Vương quốc Ấn-Hy Lạp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vương quốc Ấn-Hy Lạp

180 TCN–10 SCN
Vị trí của Indo-Greek Kingdom
Các chiến dịch của người Ấn-Hy Lạp

   Lãnh thổ vương quốc Ấn-Hy

   Phạm vi có thể của cuộc viễn chinh

   Thủ phủ
Thủ đô Alexandria ở Caucasus
Sirkap/Taxila
Sagala/Sialkot
Pushkalavati/Peucela
Ngôn ngữ Hy Lạp (bảng chữ cái Hy Lạp)
Pali (Chữ Kharoshthi)
Sanskrit, Prakrit (Chữ Brahmi)
Có thể cả tiếng Aramaic
Tôn giáo Đạo Phật
Tôn giáo Hy Lạp cổ đại
Đạo Hindu
Hỏa giáo
Chính thể Quân chủ
Vua
 - 180-160 TCN Apollodotus I
 - 25 TCN - 10 CN Strato II
Thời đại lịch sử Cổ đại
 - Khởi đầu năm 180 TCN
 - Giải thể 10 SCN

Những cuộc xâm chiếm của người Hy Lạp đã đưa những người Hy Lạp cổ đại tới Nam Á còn được gọi là Ấn-Hy Lạp. Họ thành lập Vương quốc Ấn-Hy Lạp[1] bao gồm các bộ vùng khác nhau của Tây Bắc và phía Bắc tiểu lục địa Ấn Độ trong suốt hai thế kỷ cuối cùng TCN, và được cai trị bởi hơn 30 vị vua Hy Lạp,[2] thường xung đột với nhau khác. Vương quốc này được thành lập khi Demetrios vua của vương quốc Hy Lạp-Bactria xâm chiếm Ấn Độ vào đầu thế kỷ thứ hai trước Công nguyên, trong bối cảnh này ranh giới của "Ấn Độ" là Hindu Kush. Những người Hy Lạp tại Ấn Độ cuối cùng đã bị chia cắt khỏi vương quốc Hy Lạp-Bactria mà trung tâm nằm ở Bactria (nay là biên giới giữa AfghanistanUzbekistan).

Khái niệm "Vương quốc Ấn-Hy Lạp" lỏng lẻo mô tả một số triều đại có thể chế chính trị khác nhau. Đã có nhiều thành phố, như Taxila,[3] nay thuộc Punjab của Pakistan, hoặc Pushkalavati và Sagala [4]. Những thành phố này sẽ là đô thành một số triều đại trong thời trị vì của họ.

Trong suốt hai thế kỷ cầm quyền của mình, các vị vua Ấn-Hy Lạp kết hợp ngôn ngữ Hy Lạp với các ngôi ngữ của Ấn Độ cùng với các ký hiệu, như được thấy trên đồng tiền của họ, và pha trộn tôn giáo Hy Lạp cổ đại, Ấn giáo và Phật giáo, như đã thấy trong các di chỉ khảo cổ còn lại của các thành phố của họ và trong các bia đá ghi lại sự ủng hộ của họ đối với Phật giáo, cho thấy một sự hợp nhất phong phú của những ảnh hưởng Ấn Độ và Hy Lạp.[5] Ảnh hưởng của văn hóa Ấn-Hy Lạp vẫn còn cảm thấy ngày nay, đặc biệt là thông qua ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp-Phật giáo.[6]

Vương quốc Ấn-Hy Lạp cuối cùng biến mất như một thực thể chính trị vào 10 SCn sau cuộc xâm lược của vương quốc Ấn-Scythia, mặc dù một số người dân Hy Lạp có lẽ vẫn còn tồn tại cho tới nhiều thế kỷ sau dưới sự cai trị tiếp theo của vương quốc Ấn-Parthiavương triều Quý Sương.[7]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sự hiện diện đầu tiên của người Hy Lạp ở Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Apollodotus I (180–160 TCN) vị vua đầu tiên chỉ cai trị ở tiểu lục địa và do đó mới đích thực là người sáng lập vương quốc Ấn-Hy Lạp.[8]

Năm 326 TCN, Alexander Đại đế chinh phục tây bắc của tiểu lục địa Ấn Độ xa tới tận sông Hyphasis, và thành lập các tỉnh(trấn) và xây dựng một số khu định cư, bao gồm cả Bucephala, ông quay về phía Nam khi quân đội của ông đã từ chối đi xa hơn về phía đông.[9] Những vùng đất Ấn Độ ở Punjab đã được đặt dưới sự cai trị của PorusTaxiles, những người đã được khẳng định một lần nữa tại Hiệp ước ở Triparadisus năm 321 TCN, và quân đội Hy Lạp còn lại trong các trấn được để lại dưới sự chỉ huy của tướng Eudemus. Sau năm 321, Eudemus đã lật đổ Taxiles, cho đến khi ông rời Ấn Độ vào năm 316 TCN. Một vị tướng khác cũng cai trị các thuộc địa của Hy Lạp ở Indus: Peithon, con của Agenor,[10] cho đến khi ông ta khởi hành đi Babylon vào năm 316 TCN.

Seleukos đã tiến xa tới tận Ấn Độ, nơi ông ta kí một hiệp ước với Chandragupta Maurya để trao đổi những vùng đất ở phương đông và nhận được 1 lực lượng đáng kể gồm 500 voi chiến mà sau này đóng vai trò cực kì quan trọng tại trận Ipsus:[11]

"Những người Ấn Độ đã xâm chiếm 1 vài quốc gia dọc theo bờ sông Ấn mà trước đây thuộc về người Ba Tư. Alexandros đã cướp đoạt miền Arian của họ và thành lập những thành phố mà bây giờ thuộc về ông ta. Nhưng Seleukos đã tặng chúng cho Sandrocottus (Chandragupta Maurya) trong hệ quả của cuộc hôn nhân thoả thuận và nhận trở lại 500 voi chiến."

Strabo 15.2.1(9)[12]
Sắc lệnh song ngữ của A-dục vương (viết bằng tiếng Hy Lạptiếng Aramaic), được tìm thấy ở Càn-đà-la. Khoảng 250 TCN, Bảo tàng Kabul.[13]

Ngoài ra một số người Hy Lạp, chẳng hạn như sử gia Megasthenes,[14] theo sau này là DeimachusDionysius, được gửi đến cư trú tại triều đình Maurya. Quà tặng tiếp tục được trao đổi giữa hai vị vua cai trị.[15] Cường độ của những cuộc trao đổi này được chứng minh bằng sự tồn tại của một bộ phận người nước ngoài chuyên dụng ở đế quốc Mauryan như người Hy Lạp (Yavana) và Ba Tư,[16] hoặc phần còn lại của đồ gốm Hy Lạp cổ có thể được tìm thấy trên khắp miền bắc Ấn Độ.[17]

Trong trường hợp này, người dân Hy Lạp rõ ràng vẫn còn ở phía tây bắc của tiểu lục địa Ấn Độ thuộc sự cai trị của triều đại Maurya. Cháu nội của ChandraguptaAshoka, người đã chuyển đổi sang đức tin Phật giáo tuyên bố trong sắc lệnh của Ashoka, được khắc trên đá, trong đó có viết bằng tiếng Hy Lạp rằng[18][19] người dân Hy Lạp trong vương quốc của ông cũng đã cải sang đạo Phật:[20]

"Ở đây ở trong đất đai của nhà vua trong số những người Hy Lạp, người Kamboja, người Nabhakas, người Nabhapamkits, người Bhojas, người Pitinikas, người Andhras và Palidas, ở khắp mọi nơi mọi người đang tin theo những lời chỉ dạy của trời trong Phật pháp.""

Trong sắc lệnh của ông, Ashoka đề cập rằng ông đã gửi sứ thần Phật giáo tới những nhà vua Hy Lạp xa tới tận Địa Trung Hải,[21][22] và rằng ông đã phát triển thuốc thảo dược trong lãnh thổ của họ, nhằm chăm sóc cho người và động vật (Chỉ dụ số 2).[23]

Người Hy Lạp ở Ấn Độ dường như đã đóng một vai trò tích cực trong việc tuyên truyền Phật giáo, như một số các sứ thần của Ashoka như Dharmaraksita,[24] hay Mahadharmaraksita.[25] Người ta cũng cho rằng người Hy Lạp đã đóng góp cho công tác điêu khắc của các trụ cột của Ashoka,[26] và cho sự trổ hoa của nghệ thuật Maurya nói chung.[27]

Một lần nữa trong năm 206 TCN, hoàng đế nhà Seleukos Antiochus đã dẫn một đội quân tới thung lũng Kabul, nơi ông nhận được những con voi chiến và quà tặng từ vị vua Ấn Độ Sophagasenus:[28]

"Ông vượt qua dãy Caucasus (Hindu Kush), nối lại mối quan hệ với nhà vua Ấn Độ Sophagasenus (Subhashsena trong tiếng Phạn), nhận được nhiều voi, cho tới khi ông có được hoàn toàn 150 con và nhận được nhiều lương thực cho quân đội của mình. một lần nữa đặt ra một nhiệm vụ cá nhân cho quân đội của mình: để lại Androsthenes của Cyzicus với nhiệm vụ lấy kho báu mà nhà vua này đã đồng ý giao cho ông ta. "

—Polybius 11.39[29]

Người Hy Lạp cai trị Bactria[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tượng của người Hy Lạp-Bactria, có thể là một triết gia, Ai Khanoum, Bactria, thế kỉ thứ 2 TCN

Alexandros cũng đã thành lập một số thuộc địa ở nước láng giềng Bactria, như Alexandria trên bờ sông Oxus (hiện nay là Ai-Khanoum) và Alexandria ở Caucasus (thời Trung đại là Kapisa, hiện nay là Bagram). Sau cái chết của Alexandros năm 323 TCN, Bactria đã nằm dưới sự quản lý của Seleucus I Nicator, người sáng lập đế chế Seleucid. Một trong những phó vương của nhà Seleukos, Diodotus của Bactria, đã nổi dậy chống lại triều đại Seleukos và tự mình lên ngôi vua của Vương quốc Hy Lạp-Bactria.

"Diodotus,người cai quản của nghìn thành phố của Bactria (tiếng Latin: "Theodotus, mille urbium Bactrianarum praefectus"), đã chiến thắng và tự lập mình làm vua. Tất cả những người dân của phương đông chấp nhận điều này của ông và ly khai khỏi Macedonia."

—Justin, XLI, 4[30]

Vương quốc mới, có sự đô thị hóa cao và được coi là một trong những quốc gia giàu có nhất của phương đông, (opulentissimum illud mille urbium Bactrianum imperium, "đế quốc vô cùng thịnh vượng của hàng ngàn thành phố của Bactria" Justin, XLI, 1)[31] đã phát triển thế lực xa hơn và tham gia vào việc mở rộng lãnh thổ về phía đông và phía tây:

"Những người Hy Lạp mà là nguyên nhân khiến Bactria nổi loạn đã trở nên hùng mạnh dựa vào những tài nguyên của đất nước mà họ mà họ trở thành lãnh đạo không chỉ của Ariana, mà còn của Ấn Độ, như Apollodorus của Artemita nói: và số bộ lạc đã bị họ chinh phục nhiều hơn của Alexanderos. Những thành phố của họ là Bactra (còn được gọi là Zariaspa, mà qua đó dòng chảy của con sông cùng tên đổ vào Oxus), và Darapsa, và nhiều thành phố khác nữa. Trong số này có Eucratidia, được đặt tên bởi nhà vua cai trị nó."[32]

Arsaces, tù trưởng của bộ lạc du cư Parni đã tiến vào Parthia và loại bỏ Andragoras, phó vương cũ và tự lập mình làm vua của Parthia, và đã trở thành người sáng lập của đế chế Parthia. Vương quốc Hy lạp-Bactria bị cắt đứt mối liên hệ với thế giới Hy lạp cổ. Buôn bán đường bộ tiếp tục suy giảm trong khi buôn bán đường biển giữa Ai cập Hy lạp và Bactria tiếp tục phát triển

Ngay sau đó, Diodotus mất và được thừa kế bởi con trai Diodotus II,người đã thiết lập hòa bình với người Parthia(Justin l.c.). Diodotus II đã thiết lập liên minh với Arsaces của Parthia trong cuộc chiến chống lại Seleucus II:

"Sau khi đón nhận tin về cái chết của Theodotus (Justin sử dụng một tên khác với nguyên bản) Arsaces thiết lập hòa bình và một liên minh với con trai ông, cũng lấy tên là Theodotus.Một thời gian sau, ông chống lại vua Seleucus II người đến để trừng phạt những kẻ nổi loạn và ông đã chiến thắng: người Parthia coi ngày này như là một trong những ngày đánh dấu sự bắt đầu của sự tự do của họ."[33]

Euthydemos, một người Hy Lạp Magnesia theo Polybius và có thể là phó vương của Sogdiana, đã lật đổ Diodotos II khoảng năm 230 trước Công nguyên và bắt đầu triều đại của riêng mình.[34] Euthydemos kiểm soát mở rộng tới Sogdiana, tiến xa hơn thành phố Alexandria Eschate được thành lập bởi Alexandros Đại đế ở Ferghana:

"Và họ cũng đã chiếm được Sogdiana, nằm phía ​​trên Bactriana về phía đông giữa sông Oxus, tạo nên ranh giới giữa người Bactria và Sogdiana, và sông Iaxartes. Sông Iaxartes cũng là ranh giới giữa người Sogdiana và những người du mục."

