinh phục khu vực Mathura từ các vị vua Ấn Độ khoảng năm 60 trước Công nguyên. Một số phó vương của họ là Hagamasha và Hagana, những người đã lần lượt tiếp theo được kế tục bởi Đại Phó Vương Saca Rajuvula.
Rajuvula dường như đã lật đổ vị vua cuối cùng của người Ấn-Hy Lạp vua Strato II khoảng năm 10 CN, và chiếm kinh đô của ông ta, Sagala.
Tiền đúc của thời kỳ này, chẳng hạn như của Rajuvula, có xu hướng trở nên rất thô và theo phong cách lai căng. Nó cũng mất đi rất nhiều giá trị, lượng bạc ngày càng ít dần hơn.
Chữ khắc trên đầu cột sư tử Mathura cũng chứng thực rằng Mathura đã nằm dưới sự kiểm soát của người Sakas. Các chữ khắc cũng chứa những thông tin về Kharaosta Kamuio và Aiyasi Kamuia. Yuvaraja Kharostes (Kshatrapa) là con trai của Arta, cũng được chứng thực bởi các đồng tiền riêng của mình.[10] Arta được tuyên bố là em trai của vua Moga hoặc Maues.[11] Công chúa Aiyasi Kambojaka, cũng gọi là Kambojika, là chính cung hoàng hậu của Shaka Mahakshatrapa Rajuvula. Sự hiện diện của người Kamboja ở Mathura cũng được xác nhận từ một số câu thơ của sử thi Mahabharata được cho là đã được sáng tác vào khoảng thời gian này[12]. Điều này có thể cho thấy giả thuyết rằng người Sakas và Kambojas có thể đã cùng nhau cai trị Mathura / Uttara Pradesh.
Các phó vuơng Ấn-Scythia ở Mathura đôi khi được gọi là "các phó vương phía Bắc", đối lập với "các phó vương phía Tây" ở Gujarat và Malwa. Sau thời Rajuvula, những người kế tục ông một số được biết là đã cai trị như là chư hầu của người Quý Sương , chẳng hạn như " Đại Phó vương" Kharapallana và "phó vương" Vanaspara, những người được biết đến từ một câu khắc được phát hiện ở Sarnath, và có niên đại là vào năm thứ 3 của Kanishka (khoảng 130 CN), trong đó họ được ban thưởng vì lòng trung thành với người Quý Sương[13]
Pataliputra [sửa]
Các đoạn văn của Purana Yuga đã mô tả một cuộc xâm lược Pataliputra của người Scythia đôi khi trong thế kỷ 1 trước CN, sau khi bảy vị vua vĩ đại đã cai trị liên tiếp ở trong Saketa sau sự rút lui của người Yavanas. Purana Yuga giảng giải rằng vị vua cuả người Sakas này đã giết chết 1/4 dân số, trước khi chính bản thân ông ta bị giết bởi vua Kalinga Shata và một nhóm người Sabalas (Sabaras hoặc Bhillas)[14]
Những cuộc chinh phạt của người Quý Sương và Ấn-Parthia [sửa]
Sau khi Azes qua đời, sự cai trị của người Ấn- Scythia ở tây bắc Ấn Độ đã bị tan rã với sự nổi lên của vị vua Ấn-Parthia Gondophares, trong những năm cuối của thế kỷ 1 trước CN.
Trong nửa sau của thế kỷ 1 CN, đị vị bá chủ của người Ấn-Parthia đã dần dần thay thế bởi người Quý Sương, một trong năm bộ tộc Nguyệt Chi đã sống ở Bactria trong hơn một thế kỷ, và bây giờ họ đã bành trướng mở vào Ấn Độ tạo ra đế quốc Quý Sương. Người Quý Sương cuối cùng đã lưu lại Tây Bắc Ấn Độ từ khoảng năm 75 CN, và khu vực Mathura từ khoảng năm100 CN, nơi họ đã phát triển thịnh vượng trong nhiều thế kỷ.
Các phó vương phía Tây [sửa]
Người Ấn-Scythia tiếp tục giữ được vùng Seistan cho đến tận triều đại của Bahram II (276-293 CN), và cũng đã giữ được một số khu vực của Ấn Độ vào thế kỷ 1: Kathiawar và Gujarat dưới sự cai trị của họ cho đến thế kỷ thứ 5 dưới tên gọi là các phó vương phía Tây, cho đến khi họ bị chinh phục bởi hoàng đế Gupta Chandragupta II (còn gọi là Vikramaditya).
Chú thích [sửa]
- ^ Ptolemy vi, xiii (1932), p. 143.
- ^ Ronca (1971), pp. 39, 102, 108.
- ^ Millward (2007), p. 13.
- ^ Justin XL.II.2
- ^ Isodor of Charax, Sathmoi Parthikoi, 18.
- ^ Political History of Ancient India, 1996, p 693.
- ^ The Sakas in India, p. 14, S. Chattopadhyaya; The Development of Khroshthi Script, p 77, C. C. Dasgupta; Hellenism in Ancient India, p 120, G. N. Banerjee; Ancient Kamboja, People and the Country, 1981, p 308
- ^ Parthian stations
- ^ "The dynastic art of the Kushans", John Rosenfield, p 130
- ^ Kshatrapasa pra Kharaostasa Artasa putrasa. See: Political History of Ancient India, 1996, p 398, H. C. Raychaudhury, B. N. Mukerjee; Ancient India, 1956, pp 220–221, R. K. Mukerjee
- ^ Ancient India, pp 220–221, R. k. Mukerjee; Corpus Inscriptionum Indicarum, Vol II, Part 1, p 36, D S Konow
- ^ Jayaswal writes:"Mathura was under outlandish people like the Yavanas and Kambojas... who had a special mode of fighting" (Manu and Yajnavalkya, K. P. Jayswal); See also: Indian Historical Quarterly, XXVI-2, p 124. Shashi Asthana comments: "Epic Mahabharata refers to the siege of Mathura by the Yavanas and Kambojas (see: History and Archaeology of India's Contacts with Other Countries, from Earliest Times to 300 B.C., 1976, p 153, Shashi Asthana). cf: Ancient India, 1956, p 220, R. K. Mukerjee
- ^ Source: "A Catalogue of the Indian Coins in the British Museum. Andhras etc..." Rapson, p ciii
- ^ “A gap in Puranic history”. Boloji.com. 14 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2012.
