Hiệp sĩ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một hiệp sĩ thuộc dòng Black Prince đang diễu hành, tượng đồng 1850

Hiệp sĩ là một từ dùng để chỉ một địa vị của xã hội châu Âu. Hiệp sĩ đứng hàng thấp nhất trong giới quý tộc và vì thế không mang tính chất thừa kế. Vào thời kì Trung Cổ và Hậu Trung Cổ, nhiệm vụ chính của một hiệp sĩ là chiến đấu, đặc biệt là dưới hình thức kị binh hạng nặng. Gần đây, hiệp sĩ đã trở thành một tước hiệu dành cho những người nổi tiếng như Andrew Wiles, Alex Ferguson, Paul McCartney, Elton John hay Edmund Hillary. Mở rộng ra hơn nữa thì từ hiệp sĩ cũng dành cho những người từ những gia đình phong kiến hay chỉ đơn thuần dành cho những người cưỡi ngựa giỏi.

Lịch sử của các hiệp sĩ liên quan đến sự phát triển của xã hội thời đó, điều kiện lịch sử, và kĩ thuật cho phép xuất hiện các loại kị binh nặng.

Nguồn gốc của từ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ "hiệp sĩ" (tiếng Anhknight) có gốc nơi từ tiếng Anh cổ là cniht với nghĩa là một người hầu vào tuổi thiếu niên, hay cũng chỉ có thể có nghĩa đơn giản là một thiếu niên. Do đó, cnithhad (hay knighthood), thời kì hiệp sĩ, cũng có nghĩa là tuổi dậy thì.

Trong một số các ngôn ngữ châu Âu khác, những từ chỉ hiệp sĩ liên quan trực tiếp đến vai trò cưỡi ngựa của họ: trong tiếng Đứcritter, tiếng Hà Lanruiter, cả hai đều có nghĩa là kỵ sĩ.

Một số nơi khác chịu ảnh hưởng của tiếng Latinh, ngựa là caballus, từ đó xuất hiện các từ chỉ hiệp sĩ tương ứng: chevalier (tiếng Pháp), caballero (tiếng Tây Ban Nha), cavaleiro (tiếng Bồ Đào Nha), cavalieri (tiếng Ý).

Ngoài ra, trong xã hội, ít nhất là trong xã hội Hy Lạp, có một sự liên hệ giữa địa vị xã hội và số ngựa mà người ấy có. Những nhà quý tộc lớn nhất thời bấy giờ như chức vụ Hipparchus và nhân vật Xanthippe, đến từ những từ chỉ ngựa άλογο (álogho), ίππος (íppos). Một trong những cái tên thường gặp ở những nhà quý tộc là Philip, có nghĩa là "người thích ngựa". Tiếng Hy Lạp ιππευς (hippeus) mang nghĩa là kỵ sĩ.

Sự hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kì Trung Cổ, một hiệp sĩ không có địa vị xã hội một cách cụ thể. Cho đến thế kỉ thứ 10Pháp, những hiệp sĩ được gọi là miles, chỉ một chiến binh trong thời phong kiến. Một số họ cũng nghèo như nông dân. Tuy nhiên, vai trò của họ tăng lên dần theo thời gian. Họ dần dần giàu lên và bắt đầu chiếm giữ nhiều đất đai hơn. Cuối cùng, đánh nhau trên lưng ngựa cũng trở thành nhiệm vụ của họ.

Đến thế kỉ 12, hiệp sĩ được cho là một người lính mang áo giáp cưỡi ngựa, và trở thành một đẳng cấp được chính thức công nhận và được gọi là esquire. Bởi vì trang bị cho bản thân trên chiến trường với ngựa và áo giáp là rất đắt so với thời ấy cho nên cũng liên quan đến gia tài của họ. Dần dà, những nhà quý tộc, những người lãnh đạo trong thời chiến, bắt đầu phản ứng bằng cách gia nhập vào đẳng cấp mới hình thành ấy. Những nhà quý tộc giàu có cũng đào tạo những người con trai của họ thành những chiến binh và cuối cùng, trở thành hiệp sĩ, nơi mà họ sẽ được vinh danh vào một buổi lễ tấn phong hiệp sĩ. Từ đó trở đi, tất cả những người quý tộc nam đều được mong đợi sẽ trở thành một hiệp sĩ. Các hiệp sĩ thường phải thề phải trung thành với chủ mình, độc thân (hoặc nếu có vợ thì chung thủy), bảo vệ những người Công giáo khác, và luôn tuân theo tất cả các luật lệ của nhà cầm quyền; mặc dù những điều này thay đổi theo từng thời kì.

Đẳng cấp: từ thời vua Henry III của Anh, một hiệp sĩ là một quý tộc cấp thấp, được lãnh đạo bởi một "hiệp sĩ nam tước", lãnh đạo khoảng 10 người và có cờ hiệu riêng nhưng không có những đặc quyền của một nam tước. Sau năm 1296, bất cứ một hiệp sĩ nào cũng có dấu hiệu riêng.

Hai hiệp sĩ vào khoảng thế kỉ 13-14 đang đấu thương (Codex Manesse)

Cùng với sự phát triển của chiến thuật sử dụng bộ binh dùng giáo và cung thủ, vai trò của kị binh, nhất là kị binh nặng bị giảm xuống nhiều. Các nhà quý tộc nhận ra rằng không phải có nhiều kị binh là sẽ chiến thắng mà còn nhờ các yếu tố khác.