— Strabo XI.11.2[35]

Euthydemos đã bị tấn công bởi vua Antiochus III đại đế khoảng năm 210TCN,người mà ông ta đã cố gắng chống lại ở bên bờ sông Arius, ngày nay là Herirud. Mặc dù ông chỉ huy 10000 kị cung, Euthydemos đã thất bại trong trận chiến đầu tiên bên bờ sông Arius và phải rút lui.[36] Ông sau đó đã thành công khi chống đỡ cuộc vây hãm thành phố Bactra trong 3 năm. Trước khi Antiochos quyết định phải công nhận nhà vua mới và chấp nhận gả một người con gái của mình cho con trai Demetrios của Euthydemos khoảng năm 206 TCN.[37]

Sau khi quân đội Seleukos rút lui, vương quốc Bactria dường như đã mở rộng. Ở phía tây, khu vực đông bắc Iran có thể đã bị xáp nhập, có thể đã tiến xa tới tận Parthia, mà những vị vua của nó đã bị đánh bại bởi Antiochos Đại Đế. Những vùng lãnh thổ này có thể nằm dưới sự cai quản bởi phó vương Tapuria và Traxiane của Bactria.

Về phía bắc, Euthydemus cũng cai trị Sogdiana và Ferghana, và có những dấu hiệu từ Alexandria Eschate cho thấy người Hy Lạp-Bactria có thể tiến hành những cuộc viễn chinh xa tới tận Kashgar và Ürümqi tại vùng Turkestan Trung Quốc, dẫn đến những mối giao tiếp được biết đến đầu tiên giữa Trung Quốc và phương Tây khoảng năm 220 trước Công nguyên. Strabo, sử gia Hy Lạp viết rằng:

Họ mở rộng đế chế của họ thậm chí đến tận Seres (Trung Quốc) và Phryni"

—Strabo, XI.XI.I [32]

Một số bức tượng nhỏ và tiêu biểu hình những người lính Hy Lạp, đã được tìm thấy ở phía bắc của Tiên Sơn, ở ngưỡng cửa tới Trung Quốc, và hiện nay được trưng bày tại bảo tàng Tân Cương Urumqi (Boardman[38])

Người Hy Lạp tại Bactria (Hy Lạp-Bactria) vẫn tiếp xúc gần gũi với người Hy Lạp trong đế chế Maurya. Khi đế chế Maurya bị lật đổ bởi triều đại Sunga khoảng năm 185 trước Công nguyên, một đội quân do vua Demetrius I của Bactria đã xâm lược Ấn Độ và chiếm giữ vùng đất của Thung lũng Kabul.

Sự trỗi dậy của Sunga (185 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Ấn Độ, triều Maurya bị lật đổ khoảng năm 185 TCN khi Pusyamitra Sunga, tổng chỉ huy quân đội của Đế quốc Mauryan, một người theo đạo Brahmin, ám sát vị vua cuối cùng của nhà Mauryan là Brhadrata.[39][40] Pusyamitra Sunga sau đó lên ngôi và thành lập Đế chế Sunga, mở rộng sự kiểm soát của nó xa tới phía tây đến tận Punjab.

Nguồn sử liệu Phật giáo, chẳng hạn như Asokavadana, đề cập đến rằng Pusyamitra thù địch đối với Phật tử và bị cáo buộc ngược đãi đức tin Phật giáo. Một số lượng lớn các tu viện Phật giáo (viharas) đã bị ép buộc chuyển đổi sang thành ngôi đền đạo Hindu,<ở những nơi như Nalanda, Bồ Đề Đạo Tràng, vườn Lộc Uyển hoặc Mathura.

Lịch sử của vương quốc Ấn-Hy Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Demetrios[sửa | sửa mã nguồn]

Người sáng lập vương quốc Ấn-Hy Lạp Demetrios I (khoảng 205– c.170 BC)[41]

Demetrius I là con trai của vua Euthydemus I của Bactria, có một dòng chữ từ triều đại của cha ông đã chính thức ca ngợi ông là người chiến thắng. Ông cũng là một trong những người có ngày tháng được xac thực trong lịch sử Ấn-Hy Lạp: sau khi cha của ông ngăn chặn được cuộc tiến công của Antiochus III trong hai năm, 208-6 TCN, các hiệp ước hòa bình bao gồm một cuộc hôn nhân giữa Demetrios và con gái của Antiochos.[42] Tiền xu của Demetrios I đã được tìm thấy ở Arachosia và trong Thung lũng Kabul; sau này sẽ là tiền đề đầu tiên của người Hy Lạp vào Ấn Độ. Ngoài ra còn có bằng chứng cho một chiến dịch về phía đông chống lại người Seres và Phryni; nhưng thứ tự và thời gian của những cuộc chinh phục là không chắc chắn.[43] Demetrius I dường như đã chinh phục thung lũng Kabul, Arachosia và có lẽ có Gandhara;[44] ông không đúc đồng tiền Ấn độ nào, do đó, hoặc là cuộc chinh phục của ông không xâm nhập sâu vào Ấn Độ hoặc ông qua đời trước khi có thể củng cố nơi đó. Trên đồng tiền của mình, Demetrius I luôn luôn mang mũ đội đầu voi của Alexander, mà có vẻ là một sự thông báo về cuộc chinh phục Ấn Độ của ông.[45] Bopearachchi tin rằng Demetrius đã nhận được danh hiệu "Vua của Ấn Độ" sau chiến thắng của ông về phía nam của Hindu Kush.[46] Ông cũng đã có, mặc dù có lẽ chỉ sau khi chết, danh hiệu ανικητος ("Anicetos", "Bất khả chiến bại"). một tiêu đề sùng bái của Heracles, mà Alexander đã bắt chước; sau này các vị vua Ấn-Hy Lạp như Lysias, Philoxenus, và Artemidorus cũng lấy danh hiệu này.[47] Cuối cùng, Demetrius có thể đã được người sáng lập ra một kỷ nguyên Hy Lạp mới, bắt đầu vào khoảng 186 / 5 trước Công nguyên..[48]

Sau thời Demetrios I[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Ấn-Hy Lạp, cùng với các chiến dịch và trận đánh được biết đến.[49][50][51]

Sau khi Demetrios qua đời, các vị vua Bactria như PantaleonAgathocles đã ban hành đồng xu song ngữ đầu tiên với hàng chữ khắc bằng tiếng Ấn Độ xa về phía đông tới tận Taxila.[52] Như vậy trong thời gian cai trị của họ (khoảng 185-170 TCN), vương quốc Bactria dường như đã bao gồm Gandhara.[53] Một số vị vua tiếp theo sau cái chết của vua Bactria, Demetrius, có vẻ như có khả năng rằng các cuộc nội chiến giữa họ có thể đã khiến cho Apollodotus I (từ kh. 180/175 TCN) tự mình độc lập như là vị vua đầu tiên của vương quốc Ấn-Hy Lạp (người đã không cai trị ở Bactria). Một số lượng lớn những đồng tiền xu của ông đã được tìm thấy ở Ấn Độ, và ông dường như đã trị vì ở Gandhara cũng như phía Tây Punjab. Apollodotus I đã được kế vị hoặc cai trị cùng với Antimachus II, có khả năng là con trai của vua Bactria là Antimachus I.[54]

Vị vua Ấn-Hy Lạp quan trọng tiếp theo là Menander (từ kh. 165/155 TCN), tiền xu của ông thường được tìm thấy ngay cả ở miền đông Punjab. Menander dường như đã bắt đầu một làn sóng thứ hai của cuộc chinh phục, và kể từ lúc đó ông đã cai trị ở Ấn Độ, có vẻ như có khả năng rằng các cuộc chinh phục miền đông đã được thực hiện bởi ông ta.[55]

Theo Apollodorus của Artemita, trích dẫn bởi Strabo, lãnh thổ vương quốc Ấn-Hy Lạp có thể trong một thời gian bao gồm các tỉnh ven biển Ấn Độ như Sindh và Gujarat.[56] Với phương pháp khảo cổ học, lãnh thổ Ấn-Hy Lạp tuy nhiên chỉ được xác nhận từ thung lũng Kabul đến miền đông Punjab, do đó sự hiện diện của Hy Lạp bên ngoài có lẽ là ngắn ngủi hoặc ít đáng kể.

Một số nguồn cũng cho rằng vương quốc Ấn-Hy Lạp có thể đã vươn đến Pataliputra, đô thành của triều Sunga ở đông bắc Ấn Độ.[57] Tuy nhiên, bản chất của các cuộc viễn chinh này là một vấn đề tranh cãi. Một thuyết cho rằng các vị vua Ấn-Hy Lạp đã được mời tham gia một cuộc tấn công dẫn đầu bởi các vị vua Ấn Độ địa phương xuống khu vực sông Hằng.[58] Một giả thuyết khác là nó là một chiến dịch có thể được thực hiện bởi Menander.

Cuộc chinh phục đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Người Hy Lạp hiện diện tại Arachosia, nơi mà họ đã sống từ trước khi lãnh thổ này rơi vào tay của Chandragupta từ Seleucus được đề cập bởi Isidore của Charax. Ông đã mô tả các thành phố Hy Lạp ở đó, một trong số chúng được gọi là Demetrias, có thể là để vinh danh chiến thắng của Demetrius.[59]

Menandros I là vị vua Ấn-Hy Lạp quan trọng nhất.[60]

Apollodotus I (và Menandros I) đã được đề cập bởi Pompejus Trogus như là các vị vua Ấn-Hy Lạp quan trọng nhất.[61] Một thuyết mới cho rằng người Hy Lạp tạm thời đã tiến xa đi xa tới tận thủ đô của triều Sunga là Pataliputra(Patna ngày nay) ở miền đông Ấn Độ. Senior cho rằng những cuộc chinh phục chỉ có thể được thực hiện bởi Menander.[62] Chống lại điều này, John Mitchener cho rằng người Hy Lạp có thể đột kích thủ đô Pataliputra ở Ấn Độ trong thời gian của Demetrius,[63] mặc dù phân tích của Mitchener không dựa trên bằng chứng về các nghiên cứu tiền xu.

Mức độ nghiêm trọng của vụ tấn công là một ẩn số:[64] Menander có thể chỉ tham gia cùng với các vị vua Ấn Độ xuống khu vực sông Hằng, vì sự hiện diện của Ấn-Hy Lạp cho đến nay vẫn chưa được xác nhận ở phía đông.

Về phía nam, người Hy Lạp có thể đã chiếm đóng khu vực của Sindh và Gujarat, bao gồm cả các cảng chiến lược của Barygaza (Bharuch),[65] cuộc chinh phục còn được chứng thực bởi những đồng tiền có niên đại từ Apollodotus I vua Ấn-Hy Lạp và bởi một số nhà văn cổ đại (Strabo 11; Periplus của biển Erythraean, Chương 4)[66]

"Người Hy Lạp... đã chiếm hữu, không chỉ của Patalena, mà còn, trên phần còn lại của bờ biển, của những gì được gọi là vương quốc SaraostusSigerdis."—Strabo 11.11.1[67]

Tuy nhiên Narain bác bỏ thông tin của Periplus và cho rằng "chỉ là" câu chuyện của một người thủy thủ.[68] Những di chỉ chôn giấu tiền xu cho thấy rằng ở miền Trung Ấn Độ, vùng đất của Malwa cũng có thể đã bị chinh phục.[69]

Các nguồn Ấn Độ khác nhau mô tả Yavana tấn công vào Mathura, Saketa,Panchala, và Pataliputra. Yavana được cho là một phiên âm của từ "Ionians" và được biết là nói đến người Hy Lạp thời Hy Lạp hóa (bắt đầu với các sắc lệnh của Ashoka, trên đó vua Ashoka viết về "vua Yavana Antiochus "),[70] nhưng có thể có đôi khi được dùng chỉ người nước ngoài khác cũng sau thế kỷ 1.[71]

Trước đó các học giả như Tarn đã gợi ý rằng các cuộc tấn công vào thành Pataliputra đã được thực hiện bởi Demetrius.[72] Theo Mitchener,. ghi chép trên văn bia Hathigumpha cho thấy sự hiện diện của người Hy Lạp dẫn đầu bởi một "Demetrius" ở miền đông Ấn Độ (Magadha) trong suốt thế kỷ 1 trước Công nguyên[73], mặc dù diễn giải này trước đó đã bị tranh cãi bởi Narain.[74] Nhưng trong khi dòng chữ này có thể được hiểu là Demetrius I là một vị vua mà đã thực hiện cuộc chinh phục ở Punjab, vẫn còn đúng khi mà ông không bao giờ phát hành bất kỳ đồng tiền Ấn Độ nào, và khôi phục lại tên của mình ở Kharosthi trên văn bia Hathigumpha:[75] Di-Mi-Ta, đã bị nghi ngờ.