Tham khảo [sửa]
- Bailey, H. W. 1958. "Languages of the Saka." Handbuch der Orientalistik, I. Abt., 4. Bd., I. Absch., Leiden-Köln. 1958.
- Faccenna D., "Sculptures from the sacred area of Butkara I", Istituto Poligrafico Dello Stato, Libreria Dello Stato, Rome, 1964.
- Harmatta, János, ed., 1994. History of civilizations of Central Asia, Volume II. The development of sedentary and nomadic civilizations: 700 B.C. to A.D. 250. Paris, UNESCO Publishing.
- Hill, John E. 2004. The Peoples of the West from the Weilue 魏略 by Yu Huan 魚豢: A Third Century Chinese Account Composed between 239 and 265 CE. Draft annotated English translation. [1]
- Hill, John E. (2009) Through the Jade Gate to Rome: A Study of the Silk Routes during the Later Han Dynasty, 1st to 2nd Centuries CE. BookSurge, Charleston, South Carolina. ISBN 978-1-4392-2134-1.
- Hulsewé, A. F. P. and Loewe, M. A. N. 1979. China in Central Asia: The Early Stage 125 BC – AD 23: an annotated translation of chapters 61 and 96 of the History of the Former Han Dynasty. E. J. Brill, Leiden.
- Huet, Gerard (2010) "Heritage du Sanskrit Dictionnaire, Sanskrit-Francais," p. 128. [2]
- Litvinsky, B. A., ed., 1996. History of civilizations of Central Asia, Volume III. The crossroads of civilizations: A.D. 250 to 750. Paris, UNESCO Publishing.
- Liu, Xinru 2001 "Migration and Settlement of the Yuezhi-Kushan: Interaction and Interdependence of Nomadic and Sedentary Societies." Journal of World History, Volume 12, No. 2, Fall 2001. University of Hawaii Press, pp 261–292. [3].
- Bulletin of the Asia Institute: The Archaeology and Art of Central Asia. Studies From the Former Soviet Union. New Series. Edited by B. A. Litvinskii and Carol Altman Bromberg. Translation directed by Mary Fleming Zirin. Vol. 8, (1994), pp 37–46.
- Millward, James A. (2007). Eurasian Crossroads: A History of Xinjiang. Columbia University Press, New York. ISBN 978-0-231-13924-3.
- Pulleyblank, Edwin G. 1970. "The Wu-sun and Sakas and the Yüeh-chih Migration." Bulletin of the School of Oriental and African Studies 33 (1970), pp 154–160.
- Ptolemy (1932). The Geography. Translated and edited by Edward Luther Stevenson. 1991 unabridged reproduction. Dover Publications, Mineola, N. Y. ISBN 0-486-26896-9 (pbk)
- Puri, B. N. 1994. "The Sakas and Indo-Parthians." In: History of civilizations of Central Asia, Volume II. The development of sedentary and nomadic civilizations: 700 B.C. to A.D. 250. Harmatta, János, ed., 1994. Paris: UNESCO Publishing, pp 191–207.
- Ronca, Italo (1971). Ptolemaios Geographie 6,9–21. Ostrian und Zentralasien, Teil I. IsMEO — ROM.
- Watson, Burton. Trans. 1993. Records of the Grand Historian of China: Han Dynasty II (Revised Edition). Translated from the Shih chi of Ssu-ma Ch'ien. Chapter 123: The Account of Ta-yüan. Columbia University Press. ISBN 0-231-08167-7
- Wilcox, Peter and Angus McBride (1986). Rome's Enemies (3): Parthians and Sassanid Persians (Men-at-Arms). Osprey Publishing; illustrated edition. ISBN 978-0850456882.
- Yu, Taishan. 1998. A Study of Saka History. Sino-Platonic Papers No. 80. July, 1998. Dept. of Asian and Middle Eastern Studies, University of Pennsylvania.
- Yu, Taishan. 2000. A Hypothesis about the Source of the Sai Tribes. Sino-Platonic Papers No. 106. September, 2000. Dept. of Asian and Middle Eastern Studies, University of Pennsylvania.
- Political History of Ancient India, 1996, H. C. Raychaudhury
- Hindu Polity, A Constitutional history of India in Hindu Times, 1978, K. P. Jayswal
- Geographical Data in Early Puranas, 1972, M. R. Singh
- India and Central Asia, 1955, P. C. Bagchi
- Geography of Puranas, 1973, S. M. Ali
- Greeks in Bactria and India, W. W. Tarn
- Early History of North India, S. Chattopadhyava
- Sakas in Ancient India, S. Chattopadhyava
- Development of Kharoshthi script, C. C. Dasgupta
- Ancient India, 1956, R. K. Mukerjee
- Ancient India, Vol III, T. L. Shah
- Hellenism in Ancient India, G. N. Banerjee
- Manu and Yajnavalkya, K. P. Jayswal
- Anabaseeos Alexanddrou, Arrian
- Mathura Lion Capital Inscriptions
- Corpus Inscriptionium Indicarum, Vol II, Part I, S. Konow
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Người Ấn-Scythia. |