Do đó, Menander vẫn là ứng cử viên thích hợp nhất cho bất kỳ sự mở rộng nào ở đông Punjab.

Sự củng cố[sửa | sửa mã nguồn]

Eucratides I toppled the Greco-Bactrian Euthydemid dynasty, and attacked the Indo-Greeks from the west.

Điều quan trọng là vua Bactria Eucratides dường như đã tấn công vương quốc Ấn-Hy Lạp vào giữa thế kỷ thứ 2 trước công nguyên. Một Demetrius, được gọi là "Vua của người Ấn độ", dường như đã phải đối mặt với Eucratides trong một cuộc vây hãm bốn tháng, được ghi lại bởi Justin, nhưng ông ta cuối cùng thất bại.[76]

Trong mọi trường hợp, Eucratides dường như đã chiếm đóng lãnh thổ xa tới tận sông Indus, giữa khoảng 170 TCN và 150 TCN[77]. Cuối cùng sự mở rộng của ông đã được tiếp tục bởi vị vua Ấn-Hy Lạp Menander I.[78]

Menander có lẽ được cho là vị vua Ấn-Hy Lạp thành công nhất, và người chinh phục được vùng lãnh thổ lớn nhất.[79] Những đồng tiền xu của ông được tìm thấy nhiều nhất và phổ biến rộng rãi nhất trong số tất cả các vị vua Ấn-Hy Lạp. Menander cũng được nhớ đến trong văn học Phật giáo, nơi mà ông được gọi là Milinda, và được mô tả trong Milinda Panha là một người cải sang đạo Phật:.[80] ông đã trở thành A La Hán.[81] Ông cũng ban hành một loại tiền mới, với hình Athena Alkidemos ("Người bảo hộ của người dân") ở phía đối diện, mà đã được chấp nhận bởi hầu hết những người kế nhiệm ông ở phía Đông.[82]

Sự sụp đổ của Bactria và cái chết của Menander[sửa | sửa mã nguồn]

Từ giữa thế kỷ 2 trước Công nguyên, người Scythia và người Nguyệt Chi, sau một cuộc di cư dài từ biên giới của Trung Quốc, bắt đầu xâm chiếm Bactria từ phía bắc.[83] Khoảng năm 130 TCN, Heliocles, vị vua cuối cùng của vương quốc Hy Lạp-Bactria đã có thể thiệt mạng trong cuộc xâm lược và vương quốc Hy Lạp-Bactria không còn tồn tại.Người Parthia cũng có thể đóng một vai trò trong sự sụp đổ của vương quốc Bactria.

Coin of Philoxenus (c.100 BC), unarmed, making a blessing gesture with the right hand.

Các tiểu quốc Ấn-Hy Lạp, được che chắn bởi dãy Hindu Kush, đã được cứu thoát khỏi các cuộc xâm lược, nhưng các cuộc nội chiến mà đã làm suy yếu những người Hy Lạp vẫn tiếp tục. Menander I mất vào thời điểm này, và mặc dù nhà vua tự dường như đã được lòng dân vì những việc làm của mình, triều đại của ông đã bị hạ bệ. Có thể các thành viên của triều đại Menander bao gồm nữ hoàng Agathokleia cầm quyền, con trai của bà Strato I, và Nicias,[84] mặc dù nó là không chắc chắn liệu họ có cai trị trực tiếp sau khi Menander mất hay là các vị vua khác xuất hiện. Những vị vua khác nổi lên sau này, thường đến từ nửa phía tây của Ấn-Hy Lạp, chẳng hạn như Zoilos I, Lysias, AntialcidasPhiloxenos[85] Những vị vua này có thể là có liên quan đến triều đại Eucratid hoặc triều đại Euthydemos.

Trong khi tất cả các vị vua Ấn-Hy Lạp sau thời Apollodotus I chủ yếu phát hành tiền kim loại song ngữ (tiếng Hy Lạp và Kharoshti) lưu hành tại lãnh thổ của mình, nhiều người trong số họ cũng đúc những đồng xu Hy Lạp hiếm đã được tìm thấy ở Bactria. Các vị vua sau này có thể đúc những đồng tiền như một số loại hình trả công cho các bộ lạc Scythia hay người Nguyệt Chi hiện đang cai trị ở đó, mặc dù những hình thức như cống hoặc thanh toán cho lính đánh thuê vẫn chưa được biết.[86] Một số thập kỷ sau khi cuộc xâm chiếm Bactria, mối quan hệ hòa bình dường như đa được thiết lập giữa người Ấn-Hy Lạp và những bộ tộc du mục đã Hy Lạp hóa tương đối.

Tuy nhiên, có không có ghi chép lịch sử nào về các sự kiện trong vương quốc Ấn-Hy Lạp sau cái chết của Menander khoảng năm 130 trước Công nguyên, kể từ khi đó Ấn Độ-Hy Lạp đã trở nên rất cô lập với phần còn lại của thế giới Hy Lạp-La Mã. Lịch sử sau này của các quốc gia Ấn Độ-Hy Lạp, kéo dài đến khoảng những năm công nguyên, được xây dựng lại gần như hoàn toàn từ các phân tích khảo cổ học và di chỉ tiền xu.[87]

Lịch sử thời kỳ cuối[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt thế kỷ 1 trước công nguyên, vương quốc Ấn Độ-Hy Lạp dần dần bị mất đất vào tay người Ấn Độ ở phía đông, và những người Scythia, người Nguyệt Chi, và người Parthia ở phương Tây. Khoảng 20 vị vua Ấn-Hy Lạp được biết đến trong thời gian này,[88] vị vua Ấn Độ-Hy Lạp cuối cùng được biết đến, tên là Strato II, trị vì trong khu vực Punjab cho đến khoảng năm 55 TCN.[89] Tuy nhiên, các nguồn khác, cho rằng thời điểm cuối triều đại của Strato II là cuối năm 10 SCN.

Để mất các tỉnh phía đông (khoảng 100 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền của Yaudheya.

Vương quốc Ấn Độ-Hy Lạp có thể đã cai trị xa tới tận các khu vực của Mathura cho đến thế kỷ 1 trước công nguyên.[90] Tuy nhiên các vị vua Ấn Độ đã thu hồi phần đất của Mathura và phía đông nam Punjab, phía tây của sông Yamuna, và bắt đầu phát hành các đồng xu bạc hà của mình. Người Arjunayanas (vùng đất Mathura) và Yaudheyas đã đề cập đến những chiến thắng quân sự trên đồng tiền của họ ("Chiến thắng của Arjunayanas", "Chiến thắng của Yaudheyas").[91] Trong thế kỷ 1 trước Công nguyên, người Trigartas, người Audumbaras và cuối cùng là người Kunindas[92] cũng bắt đầu đúc tiền riêng của họ, thường là trong một phong cách gợi lại kiểu đúc tiền Ấn-Hy Lạp.[93][94][95][96]

Vị vua phía Tây Philoxenos có thể đã chiếm toàn bộ lãnh thổ còn lại của Hy Lạp từ Paropamisadae tới phương Tây Punjab giữa những năm 100-95 trước Công nguyên, sau đó các vùng lãnh thổ lại bị tan rã một lần nữa. Các vị vua phía Tây giành lại lãnh thổ của họ xa về phía tây tới tận Arachosia, và các vị vua miền Đông vẫn tiếp tục cai trị trên vùng lãnh thổ của họ.

Sự xâm lược của người Scythia (80 TCN-20 CN)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ấn-Scythia
Châu Á năm 1 CN, cho thấy vương quốc cuối cùng của người Ấn-Hy Lạp.
Đồng bạc của vua Ấn-Scythia Azes II (r.c. 35-12 TCN).

Khoảng năm 80 trước Công nguyên, một vị vua Ấn-Scythia có tên là Maues, có thể là một vị tướng phục vụ cho người Ấn-Hy Lạp, đã cai trị cho một vài năm ở Tây Bắc Ấn Độ trước khi người Ấn-Hy Lạp một lần nữa nắm lại quyền kiểm soát. Ông dường như đã kết hôn với một công chúa Ấn -Hy Lạp.[97] Vua Hippostratos (65-55 trước Công nguyên) dường như đã là một trong những vị vua Ấn-Hy lạp thành công nhất cho đến khi ông thất bại trước Azes I, vua Ấn-Scythia, người đã thành lập một triều đại Ấn-Scythia.[98]

Mặc dù người Ấn-Scythia rõ ràng cai trị mang nhiều tính quân sự và chính trị, đáng ngạc nhiên là họ vẫn tôn trọng nền văn hóa Hy Lạp và Ấn Độ. Đồng tiền của họ đã được đúc ở những xưởng đúc tiền Hy Lạp, tiếp tục sử dụng truyền thuyết Hy Lạp và Kharoshthi thích hợp, và kết hợp miêu tả các vị thần Hy Lạp, đặc biệt là Zeus [99]. Đầu Cột sư tử Mathura là minh chứng rằng họ đã chuyển sang đức tin Phật giáo, cũng như miêu tả sự hình thành ấn của các vị thần trên đồng tiền của họ. Cộng đồng Hy Lạp, có thể đã bị tiêu diệt, có thể tiếp tục tồn tại dưới sự cai trị của người Ấn-Scythia. Có một khả năng rằng có một sự hợp nhất, chứ không phải là một cuộc đối đầu xảy ra giữa người Hy Lạp và Ấn-Scythia: trong một đồng xu tìm thấy, Artemidoros tự giới thiệu mình là "con trai của Maues"[100]

Người Ấn-Hy Lạp tiếp tục cai trị một vùng lãnh thổ ở phía đông Punjab, cho đến khi vương quốc của vị vua Ấn-Hy Lạp cuối cùng là Strato bị chiếm bởi vua Ấn-Scythia, Rajuvula, khoảng năm 10 SCN.[101]

Cuộc xâm lược của người Nguyệt Chi phía Tây hay Saka (70 TCN-)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nguyệt Chi

Có Khoảng tám vị vua Ấn-Hy Lạp Phía tây được biết đến, hầu hết trong số họ được phân biệt bởi những đồng xu Attic của họ được lưu hành ở nước láng giềng.

Một trong những vị vua quan trọng cuối cùng ở Paropamisadae là Hermaeus, ông cai trị cho đến khoảng năm 80 trước Công nguyên, ngay sau khi ông mất người Nguyệt Chi hay người Saka tiếp quản khu vực của ông từ nước láng giềng Bactria. Sau cái chết của Hermaeus, những người du mục Saka hoặc Nguyệt Chi đã trở thành vị vua mới của Paropamisadae.

Hệ tư tưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng đram song ngữ của Menandros I. Dòng chữ Hy Lạp phía bên phải "BASILEOS SOTĒROS MENANDROY" và dòng chữ Kharosthi bên trái "MAHARAJA TRATASA MENADRASA": "của Menandros, Vua cứu độ". Phía bên trái là hình thần Athena cùng với sấm sét và khiên

Phật giáo phát triển dưới thời các vị vua Ấn-Hy Lạp, và sự cai trị của họ, đặc biệt là Menander, đã được ghi nhớ là nhân từ. Nó đã được đề xuất, mặc dù thiếu bằng chứng trực tiếp, đó là cuộc xâm lược của họ ở Ấn Độ được dự định để hỗ trợ cho đế chế Maurya mà có thể đã có một lịch sử liên minh hôn nhân lâu dài,[102] trao đổi quà,[103] những sự hợp tác hữu nghị,[104] trao đổi đại sứ [105] và nhiệm vụ tôn giáo [106] với những người Hy Lạp. Các nhà sử học như Diodorus thậm chí đã viết rằng vua của thành Pataliputra đã " có tình yêu tuyệt vời cho những người Hy Lạp".[107]

Cuộc chinh phạt của người Hy Lạp vào lãnh thổ Ấn Độ có thể đã được dùng để bảo vệ dân Hy Lạp ở Ấn Độ,[108] và để bảo vệ đức tin Phật giáo từ các cuộc đàn áp tôn giáo của triều đại Sungas[109] Thành phố Sirkap thành lập bởi Demetrius kết hợp ảnh hưởng Hy Lạp và Ấn Độ mà không có dấu hiệu của sự phân biệt giữa hai nền văn hóa.

Những đồng tiền Hy Lạp đầu tiên được đúc ở Ấn Độ, mà của Menander IApollodotos I đề cập đến "Đấng Cứu Độ" (ΒΑΣΙΛΕΩΣ ΣΩΤΗΡΟΣ), một tiêu đề có giá trị cao trong thế giới Hy Lạp mà chỉ một chiến thắng quan trọng. Ví dụ, đã được dùng bởi Ptolemy I Soter (vị cứu tinh) vì ông đã giúp bảo vệ Rhode khỏi Demetrios kẻ vây hãm, và Antiochus I bởi vì ông đã cứu Tiểu Á khỏi người Gaul. Tiêu đề cũng đã được ghi trong tiếng Pali là ("Tratarasa") ở mặt sau của đồng tiền của họ. Menander và Apollodotos thực sự có thể được coi như vị cứu tinh cho dân Hy Lạp định cư ở Ấn Độ, và cho một số người Ấn Độ.[110]

Ngoài ra, hầu hết các đồng tiền của các vị vua Hy Lạp ở Ấn Độ đã dùng song ngữ, được viết bằng tiếng Hy Lạp ở mặt trước và tiếng Pali ở mặt sau. Một nhượng bộ to lớn cho một nền văn hóa khác chưa bao giờ được thực hiện trong thế giới Hy Lạp[111] Ngẫu nhiên, những đồng tiền song ngữ Ấn-Hy Lạp là chìa khóa giải mã những văn bản Kharoshthi của James Prinsep (1799-1840)[112]. Tiếng Kharoshthi biến mất vào khoảng thế kỷ thứ 3SCN.

Trong văn học Ấn Độ, người Ấn-Hy Lạp được mô tả là Yavanas (trong tiếng Phạn),[113][114][115] hoặc Yonas (trong tiếng Pali) [116] được cho là chuyển ngữ của từ "Ionians".

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng tiền kiểu chuẩn Ấn Độ của Menandros I với hình pháp luân và lá có chiến thắng ở phía ngược lại (British Museum).

Ngoài việc thờ phụng các vị thần Hy Lạp cổ đại mà được tìm thấy trên đồng tiền của họ (Zeus, Herakles, Athena, Apollo...), người Ấn-Hy Lạp đã thờ cúng các tôn giáo địa phương, đặc biệt với Phật giáo, mà còn với Ấn Độ giáoHỏa giáo [117].

Sau khi quân đội Hy Lạp-Bactria chiếm đóng các vùng của miền Bắc Ấn Độ từ khoảng năm 180 trước Công nguyên, nhiều trường hợp tương tác giữa người Hy Lạp và Phật giáo được ghi lại. Menander I, là "Đấng Cứu Thế", dường như đã cải sang đạo Phật,[118] và được mô tả như là một ân nhân lớn của tôn giáo, ngang tầm với Ashoka hoặc hoàng đế tương lai của vương triều Quý SươngKanishka.[119] Các bánh xe, mà xuất hiện trên một số đồng tiền xu của ông có lẽ là Phật giáo,[120] và ông đã nổi tiếng với cuộc đối thoại của ông với nhà sư Phật giáo Nagasena, truyền lại cho chúng ta trong Di Lan Đà Vấn Đạo, trong đó giải thích rằng ông đã trở thành A La Hán Phật giáo:

" Và sau đó, thỏa thích trong sự khôn ngoan của Trưởng Lão, ngài (Menandros) giao lại vương quốc cho con trai mình, đức vua Mi-lan-đà lặng lẽ rời bỏ hoàng cung, tìm đường xuất gia, sau đó sống đời không nhà cửa của một sa môn chân chính. Nhờ sự tinh cần, kiên trì tiến tu chỉ tịnh, quán minh; không bao lâu sau, ngài đắc giải thoát bảo cái trắng làm cho tỏ ngộ Niết-bàn, thành bậc A-la-hán vô sanh."

Di Lan Đà Vấn đạo, Translation by T. W. Rhys Davids.

Một văn bản Ấn Độ khác, Stupavadana của Ksemendra, đề cập đến hình thức của một lời tiên tri rằng Menandros sẽ xây dựng một bảo tháp ở Pataliputra.[121]

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn chung, nghệ thuật của người Ấn-Hy Lạp còn quá ít bằnh chứng còn tồn tại, và số ít tác phẩm nghệ thuật (ngoài những đồng tiền của họ và một vài bảng đá) trực tiếp được quy cho họ. Tuy nhiên, tiền đúc của người Ấn-Hy Lạp thường được coi như một trong những tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời nhất của thời cổ đại[122] Các di sản Hy Lạp cổ đại (Ai-Khanoum) và trình độ nghệ thuật của thế giới Ấn-Hy Lạp sẽ cho thấy một truyền thống nghệ thuật điêu khắc phong phú, nhưng những tác phẩm điêu khắc truyền thống rất ít còn lại vốn đựoc quy cho họ. Ngược lại, hầu hết các tác phẩm nghệ thuật Hy Lạp ở Gandharan thường được quy là do những người kế tục trực tiếp của người Ấn-Hy Lạp tại Ấn Độ trong thế kỷ 1, chẳng hạn như dân du mục Ấn-Scythia, người Ấn-Parthia và, trong một nhà nước đã suy tàn, người Quý Sương [123] Nhìn chung, nghệ thuật điêu khắc Gandhara không thể xác định được niên đại chính xác, để có thể giải thích.

Phật tử Hy Lạp, tay cầm lá chuối, trong phong cách hoàn toàn Hy Lạp, trong thức cột Corinth, phù điêu Buner.
Bảo tàng Victoria và Albert

Khả năng có mối liên hệ trực tiếp giữa người Ấn-Hy Lạp và nghệ thuật Hy Lạp-Phật giáo đã được tái khẳng định gần đây vì niên đại thời kì cai trị của các vị vua Ấn-Hy Lạp đã được mở rộng đến những thập kỷ đầu của thế kỷ 1, với triều đại của Strato II ở Punjab[124] Ngoài ra, Foucher, Tarn, và gần đây hơn, Boardman, Bussagli và McEvilley đã xem một số công trình hoàn toàn mang tính Hy Lạp nhất ở Tây Bắc Ấn Độ và Afghanistan, thực sự có thể được quy sai là vào thế kỷ sau đó, và thay vào vào đó thuộc về một khoảng thời gian một hoặc hai thế kỷ trước, đến thời kì của người Ấn-Hy Lạp vào thế kỉ 2 tới thế kỷ thứ 1 trước Công nguyên:[125]

Đây là một trường hợp đặc biệt khi mà một số công trình hoàn toàn mang tính Hy Lạp ở Hadda, Afghanistan, một khu vực "thực sự có thể là cái nôi của nghệ thuật điêu khắc Phật giáo phôi thai trong phong cách Ấn-Hy Lạp"[126] Liên quan đến một trong số những bộ tam Đức Phật ở Hadda, trong đó ở mặt bên của Đức Phật là cách miêu tả rất cổ điển của Herakles / Kim Cương ThủTyche / Hariti.

Nghệ thuật Hy Lạp-Phật giáoGandhara, đã vượt ra ngoài sự có mặt khắp nơi của phong cách Hy Lạp và các yếu tố phong cách mà có thể chỉ đơn giản được coi là một truyền thống nghệ thuật lâu dài[127]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Rất ít thông tin về nền kinh tế của người Ấn-Hy Lạp, mặc dù nó dường như đã phát triển khá mạnh mẽ[128][129] Những đồng tiền khá phong phú của họ có xu hướng cho thấy các hoạt động khai thác mỏ lớn, đặc biệt là ở khu vực miền núi của Hindu-Kush, và một nền kinh tế tiền tệ quan trọng. Các đồng tiền Ấn-Hy Lạp đã được đúc với song ngữ trong cả hai tiêu chuẩn "tròn" của Hy Lạp và trong tiêu chuẩn "vuông" của Ấn Độ,[130] cho thấy rằng sự luân chuyển tiền tệ đã mở rộng cho tất cả các bộ phận của xã hội. Tiêu chuẩn tiền tệ Ấn-Hy Lạp cũng đã được các vương quốc lân cận chấp nhận, chẳng hạn như người Kuninda về phía đông và người Satavahanas về phía nam,[131] cũng sẽ cho thấy rằng đồng tiền Ấn-Hy Lạp đã được sử dụng rộng rãi cho thương mại qua biên giới.

Nộp cống[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng đá miêu tả một khung cảnh thần thoại, thế kỷ thứ 2-1 TCN.

Cũng có vẻ như rằng một số các đồng tiền được ban hành bởi các vị vua Ấn-Hy Lạp, đặc biệt là những đồng theo tiêu chuẩn đơn ngữ Attic, có thể được sử dụng như một dạng nộp cống cho các bộ lạc Nguyệt Chi ở phía bắc của Hindu-Kush.[86] Giả thuyết này được nêu ra bởi vì các đồng tiền như vậy đã được tìm thấy kho báu Qunduz ở miền bắc Afghanistan.

Giao thương với Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền hợp kim đồng-nickel của vua Pantaleontos cho thấy xuất xứ từ Trung Quốc của kim loại này,[132]

Các vị vua Hy Lạp ở Nam Á đã được biết đến là những người đầu tiên ban hành những đồng tiền hợp kim đồng-nickel, vào triều đại Euthydemos II, có niên đại từ năm 180 đến 170 trước Công nguyên, và những người em trai của ông, PantaleonAgathocles khoảng năm 170 trước Công nguyên. Vì chỉ có người Trung Quốc có thể sản xuất đồng-nickel tại thời điểm đó, và cũng như tỷ lệ hợp kim độc quyền tương tự, đã có giả thuyết rằng loại kim loại này là kết quả của trao đổi giữa Trung Quốc và Bactria [132].

Một bằng chứng gián tiếp là từ các nhà thám hiểm Trung Quốc Trương Khiên, người đã đến thăm Bactria khoảng năm 128 trước Công nguyên, cho thấy thương mại phát triển với miền Nam Trung Quốc mà thông qua phía bắc Ấn Độ. Trương Khiên giải thích rằng ông đã tìm thấy sản phẩm Trung Quốc tại các chợ của người Bactria, và rằng họ đang vận chuyển thông qua Tây Bắc Ấn Độ, mà ông tình cờ mô tả là một nền văn minh tương tự như của Bactria:

"Khi ở Đại Hạ (Bactria), thần thấy gậy trúc đất Cung (vùng Tây nam Tứ Xuyên ngày nay), vải bố đất Thục (vùng Tứ Xuyên ngày nay). Khi thần hỏi người dân làm thế nào họ có được, họ trả lời, "Thương nhân chúng tôi mua chúng từ các chợ ở Thân Độc (Sindhu, tức Ấn Độ ngày nay)"".[133]

Thương mại trên biển Ấn Độ Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Quan hệ hàng hải trên Ấn Độ Dương bắt đầu vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, và tiếp tục phát triển vào thời điểm của người Ấn-Hy Lạp cùng với sự mở rộng lãnh thổ của họ dọc theo bờ biển phía tây của Ấn Độ. Các tiếp xúc đầu tiên bắt đầu khi nhà Ptolemaios xây dựng các cảng Biển Đỏ ở Myos HormosBerenike, với điểm đến là đồng bằng châu thổ sông Ấn, bán đảo Kathiawar hay Muziris. Khoảng năm 130 trước Công nguyên, Eudoxos của Cyzicus (Strabo, Geog. II.3.4) [134] đã được ghi lại là đã thực hiện một chuyến đi thành công tới Ấn Độ và trở về cùng với hàng hóa gồm nước hoa và đá quý. Vào thời điểm sự cai trị của người Ấn-Hy Lạp kết thúc, có tới 120 chuyến tàu khởi hành mỗi năm từ Hormos Myos tới Ấn Độ (Strabo Geog II.5.12).[135]

Lực lượng quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Các đồng tiền của người Ấn-Hy Lạp cung cấp những manh mối phong phú về trang phục và vũ khí của họ. Kiểu trang phục Hy Lạp cổ đại tiêu biểu đã được mô tả, với mũ giáp có thể kiểu tròn theo phong cách Hy Lạp-Bactria, hoặc kiểu kausia bẹt của Macedonia (tiền xu của Apollodotos I).

Kĩ thuật quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí của họ bao gồm giáo, kiếm, nỏ (trên đồng tiền của Agathokleia) và mũi tên. Điều thú vị là, vào năm 130 TCN loại cung uốn Trung Á của thảo nguyên với hộp gorytos của nó bắt đầu xuất hiện lần đầu tiên trên đồng tiền của Zoilos I, cho thấy sự tương tác mạnh (và dường như là một liên minh) với các dân tộc du mục, hoặc là người Nguyệt Chi hoặc Scythia.[136] Loại cung uốn trở thành một tính năng tiêu chuẩn của các kỵ binh Ấn-Hy Lạp cho đến năm 90 trước Công nguyên, như được thấy trên một số các đồng tiền của Hermaeos.

Binh lĩnh Ấn-Hy Lạp (trên một đồng xu của Menandros II), khoảng 90 TCN, với một áo giáp, phiến giáp cho đùi, và bảo vệ chân, làm một cử chỉ phước lành.[137]

Nhìn chung, các vị vua Ấn-Hy Lạp thường được miêu tả là đang cưỡi ngựa, vào đầu triều đại của Antimachos II khoảng 160 trước Công nguyên. Truyền thống cưỡi ngựa này có thể quay trở lại từ thời Hy Lạp-Bactria, những người được Polybius cho là đã phải đối mặt với một cuộc xâm lược của nhà Seleukos vào năm 210 TCN với 10.000 kỵ binh [138] Mặc dù những con voi chiến không bao giờ được thể hiện trên đồng tiền, một bộ yên cương ngựa (phalera) có niên đại thế kỷ 3 tới thế kỉ 2 trước Công nguyên, ngày nay tại Bảo tàng Hermitage, mô tả một chiến binh đội mũ sắt Hy Lạp trên một con voi chiến Ấn Độ.

Trong Bộ kinh "Di Lan Đà Vấn đạo" có đoạn trích lời tâu của Tỳ kheo Na Tiên, nói lên cấu trúc quân sự của Vương quốc Ấn - Hy Lạp đời vua Menandros I:[139]

Ví như đại vương dẫn bốn loại quân binh: bộ binh, tượng binh, mã binh, xa binh ra trận. Bốn loại binh ấy có tên gọi khác nhau, hình tướng, chức năng, công dụng khác nhau nhưng đều thành tựu chung một lợi ích, một mục đích: ấy là đem về vinh quang và chiến thắng cho đại vương!

—Tỳ kheo Na Tiên, trích trong "Di Lan Đà vấn đạo

Ngoài ra, bộ kinh còn tái hiện cuộc đàm luận giữa nhà vua và Na Tiên, nêu ra đường lối quân sự đúng đắn của ông:

(Na Tiên): "Trước đây, đại vương từng là một đại tướng lãnh bách chiến bách thắng, ngài đã từng chỉ huy bốn loại quân binh một cách thiện xảo, thiên tài, ngài đã từng chiến thắng những "trận địa chiến" rất lớn. Bần tăng xin được hỏi là đại vương thường thiết lập, bố trí "trận địa chiến" ấy ra sao?"
(Menandros I): "Không dấu gì đại đức, chuyện ấy đối với trẫm thì dễ dàng như mặc áo, ăn cơm vậy. Đầu tiên trẫm quan sát các thế núi, sông, rừng, sa mạc, đồng ruộng, thôn làng. Rồi dự định chỗ tấn, chỗ thoái, chỗ lập đồn lũy, chỗ hư binh, chỗ phục binh v.v.. sau đó, lập sa bàn, tập trận giả, rồi tập trận thật trên địa thế núi sông tương tự...; rồi còn chiến thuật, tâm lý... và nhiều lãnh vực chuyên môn khác nữa.
(Na Tiên): "Chừng đó là bần tăng hiểu rồi, tâu đại vương! Muốn chiến thắng, bách chiến bách thắng, đại vương phải thiết lập vững vàng trận địa, nơi thế đất này, thế núi kia... tất cả đều được chuẩn bị, dự phòng sẵn. Dường thế ấy, từ Giới lập trận thế, từ Giới lập chiến thuật, chiến lược; từ Giới lập sa bàn; từ Giới mà tiêu diệt đối phương... thì mười đội binh ma quân phiền não sẽ cởi giáo quy hàng. Nhờ Giới mà tín sẽ vững chắc không xao động. Nhờ Giới mà tấn không thối thất. Nhờ Giới mà niệm không buông lơi. Nhờ Giới mà định tâm thêm kiên cố. Nhờ Giới mà tuệ càng thêm sáng tỏ."

Trong kinh cũng có đoạn nhà vua Menandros I Soter miêu tả về cách thức chăm sóc các thương binh trên chiến trận: "Dĩ nhiên là cho họ lui tuyến sau, cử thầy thuốc chăm sóc vết thương.", và "Họ chùi rửa vết thương cẩn thận, lấy thuốc đắp lên, lấy vải nhuyễn mịn băng bó lại.".[140]

Kích cỡ của quân đội Ấn-Hy Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng quân đội của người Ấn-Hy Lạp đã tham gia vào nhiều trận chiến quan trọng với các đạo quân địa phương của người Ấn.Vị vua cai trị Kalinga, Kharavela, tuyên bố trên văn bia Hathigumpha rằng ông ta đã dẫn đầu một "đội quân lớn" đương đầu với "quân đội" do Demetrius chỉ huy, và rằng ông đã khiến cho ông ta phải rút lui khỏi thành Pataliputra về Mathura. Sứ thần Hy Lạp Megasthenes đã ghi chú đặc biệt về sức mạnh quân sự của Kalinga trong cuốn Indica của ông vào giữa thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên:

Thành phố hoàng gia của Calingae (Kalinga) được gọi là Parthalis. Vị vua của họ có tới 60.000 bộ binh, 1.000 kỵ binh, 700 con voi canh giữ trong khi "sẵn sàng cho chiến tranh".

—Megasthenes fragm. LVI. in Plin. Hist. Nat. VI. 21. 8–23. 11.[141]

Một ghi chép khác là của nhà văn La Mã Justin đưa ra một gợi ý về kích thước của quân đội Ấn-Hy Lạp, trong đó, khi cuộc xung đột giữa vua Hy Lạp-Bactria là Eucratides với Ấn-Hy Lạp Demetrios II nổ ra, ông ta có 60.000 quân sĩ (mặc dù vậy họ bị cho là đã thua trận trước 300 quân Hy Lạp-Bactria):

Eucratides tiến hành nhiều cuộc chiến tranh với lòng dũng cảm tuyệt vời, và, trong khi suy yếu bởi những cuộc chiến, và bị đặt dưới sự bao vây của Demetrios, vua của người Ấn Độ. Ông đã tiến hành nhiều cuộc đột kích và cố gắng để chiến thắng 60.000 kẻ thù với 300 chiến binh, và vì vậy đã giải phóng sau bốn tháng, ông đã đặt Ấn Độ dưới sự cai trị của mình.

—Justin, XLI,6 [142]

Đây được coi là lực lượng hùng hậu bởi vì các quân đội lớn trong thời kì Hy Lạp hóa thường có quân số từ 20.000 đến 30.000 binh sĩ.[143]

Người Ấn-Hy Lạp sau đó đã phải đối mặt với các bộ lạc du mục tới từ Trung Á (Nguyệt Chi và Scythia). Theo Trương Khiên, người Nguyệt Chi có một lực lượng hùng hậu từ 100.000 và 200.000 kỵ cung[144]

Di sản của người Ấn-Hy Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

The Indo-Scythian Taxila copper plate uses the Macedonian month of "Panemos" for calendrical purposes (British Museum).[145]

Từ thế kỷ 1, các cộng đồng Hy Lạp ở Trung Á và tây bắc Ấn Độ đã sống dưới sự kiểm soát của người Quý Sương, một nhánh của người Nguyệt Chi, ngoài ra còn có một cuộc xâm lược ngắn ngủi của Vương quốc Ấn-Parthia[146] Sau đó,Người Quý Sương đã thành lập Đế quốc Quý Sương, mà còn phát triển thịnh vượng trong nhiều thế kỷ. Ở miền Nam, người Hy Lạp đã nằm dưới sự cai trị của Kshatrapas phía Tây. Bộ tộc Kalashthung lũng Chitral đã tuyên bố là con cháu của người Ấn-Hy Lạp.

Cặp vợ chồng Hy Lạp từ Taxila (IV).

Hiện chưa rõ liệu những người Hy Lạp đã tìm được cách nào để có thể duy trì sự có mặt lâu hơn nữa một cách rõ rệt ở tiểu lục địa Ấn Độ. Tuy nhiên, di sản của người Ấn-Hy Lạp vẫn còn được duy trì trong nhiều thế kỷ sau đó, từ việc sử dụng ngôn ngữ và cách tính lịch của người Hy Lạp,[147] cho đến ảnh hưởng trên tiền xu ở tiểu lục địa Ấn Độ, có thể kéo dài tới tận thời kỳ của Đế chế Gupta trong thế kỷ thứ 4.[148]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ As in other compounds such as "French-Canadian", "African-American", "Indo-European" etc..., the area of origin usually comes first, and the area of arrival comes second, so that "Greco-Indian" is normally a more accurate nomenclature than "Indo-Greek". The latter however has become the general usage, especially since the publication of Narain's book "The Indo-Greeks".
  2. ^ Euthydemus I was, according to Polybius 11.34, a Magnesian Greek. His son, Demetrius I, founder of the Indo-Greek kingdom, was therefore of Greek ethnicity at least by his father. A marriage treaty was arranged for the same Demetrius with a daughter of the Seleucid ruler Antiochus III (who had some Persian descent). Polybius 11.34. The ethnicity of later Indo-Greek rulers is less clear ("Notes on Hellenism in Bactria and India". W. W. Tarn. Journal of Hellenic Studies, Vol. 22 (1902), pages 268–293). For example, Artemidoros (80 BC) may have been of Indo-Scythian ascendency. Some level of inter-marriage may also have occurred, as exemplified by Alexander III of Macedon (who married Roxana of Bactria) or Seleucus (who married Apama).
  3. ^ Mortimer Wheeler Flames over Persepolis (London, 1968). Pp. 112 ff. It is unclear whether the Hellenistic street plan found by Sir John Marshall's excavations dates from the Indo-Greeks or from the Kushans, who would have encountered it in Bactria; Tarn (1951, pp. 137, 179) ascribes the initial move of Taxila to the hill of Sirkap to Demetrius I, but sees this as "not a Greek city but an Indian one"; not a polis or with a Hippodamian plan.
  4. ^ "Menander had his capital in Sagala" Bopearachchi, "Monnaies", p.83. McEvilley supports Tarn on both points, citing Woodcock: "Menander was a Bactrian Greek king of the Euthydemid dynasty. His capital (was) at Sagala (Sialkot) in the Punjab, "in the country of the Yonakas (Greeks)"." McEvilley, p.377. However, "Even if Sagala proves to be Sialkot, it does not seem to be Menander's capital for the Milindapanha states that Menander came down to Sagala to meet Nagasena, just as the Ganges flows to the sea."
  5. ^ "A vast hoard of coins, with a mixture of Greek profiles and Indian symbols, along with interesting sculptures and some monumental remains from Taxila, Sirkap and Sirsukh, point to a rich fusion of Indian and Hellenistic influences", India, the Ancient Past, Burjor Avari, p.130
  6. ^ Ghose, Sanujit (2011). "Cultural links between India and the Greco-Roman world". Ancient History Encyclopedia.
  7. ^ "When the Greeks of Bactria and India lost their kingdom they were not all killed, nor did they return to Greece. They merged with the people of the area and worked for the new masters; contributing considerably to the culture and civilization in southern and central Asia." Narain, "The Indo-Greeks" 2003, p.278
  8. ^ Jairazbhoy, Rafique Ali (1995). Foreign influence in ancient Indo-Pakistan. Sind Book House. tr. 100. ISBN 9698281002. “Apollodotus, founder of the Graeco- Indian kingdom (c. 160 BC).” 
  9. ^ India, the Ancient Past, Burjor Avari, p. 92-93
  10. ^ :"To the colonies settled in India, Python, the son of Agenor, was sent." Justin XIII.4
  11. ^ India, the Ancient Past, Burjor Avari, p. 106-107
  12. ^ “Strabo 15.2.1(9)”. 
  13. ^ "A minor rock edict, recently discovered at Kandahar, was inscribed in two scripts, Greek and Aramaic", India, the Ancient Past, Burjor Avari, tr. 112
  14. ^ India, the Ancient Past, Burjor Avari, tr. 108-109
  15. ^ "Three Greek ambassadors are known by name: Megasthenes, ambassador to Chandragupta; Deimachus, ambassador to Chandragupta's son Bindusara; and Dyonisius, whom Ptolemy Philadelphus sent to the court of Ashoka, Bindusara's son", McEvilley, tr. 367
  16. ^ "The very fact that both Megasthenes and Kautilya refer to a state department run and maintained specifically for the purpose of looking after foreigners, who were mostly Yavanas and Persians, testifies to the impact created by these contacts.", Narain, "The Indo-Greeks", tr. 363
  17. ^ "It also explains (...) random finds from the Sarnath, Basarth, and Patna regions of terra-cotta pieces of distinctive Hellenistic or with definite Hellenistic motifs and designs", Narain, "The Indo-Greeks" 2003, tr. 363
  18. ^ "The second Kandahar edict (the purely Greek one) of Asoka is a part of the "corpus" known as the "Fourteen-Rock-Edicts"" Narain, "The Indo-Greeks" 2003, tr. 452
  19. ^ "It is also in Kandahar that were found the fragments of a Greek translation of Edicts XII and XIII, as well as the Aramean translation of another edict of Ashoka", Bussagli, tr. 89
  20. ^ "Within Ashoka's domain Greeks may have had special privileges, perhaps ones established by the terms of the Seleucid alliance. Rock Edict Thirteen indicates the existence of a Greek principality in the northwest of Ashoka's empire -perhaps Kandahar, or Alexandria-of-the-Arachosians- which was not ruled by him and for which he troubled to send Buddhist missionaries and published at least some of his edicts in Greek", McEvilley, tr. 368
  21. ^ "Thirteen, the longest and most important of the edicts, contains the claim, seemingly outlandish t first glance, that Ashoka had sent missions to the lands of the Greek monarchs -not only those of Asia, such as the Seleucids, but those back in the Mediterranean also", McEvilley, p.368
  22. ^ "When Ashoka was converted to Buddhism, his first thought was to despatch missionaries to his friends, the Greek monarchs of Egypt, Syria, and Macedonia", Rawlinson, Intercourse between India and the Western world, tr. 39, quoted in McEvilley, p.368
  23. ^ "In Rock Edict Two Ashoka even claims to have established hospitals for men and beasts in the Hellenistic kingdoms", McEvilley, tr. 368
  24. ^ "One of the most famous of these emissaries, Dharmaraksita, who was said to have converted thousands, was a Greek (Mhv.XII.5 and 34)", McEvilley, tr. 370
  25. ^ "The Mahavamsa tells that "the celebrated Greek teacher Mahadharmaraksita in the second century BC led a delegation of 30,000 monks from Alexandria-of-the-Caucasus (Alexandra-of-the-Yonas, or of-the-Greeks, the Ceylonese text actually says) to the opening of the great Ruanvalli Stupa at Anuradhapura"", McEvilley, tr. 370, quoting Woodcock, "The Greeks in India", tr. 55
  26. ^ "The finest of the pillars were executed by Greek or Perso-Greek sculptors; others by local craftsmen, with or without foreign supervision" Marshall, "The Buddhist art of Gandhara", tr. 4
  27. ^ "A number of foreign artisans, such as the Persians or even the Greeks, worked alongside the local craftsmen, and some of their skills were copied with avidity" Burjor Avari, "India, The ancient past", tr. 118
  28. ^ "Antiochos III, after having made peace with Euthydemus I after the aborted siege of Bactra, renewed with Sophagasenus the alliance concluded by his ancestor Seleucos I", Bopearachchi, Monnaies, tr. 52
  29. ^ “Polybius 11.39”. 
  30. ^ Justin XLI, paragraph 4
  31. ^ Justin XLI, paragraph 1
  32. ^ a ă Strabo XI.XI.I
  33. ^ Justin XLI
  34. ^ Polybius 11.34
  35. ^ Strabo 11.11.2
  36. ^ Polybius 10.49, Battle of the Arius
  37. ^ Polybius 11.34 Siege of Bactra
  38. ^ On the image of the Greek kneeling warrior: "A bronze figurine of a kneeling warrior, not Greek work, but wearing a version of the Greek Phrygian helmet. From a burial, said to be of the 4th century BC, just north of the Tien Shan range". Ürümqi Xinjiang Museum. (Boardman "The diffusion of Classical Art in Antiquity")
  39. ^ "General Pusyamitra, who is at the origin of the Sunga dynasty. He was supported by the Brahmins and even became the symbol of the Brahmanical turnover against the Buddhism of the Mauryas. The capital was then transferred to Pataliputra (today's Patna)", Bussagli, p.99
  40. ^ Pushyamitra is described as a "senapati" (Commander-in-chief) of Brhadrata in the Puranas
  41. ^ Senior, Indo-Scythian coins, p.xii
  42. ^ Polybius 11.34
  43. ^ The first conquests of Demetrius have usually been held to be during his father's lifetime; the difference has been over the actual date. Tarn and Narain agreed on having them begin around 180; Bopearachchi moved this back to 200, and has been followed by much of the more recent literature, but see Brill's New Pauly: Encyclopaedia of the Ancient World (Boston, 2006) "Demetrius" §10, which places the invasion "probably in 184". D.H. MacDowall, "The Role of Demetrius in Arachosia and the Kabul Valley", published in the volume: O. Bopearachchi, Landes (ed), Afghanistan Ancien Carrefour Entre L'Est Et L'Ouest, (Brepols 2005) discusses an inscription dedicated to Euthydemus, "Greatest of all kings" and his son Demetrius, who is not called king but "Victorious" (Kallinikos). This is taken to indicate that Demetrius was his father's general during the first conquests. It is uncertain whether the Kabul valley or Arachosia were conquered first, and whether the latter province was taken from the Seleucids after their defeat by the Romans in 190 BC. Peculiar enough, more coins of Euthydemus I than of Demetrius I have been found in the mentioned provinces. The calendar of the "Yonas" is proven by an inscription giving a triple synchronism to have begun in 186/5 BC; what event is commemorated is itself uncertain. Richard Salomon "The Indo-Greek era of 186/5 B.C. in a Buddhist reliquary inscription", in Afghanistan, Ancien Carrefour cited.
  44. ^ "Demetrius occupied a large part of the Indus delta, Saurashtra and Kutch", Burjor Avari, p.130
  45. ^ "It would be impossible to explain otherwise why in all his portraits Demetrios is crowned with an elephant scalp", Bopearachchi, Monnaies, p.53
  46. ^ "We think that the conquests of these regions south of the Hindu Kush brought to Demetrius I the title of "King of India" given to him by Apollodorus of Artemita." Bopearachchi, p.52
  47. ^ For Heracles, see Lillian B. Lawler "Orchesis Kallinikos" Transactions and Proceedings of the American Philological Association, Vol. 79. (1948), pp. 254–267, p. 262; for Artemidorus, see K. Walton Dobbins "The Commerce of Kapisene and Gandhāra after the Fall of Indo-Greek Rule" Journal of the Economic and Social History of the Orient, Vol. 14, No. 3. (Dec., 1971), pp. 286–302 (Both JSTOR). Tarn, p.132, argues that Alexander did not assume as a title, but was only hailed by it, but see Peter Green, The Hellenistic Age, p.7; see also Senior, Indo-Scythian coins, p.xii. No undisputed coins of Demetrius I himself use this title, but it is employed on one of the pedigree coins issued by Agathocles, which bear on the reverse the classical profile of Demetrius crowned by the elephant scalp, with the legend DEMETRIOS ANIKETOS, and on the reverse Herakles crowning himself, with the legend "Of king Agathocles" (Boppearachchi, "Monnaies", p.179 and Pl 8). Tarn, The Greeks in Bactria and India, Chap IV.
  48. ^ "It now seems most likely that Demetrios was the founder of the newly discovered Greek Era of 186/5", Senior, Indo-Scythian coins IV
  49. ^ Davies, Cuthbert Collin (1959). An Historical Atlas of the Indian Peninsula. Oxford University Press. 
  50. ^ Narain, A.K. (1976). The Coin Types of the Indo-Greek Kings. Ares. ISBN 0890051097. 
  51. ^ Hans Erich Stier, Georg Westermann Verlag, Ernst Kirsten, and Ekkehard Aner. Grosser Atlas zur Weltgeschichte: Vorzeit. Altertum. Mittelalter. Neuzeit. Westermann, 1978, ISBN 3-14-100919-8.
  52. ^ MacDowall, 2004
  53. ^ "The only thing that seems reasonnably sure is that Taxila was part of the domain of Agathocles", Bopearachchi, Monnaies, tr. 59
  54. ^ Bopearachchi, Monnaies, p.63
  55. ^ "There is certainly some truth in Apollodorus and Strabo when they attribute to Menander the advances made by the Greeks of Bactria beyond the Hypanis and even as far as the Ganges and Palibothra (...) That the Yavanas advanced even beyond in the east, to the Ganges-Jamuna valley, about the middle of the second century BC is supported by the cumulative evidence provided by Indian sources", Narain, "The Indo-Greeks" p.267.
  56. ^ "The Greeks... took possession, not only of Patalena, but also, on the rest of the coast, of what is called the kingdom of Saraostus and Sigerdis." Strabo 11.11.1 (Strabo 11.11.1)
  57. ^ The Geography of India: Sacred and Historic Places Educational Britannica Educational p.156
  58. ^ "The combination of textual and numismatic evidence allows to see what was the conflict between Eucratides and Menander. When Menander was engaged in a bloody conquest of the Ganges valley, Eucratides I would have taken advantage of this opportunity to invade his kingdom. This would be the "civil war" mentioned in the Yuga Purana; this would explain that Menander had to stop his conquest of the Ganges valley, and had to return hastily to face the aggressor", Bopearachchi, Monnaies, p.85
  59. ^ In the 1st century BC, the geographer Isidorus of Charax mentions Parthians ruling over Greek populations and cities in Arachosia: "Beyond is Arachosia. And the Parthians call this White India; there are the city of Biyt and the city of Pharsana and the city of Chorochoad and the city of Demetrias; then Alexandropolis, the metropolis of Arachosia; it is Greek, and by it flows the river Arachotus. As far as this place the land is under the rule of the Parthians." "Parthians stations", 1st century BC. Mentioned in Bopearachchi, "Monnaies Greco-Bactriennes et Indo-Grecques", p52. Original text in paragraph 19 of Parthian stations
  60. ^ "Numismats and historians all consider that Menander was one of the greatest, if not the greatest, and the most illustrious of the Indo-Greek kings", Bopearachchi, "Monnaies", p.76
  61. ^ Pompeius Trogus, Prologue to Book XLI.
  62. ^ "When Strabo mentions that "Those who after Alexander advanced beyond the Hypanis to the Ganges and Polibothra (Pataliputra)" this can only refer to the conquests of Menander.", Senior, Indo-Scythian coins and history, p.XIV
  63. ^ Mitchener, The Yuga Purana, 2000, p.65: "In line with the above discussion, therefore, we may infer that such an event (the incursions to Pataliputra) took place, after the reign of Salisuka Maurya (c.200 BC) and before that of Pusyamitra Sunga (187 BC). This would accordingly place the Yavana incursions during the reign of the Indo-Greek kings Euthydemus (c.230–190 BC) or Demetrios (c.205-190 as co-regent, and 190–171 BC as supreme ruler".
  64. ^ A.K. Narain and Keay 2000
  65. ^ "Menander became the ruler of a kingdom extending along the coast of western India, including the whole of Saurashtra and the harbour Barukaccha. His territory also included Mathura, the Punjab, Gandhara and the Kabul Valley", Bussagli p101)
  66. ^ Tarn, p.147-149
  67. ^ Strabo on the extent of the conquests of the Greco-Bactrians/Indo-Greeks: "They took possession, not only of Patalena, but also, on the rest of the coast, of what is called the kingdom of Saraostus and Sigerdis. In short, Apollodorus says that Bactriana is the ornament of Ariana as a whole; and, more than that, they extended their empire even as far as the Seres and the Phryni." Strabo 11.11.1 (Strabo 11.11.1)
  68. ^ "the account of the Periplus is just a sailor's story", Narain (p.118-119)
  69. ^ "A distinctive series of Indo-Greek coins has been found at several places in central India: including at Dewas, some 22 miles to the east of Ujjain. These therefore add further definite support to the likelihood of an Indo-Greek presence in Malwa" Mitchener, "The Yuga Purana", p.64
  70. ^ "Because the Ionians were either the first ot the most dominant group among the Greeks with whom people in the east came in contact, the Persians called all of them Yauna, and the Indians used Yona and Yavana for them", Narain, The Indo-Greeks, p.249
  71. ^ "The term (Yavana) had a precise meaning until well into the Christian era, when gradually its original meaning was lost and, like the word Mleccha, it degenerated into a general term for a foreigner" Narain, p.18
  72. ^ Tarn, p. [132–133 “INSERT TITLE”] Kiểm tra giao thức |url= (trợ giúp). 
  73. ^ "The name Dimita is almost certainly an adaptation of "Demetrios", and the inscription thus indicates a Yavana presence in Magadha, probably around the middle of the 1st century BC." Mitchener, The Yuga Purana, p.65
  74. ^ "The Hathigumpha inscription seems to have nothing to do with the history of the Indo-Greeks; certainly it has nothing to do with Demetrius I", Narain, The Indo-Greeks, p.50
  75. ^ P.L.Gupta: Kushâna Coins and History, D.K.Printworld, 1994, p.184, note 5
  76. ^ "Justin refers to an incident in which Eucratides with a small force of 300 was besieged for four months by "Demetrius, king of the Indians" with a large army of 60,000. The numbers are obviously an exageration. Eucratides managed to break out and went on to conquer India.", It is uncertain who this Demetrius was, and when the siege happened. Some scholars believe that it was Demetrius I."(Demetrius I) was probably the Demetrius who besieged Eucratides for four months", D.W. Mac Dowall, p.201-202, Afghanistan, ancien carrefour entre l'est et l'ouest. This analysis goes against Bopearachchi, who has suggested that Demetrius I died long before Eucratides came to power.
  77. ^ Bopearachchi, p.72
  78. ^ "As Bopearachchi has shown, Menander was able to regroup and take back the territory that Eucratides I had conquered, perhaps after Eucratides had died (1991, pp. 84–6). Bopearachchi demonstrates that the transition in Menander's coin designs were in response to changes introduced by Eucratides".
  79. ^ "Numismats and historians are unanimous in considering that Menander was one of the greatest, if not the greatest, and the most famous of the Indo-Greek kings. The coins to the name of Menander are incomparably more abundant than those of any other Indo-Greek king" Bopearachchi, "Monnaies Gréco-Bactriennes et Indo-Grecques", p76.
  80. ^ "Menander, the probable conqueror of Pataliputra, seems to have been a Buddhist, and his name belongs in the list of important royal patrons of Buddhism along with Ashoka and Kanishka", McEvilley, p.375
  81. ^ "(In the Milindapanha) Menander is declared an arhat", McEvilley, p.378
  82. ^ Bopearachchi, "Monnaies", p.86
  83. ^ "By about 130 BC nomadic people from the Jaxartes region had overrun the northern boundary of Bactria itself", McEvilley, p.372
  84. ^ Bopearachchi, Monnaies, p.88
  85. ^ Senior, Indo-Scythian coins and history IV, p.xi
  86. ^ a ă "P.Bernard thinks that these emissions were destined to commercial exchanges with Bactria, then controled by the Yuezhi, and were post-Greek coins remained faithful to Greco-Bactrian coinage. In a slightly different perspective (...) G. Le Rider considers that these emission were used to pay tribute to the nomads of the north, who were thus incentivized not to pursue their forays in the direction of the Indo-Greek realm", Bopearachchi, "Monnaies", p.76.
  87. ^ Senior, Indo-Scythian coins and history IV, p.xxxiii
  88. ^ "During the century that followed Menander more than twenty rulers are known to have struck coins", Narain, "The Indo-Greeks" 2003, p.270
  89. ^ Bernard (1994), tr. 126.
  90. ^ The Sanskrit inscription reads "Yavanarajyasya sodasuttare varsasate 100 10 6". R.Salomon, "The Indo-Greek era of 186/5 B.C. in a Buddhist reliquary inscription", in "Afghanistan, ancien carrefour entre l'est et l'ouest", p373
  91. ^ "The coinage of the former (the Audumbaras) to whom their trade was of importance, starts somewhere in the first century BC; they occasionally imitate the types of Demetrius and Apollodotus I", Tarn, p.325
  92. ^ The Kunindas must have been included in the Greek empire, not only because of their geographical position, but because they started coining at the time which saw the end of Greek rule and the establishment of their independence", Tarn, p.238
  93. ^ "Further evidence of the commercial success of the Greek drachms is seen in the fact that they influenced the coinage of the Audumbaras and the Kunindas", Narain The Indo-Greeks, p.114
  94. ^ "The wealthy Audumbaras (...) some of their coins after Greek rule ended imitated Greek types", Tarn, p.239
  95. ^ "Most of the people east of the Ravi already noticed as within Menander's empire -Audumbaras, Trigartas, Kunindas, Yaudheyas, Arjunayanas- began to coins in the first century BC, which means that they had become independent kingdoms or republics.", Tarn, p.324
  96. ^ "Later, in the first century a ruler of the Kunindas, Amogabhuti, issued a silver coinage "which would compete in the market with the later Indo-Greek silver"", Tarn, p.325
  97. ^ "Maues himself issued joint coins with Machene, (...) probably a daughter of one of the Indo-Greek houses" Senior, Indo-Scythians, p.xxxvi
  98. ^ G.K. Jenkins, using overstrikes and monograms, showed that, contrary to what Narai would write two years later, Apoloodotus II and Hippostratus were posterior, by far, to Maues. (...) He reveals an overstike if Azes I over Hippostratus. (...) Apollodotus and Hippostratus are thus posterior to Maues and anterior to Azes I, whose era we now starts in 57 BC." Bopearachchi, p.126-127.
  99. ^ "The Indo-Scythian conquerors, who, also they adopted the greek types, minted money with their own names". Bopearachchci, "Monnaies", p.121
  100. ^ Described in R.C. Senior "The Decline of the Indo-Greeks" [1]. See also this source.
  101. ^ "Around 10 AD, with the joint rule of Straton II and his son Straton in the area of Sagala, le last Greek kingdom succumbed to the attacks of Rajuvula, the Indo-Scythian satrap of Mathura.", Bopearachchi, "Monnaies", p.125
  102. ^ Marital alliances:
    • Discussion on the dynastic alliance in Tarn, pp. 152–153: "It has been recently suggested that Asoka was grandson of the Seleucid princess, whom Seleucus gave in marriage to Chandragupta. Should this far-reaching suggestion be well founded, it would not only throw light on the good relations between the Seleucid and Maurya dynasties, but would mean that the Maurya dynasty was descended from, or anyhow connected with, Seleucus... when the Mauryan line became extinct, he (Demetrius) may well have regarded himself, if not as the next heir, at any rate as the heir nearest at hand". Also: "The Seleucid and Maurya lines were connected by the marriage of Seleucus' daughter (or niece) either to Chandragupta or his son Bindusara" John Marshall, Taxila, p20. This thesis originally appeared in "The Cambridge Shorter History of India": "If the usual oriental practice was followed and if we regard Chandragupta as the victor, then it would mean that a daughter or other female relative of Seleucus was given to the Indian ruler or to one of his sons, so that Asoka may have had Greek blood in his veins." The Cambridge Shorter History of India, J. Allan, H. H. Dodwell, T. Wolseley Haig, p33 Source.
    • Description of the 302 BC marital alliance in Strabo 15.2.1(9): "The Indians occupy in part some of the countries situated along the Indus, which formerly belonged to the Persians: Alexander deprived the Ariani of them, and established there settlements of his own. But Seleucus Nicator gave them to Sandrocottus in consequence of a marriage contract, and received in return five hundred elephants." The ambassador Megasthenes was also sent to the Mauryan court on this occasion.
  103. ^ Exchange of presents:
    • Classical sources have recorded that Chandragupta sent various aphrodisiacs to Seleucus: "And Theophrastus says that some contrivances are of wondrous efficacy in such matters as to make people more amourous. And Phylarchus confirms him, by reference to some of the presents which Sandrakottus, the king of the Indians, sent to Seleucus; which were to act like charms in producing a wonderful degree of affection, while some, on the contrary, were to banish love" Athenaeus of Naucratis, "The deipnosophists" Book I, chapter 32 Ath. Deip. I.32
    • Ashoka claims he introduced herbal medicine in the territories of the Greeks, for the welfare of humans and animals (Edict No2).
    • Bindusara asked Antiochus I to send him some sweet wine, dried figs and a sophist: "But dried figs were so very much sought after by all men (for really, as Aristophanes says, "There's really nothing nicer than dried figs"), that even Amitrochates, the king of the Indians, wrote to Antiochus, entreating him (it is Hegesander who tells this story) to buy and send him some sweet wine, and some dried figs, and a sophist; and that Antiochus wrote to him in answer, "The dry figs and the sweet wine we will send you; but it is not lawful for a sophist to be sold in Greece" Athenaeus, "Deipnosophistae" XIV.67 Athenaeus, "Deipnosophistae" XIV.67
  104. ^ Treaties of friendship:
    • When Antiochos III, after having made peace with Euthydemus, went to India in 209 BC, he is said to have renewed his friendship with the Indian king there and received presents from him: "He crossed the Caucasus (Hindu Kush) and descended into India; renewed his friendship with Sophagasenus the king of the Indians; received more elephants, until he had a hundred and fifty altogether; and having once more provisioned his troops, set out again personally with his army: leaving Androsthenes of Cyzicus the duty of taking home the treasure which this king had agreed to hand over to him."Polybius 11.39
  105. ^ Ambassadors:
  106. ^ Religious missions:
    • In the Edicts of Ashoka, king Ashoka claims to have sent Buddhist emissaries to the Hellenistic west around 250 BC.
  107. ^ "Diodorus testifies to the great love of the king of Palibothra, apparently a Mauryan king, for the Greeks" Narain, "The Indo-Greeks", p362
  108. ^ "Obviously, for the Greeks who survived in India and suffered from the oppression of the Sunga (for whom they were aliens and heretics), Demetrios must have appeared as a saviour" Mario Bussagli, p. 101
  109. ^ "We can now, I think, see what the Greek 'conquest' meant and how the Greeks were able to traverse such extraordinary distances. To parts of India, perhaps to large parts, they came, not as conquerors, but as friends or 'saviours'; to the Buddhist world in particular they appeared to be its champions" (Tarn, p. 180)
  110. ^ Tarn p. 175. Also: "The people to be 'saved' were in fact usually Buddhists, and the common enmity of Greek and Buddhists to the Sunga king threw them into each other's arms", Tarn p. 175. "Menander was coming to save them from the oppression of the Sunga kings",Tarn p. 178
  111. ^ Whitehead, "Indo-Greek coins", p 3-8
  112. ^ Whitehead, p.vi
  113. ^ "These Indo-Greeks were called Yavanas in ancient Indian litterature" p.9 + note 1 "The term had a precise meaning until well into the Christian era, when gradually its original meaning was lost and, like the word Mleccha, it degenerated into a general term for a foreigner" p.18, Narain "The Indo-Greeks"
  114. ^ "All Greeks in India were however known as Yavanas", Burjor Avari, "India, the ancient past", p.130
  115. ^ "The term Yavana may well have been first applied by the Indians to the Greeks of various cities of Asia Minor who were settled in the areas contiguous to north-west India" Narain "The Indo-Greeks", p.227
  116. ^ "Of the Sanskrit Yavana, there are other forms and derivatives, viz. Yona, Yonaka, Javana, Yavana, Jonon or Jononka, Ya-ba-na etc... Yona is a normal Prakrit form from Yavana", Narain "The Indo-Greeks", p.228
  117. ^ Tarn, p.391: "Somewhere I have met with the zhole-hearted statement that every Greek in India ended by becoming a Buddhist (...) Heliodorus the ambassador was a Bhagavatta, a worshiper of Vshnu-Krishna as the supreme deity (...) Theodorus the meridrarch, who established some relics of the Buddha "for the purpose of the security of many people", was undoubtedly Buddhist". Images of the Zoroastrian divinity Mithra – depicted with a radiated phrygian cap – appear extensively on the Indo-Greek coinage of the Western kings. This Zeus-Mithra is also the one represented seated (with the gloriole around the head, and a small protrusion on the top of the head representing the cap) on many coins of Hermaeus, Antialcidas or Heliokles II.
  118. ^ "It is not unlikely that "Dikaios", which is translated Dhramaika in the Kharosthi legend, may be connected with his adoption of the Buddhist faith." Narain, "The Indo-Greeks" 2003, p.124
  119. ^ "Menander, the probable conqueror of Pataliputra, seems to have been a Buddhist, and his name belongs in the list of important royal patrons of Buddhism along with Asoka and Kanishka", McEvilley, p.375
  120. ^ "It is probable that the wheel on some coins of Menander is connected with Buddhism", Narain, The Indo-Greeks, p.122
  121. ^ Stupavadana, Chapter 57, v15. Quotes in E.Seldeslachts.
  122. ^ "The extraordinary realism of their portraiture. The portraits of Demetrius, Antimachus and of Eucratides are among the most remarkable that have come down to us from antiquity" Hellenism in Ancient India, Banerjee, p134
  123. ^ "Just as the Frank Clovis had no part in the development of Gallo-Roman art, the Indo-Scythian Kanishka had no direct influence on that of Indo-Greek Art; and besides, we have now the certain proofs that during his reign this art was already stereotyped, of not decadent" Hellenism in Ancient India, Banerjee, p147
  124. ^ "The survival into the 1st century AD of a Greek administration and presumably some elements of Greek culture in the Punjab has now to be taken into account in any discussion of the role of Greek influence in the development of Gandharan sculpture", The Crossroads of Asia, p14
  125. ^ On the Indo-Greeks and the Gandhara school:
    • 1) "It is necessary to considerably push back the start of Gandharan art, to the first half of the first century BC, or even, very probably, to the preceding century.(...) The origins of Gandharan art... go back to the Greek presence. (...) Gandharan iconography was already fully formed before, or at least at the very beginning of our era" Mario Bussagli "L'art du Gandhara", p331–332
    • 2) "The beginnings of the Gandhara school have been dated everywhere from the first century B.C. (which was M.Foucher's view) to the Kushan period and even after it" (Tarn, p394). Foucher's views can be found in "La vieille route de l'Inde, de Bactres a Taxila", pp340–341). The view is also supported by Sir John Marshall ("The Buddhist art of Gandhara", pp5–6).
    • 3) Also the recent discoveries at Ai-Khanoum confirm that "Gandharan art descended directly from Hellenized Bactrian art" (Chaibi Nustamandy, "Crossroads of Asia", 1992).
    • 4) On the Indo-Greeks and Greco-Buddhist art: "It was about this time (100 BC) that something took place which is without parallel in Hellenistic history: Greeks of themselves placed their artistic skill at the service of a foreign religion, and created for it a new form of expression in art" (Tarn, p393). "We have to look for the beginnings of Gandharan Buddhist art in the residual Indo-Greek tradition, and in the early Buddhist stone sculpture to the South (Bharhut etc...)" (Boardman, 1993, p124). "Depending on how the dates are worked out, the spread of Gandhari Buddhism to the north may have been stimulated by Menander's royal patronage, as may the development and spread of the Gandharan sculpture, which seems to have accompanied it" McEvilley, 2002, "The shape of ancient thought", p378.
  126. ^ Boardman, p141
  127. ^ Boardman, p.115
  128. ^ "Those tiny territories of the Indo-Greek kings must have been lively and commercially flourishing places", India: The ancient past, Burjor Avari, p.130
  129. ^ "No doubt the Greeks of Bactria and India presided over a flourishing economy. This is clearly indicated by their coinage and the monetary exchange they had established with other currencies." Narain, "The Indo-Greeks" 2003, p.275
  130. ^ Bopearachchi, "Monnaies", p.27
  131. ^ Rapson, clxxxvi-
  132. ^ a ă Science and civilisation in China: Chemistry and chemical technology by Joseph Needham, Gwei-Djen Lu p.237ff
  133. ^ Tư Mã Thiên, Sử Ký, mục "Đại Uyển liệt truyện"
  134. ^ “Strabo II.3.4‑5 on Eudoxus”. 
  135. ^ "Since the merchants of Alexandria are already sailing with fleets by way of the Nile and of the Persian Gulf as far as India, these regions also have become far better known to us of today than to our predecessors. At any rate, when Gallus was prefect of Egypt, I accompanied him and ascended the Nile as far as Syene and the frontiers of Ethiopia, and I learned that as many as one hundred and twenty vessels were sailing from Myos Hormos for India, whereas formerly, under the Ptolemies, only a very few ventured to undertake the voyage and to carry on traffic in Indian merchandise." Strabo II.5.12
  136. ^ "It is curious that on his copper Zoilos used a Bow and quiver as a type. A quiver was a badge used by the Parthians (Scythians) and had been used previously by Diodotos, who we know had made a treaty with them. Did Zoilos use Scythian mercenaries in his quest against Menander perhaps?" Senior, Indo-Scythian coins, p.xxvii
  137. ^ Photographic reference on a coin of Menander II, circa 90 BCE: Image:MenanderIIQ.jpg
  138. ^ “Polybius 10.49, Battle of the Arius”. 
  139. ^ Mi Tiên vấn đáp (Milinda Panha)
  140. ^ Mi Tiên Vấn Đáp (Milinda Panha)
  141. ^ “Megasthenes Indica”. 
  142. ^ Justin on Demetrius: "Multa tamen Eucratides bella magna uirtute gessit, quibus adtritus cum obsidionem Demetrii, regis Indorum, pateretur, cum CCC militibus LX milia hostium adsiduis eruptionibus uicit. Quinto itaque mense liberatus Indiam in potestatem redegit." Justin XLI,6
  143. ^ On the size of Hellenistic armies, see accounts of Hellenistic battles by Diodorus, books XVIII and XIX
  144. ^ "They are a nation of nomads, moving from place to place with their herds, and their customs are like those of the Xiongnu. They have some 100,000 or 200,000 archer warriors... The Yuezhi originally lived in the area between the Qilian or Heavenly mountains and Dunhuang, but after they were defeated by the Xiongnu they moved far away to the west, beyond Dayuan, where they attacked and conquered the people of Daxia (Bactria) and set up the court of their king on the northern bank of the Gui (Oxus) river" ("Records of the Great Historian", Sima Qian, trans. Burton Watson, p234)
  145. ^ Tarn, p.494
  146. ^ "Though the Indo-Greek monarchies seem to have ended in the first century BC, the Greek presence in India and Bactria remained strong", McEvilley, p.379
  147. ^ "The use of the Greek months by the Sakas and later rulers points to the conclusion that they employed a system of dating started by their predecessors." Narain, "Indo-Greeks" 2003, p.190
  148. ^ "Evidence of the conquest of Saurastra during the reign of Chandragupta II is to be seen in his rare silver coins which are more directly imitated from those of the Western Satraps... they retain some traces of the old inscriptions in Greek characters, while on the reverse, they substitute the Gupta type (a peacock) for the chaitya with crescent and star." in Rapson "A catalogue of Indian coins in the British Museum. The Andhras etc...", p.cli

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Avari, Burjor (2007). India: The ancient past. A history of the Indian sub-continent from c. 7000 BC to AD 1200. Routledge. ISBN 0415356164. 
  • Banerjee, Gauranga Nath (1961). Hellenism in ancient India. Delhi: Munshi Ram Manohar Lal. OCLC 1837954 ISBN 0-8364-2910-9. 
  • Bernard, Paul (1994). "The Greek Kingdoms of Central Asia." In: History of civilizations of Central Asia, Volume II. The development of sedentary and nomadic civilizations: 700 B.C. to A.D. 250, pp. 99–129. Harmatta, János, ed., 1994. Paris: UNESCO Publishing. ISBN 92-3-102846-4.
  • Boardman, John (1994). The Diffusion of Classical Art in Antiquity. Princeton, New Jersey: Princeton University Press. ISBN 0-691-03680-2. 
  • Bopearachchi, Osmund (1991). Monnaies Gréco-Bactriennes et Indo-Grecques, Catalogue Raisonné (bằng tiếng Pháp). Bibliothèque Nationale de France. ISBN 2-7177-1825-7. OBopearachchi.jpg
  • Bopearachchi, Osmund (1998). SNG 9. New York: American Numismatic Society. ISBN 0-89722-273-3. 
  • Bopearachchi, Osmund (2003). De l'Indus à l'Oxus, Archéologie de l'Asie Centrale (bằng tiếng Pháp). Lattes: Association imago-musée de Lattes. ISBN 2-9516679-2-2. 
  • Bopearachchi, Osmund; Smithsonian Institution; National Numismatic Collection (U.S.) (1993). Indo-Greek, Indo-Scythian and Indo-Parthian coins in the Smithsonian Institution. Washington: National Numismatic Collection, Smithsonian Institution. OCLC 36240864. 
  • Bussagli, Mario; Francine Tissot; Béatrice Arnal (1996). L'art du Gandhara (bằng tiếng Pháp). Paris: Librairie générale française. ISBN 2-253-13055-9. 
  • Cambon, Pierre (2007). Afghanistan, les trésors retrouvés (bằng tiếng Pháp). Musée Guimet. ISBN 9782711852185. 
  • Errington, Elizabeth; Joe Cribb; Maggie Claringbull; Ancient India and Iran Trust; Fitzwilliam Museum (1992). The Crossroads of Asia: transformation in image and symbol in the art of ancient Afghanistan and Pakistan. Cambridge: Ancient India and Iran Trust. ISBN 0-9518399-1-8. 
  • Faccenna, Domenico (1980). Butkara I (Swāt, Pakistan) 1956–1962, Volume III 1. Rome: IsMEO (Istituto Italiano Per Il Medio Ed Estremo Oriente). 
  • Foltz, Richard (2000). Religions of the Silk Road: overland trade and cultural exchange from antiquity to the fifteenth century. New York: St. Martin's Griffin. ISBN 0-312-23338-8. 
  • Keown, Damien (2003). A Dictionary of Buddhism. New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-860560-9. 
  • Lowenstein, Tom (2002). The vision of the Buddha: Buddhism, the path to spiritual enlightenment. London: Duncan Baird. ISBN 1-903296-91-9. 
  • Marshall, Sir John Hubert (2000). The Buddhist art of Gandhara: the story of the early school, its birth, growth, and decline. New Delhi: Munshiram Manoharlal. ISBN 81-215-0967-X. 
  • Marshall, John (1956). Taxila. An illustrated account of archaeological excavations carried out at Taxila (3 volumes). Delhi: Motilal Banarsidass. 
  • McEvilley, Thomas (2002). The Shape of Ancient Thought. Comparative studies in Greek and Indian Philosophies. Allworth Press and the School of Visual Arts. ISBN 1-58115-203-5. 
  • Mitchiner, John E.; Garga (1986). The Yuga Purana: critically edited, with an English translation and a detailed introduction. Calcutta, India: Asiatic Society. OCLC 15211914 ISBN 81-7236-124-6. 
  • Narain, A.K. (1957). The Indo-Greeks. Oxford: Clarendon Press. 
    • reprinted by Oxford, 1962, 1967, 1980; reissued (2003), "revised and supplemented", by B. R. Publishing Corporation, New Delhi.
  • Narain, A.K. (1976). The coin types of the Indo-Greeks kings. Chicago, USA: Ares Publishing. ISBN 0-89005-109-7. 
  • Puri, Baij Nath (2000). Buddhism in Central Asia. Delhi: Motilal Banarsidass. ISBN 81-208-0372-8. 
  • Rosenfield, John (1967). The Dynastic art of the Kushans. Berkeley, California: University of California Press. ISBN 81-215-0-579-9 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  • Salomon, Richard. The "Avaca" Inscription and the Origin of the Vikrama Era 102. 
  • Seldeslachts, E. (2003). The end of the road for the Indo-Greeks?. (Also available online): Iranica Antica, Vol XXXIX, 2004. 
  • Senior, R.C. (2006). Indo-Scythian coins and history. Volume IV. Classical Numismatic Group, Inc. ISBN 0-9709268-6-3. 
  • Tarn, W. W. (1938). The Greeks in Bactria and India. Cambridge University Press. 
    • Second edition, with addenda and corrigenda, (1951). Reissued, with updating preface by Frank Lee Holt (1985), Ares Press, Chicago ISBN 0-89005-524-6
  • "Afghanistan, ancien carrefour entre l'est et l'ouest" (bằng tiếng Pháp/English). Belgium: Brepols. 2005. ISBN 2503516815. 
  • 東京国立博物館 (Tokyo Kokuritsu Hakubutsukan); 兵庫県立美術館 (Hyogo Kenritsu Bijutsukan) (2003). Alexander the Great: East-West cultural contacts from Greece to Japan. Tokyo: 東京国立博物館 (Tokyo Kokuritsu Hakubutsukan). OCLC 53886263. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

 
Search Wikimedia Commons
   Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về (thể loại):