Những bộ áo giáp mạ vàng, biểu tượng của hiệp sĩ ra đời vào khoảng thế kỉ 15-16, thường gặp ở những trường đấu. Tên gọi của quân mã trên bàn cờ vua (knight) cũng ra đời vào thời kì này, khoảng 1440. Trong những cuộc thập tự chinh, vai trò của kị binh lại tăng lên rất nhiều, nhưng ở dạng kị binh nhẹ (không mang áo giáp hay chỉ là áo giáp da). Tuy nhiên, kị binh như thế không được cho là hiệp sĩ.

Hiệp sĩ trở thành một tước hiệu bởi triều đình Anh và tách khỏi sự liên quan đến quân đội vào năm 1611 do vua James I của Anh.

Trở thành một Hiệp Sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tranh "Sự tôn vinh" của Edmund Blair Leighton

Trong suốt thời kì trung Cổ, bất cứ ai cũng có thể cũng trở thành một hiệp sĩ nhưng do trang bị rất đắt tiền, hiệp sĩ thường xuất thân từ những gia đình giàu có hay quý tộc. Quy trình trở thành một hiệp sĩ gồm 3 giai đoạn: từ người hầu cho các lãnh chúa, người hầu riêng cho các hiệp sĩ và cuối cùng sau khi qua các đợt huấn luyện sẽ được phong làm hiệp sĩ.

Quá trình bắt đầu vào năm một cậu bé 7 tuổi, cậu bé sẽ được gửi đến nhà một lãnh chúa như một người hầu. Ở đó, cậu bé sẽ học cách cư xử, phép lịch sự, sạch sẽ và tôn giáo từ những người hầu nữ trong gia đình lãnh chúa và học cách săn bắn cùng cách nuôi chim ưng, một số kỹ năng phụ khác như chuẩn bị ngựa, cưỡi ngựa, cách sử dụng tất cả các loại áo giáp và vũ khí.

Đến năm 14 tuổi, cậu bé sẽ đi theo hầu một hiệp sĩ khác. Điều này cho phép cậu bé học thêm nhiều điều khác từ những trận đấu của chủ. Nhiệm vụ chính của cậu bé là chuẩn bị ngựa và binh khí cho chủ nhân. Điều này rèn luyện cho cậu bé tính cách của một kị sĩ: kiên nhẫn, rộng rãi và, nhất là, trung thành. Vị hiệp sĩ kia sẽ chỉ dạy cậu bé mọi điều để trở thành một hiệp sĩ. Khi cậu bé lớn hơn một ít, cậu bé sẽ theo chủ vào chiến trường, và giúp đỡ hiệp sĩ đó nếu họ bị thương. Một số cậu bé đã được phong hiệp sĩ ngay trên chiến trường nhờ sự chiến đấu dũng cảm, nhưng hầu hết chỉ được phong tước hiệp sĩ bởi những lãnh chúa sau khi đã huấn luyện hoàn chỉnh.

Cậu bé sẽ trở thành một hiệp sĩ vào khoảng 18-21 tuổi. Một khi đã hoàn tất việc đào tạo, cậu bé sẽ được phong tước. Khi đó, cậu bé sẽ phải cầu nguyện cả đêm, xưng tội trước ngày phong tước trong một nhà thờ. Sau đó, cậu bé phải tắm rửa sạch sẽ, mặc áo trắng và quần màu vàng, áo khoác tím, rồi được phong tước bởi vua hay lãnh chúa. Vào thời Trung Cổ, cậu sẽ phải thề tuân theo quy định của một kị sĩ, và không bao giờ chạy trốn khỏi chiến trường. Và mọi phụ nữ sẽ gõ nhẹ lên áo giáp của cậu. Cậu cũng có thể được phong tước ngay trên chiến trường, lúc mà lãnh chúa đơn giản chỉ cần đặt tay hay thanh kiếm của mình lên vai của cậu và nói: "Anh là hiệp sĩ".

Sau khi các kĩ thuật quân sự khác được phát triển, vai trò của kị sĩ ngày càng bị áp đảo bởi lính bộ và về sau là súng ống. Từ đó, hiệp sĩ chỉ dành cho một số rất ít người trong giới quý tộc. Hiệp sĩ từ đó chủ còn là một chức vụ mang tính chất danh dự hay chỉ còn là một chức quý tộc nhỏ.

Hiệp sĩ trong thời đại phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp sĩ gắn liền với những triều đại phong kiến. Được tạo thành chủ yếu ở vùng đất về sau được gọi là Pháp, một hiệp sĩ thường được trả công sau các trận đánh bằng đất, nhưng đôi khi cũng bằng tiền. Hiệp sĩ được hỗ trợ về mặt kinh tế bởi những nông dân làm việc trên đất của mình và từ nhà thờ.

Trong thời kì chiến tranh, vua hay nữ hoàng có thể ra lệnh tập trung tất cả các hiệp sĩ vào cuộc chiến, có thể là phòng thủ hay xâm lược các nước khác. Các nhà quý tộc thường thuê những người khác để đi thay cho mình, còn một số khác nói rằng mình không thể đánh nhau.

Về sau, người ta thích quân đội thường xuyên bởi vì họ có thể sử dụng quân đội lâu hơn, chuyên nghiệp hơn và trung thành hơn. Điều này dẫn đến việc các hiệp sĩ được trả lương bằng tiền từ các lãnh chúa và từ đó các hiệp sĩ được phép thu thuế để lấy lương của mình.

Một kị sỹ có quyền mang thắt lưng trắng và quần màu vàng để thể hiện đẳng cấp quý tộc của mình.

Một kị sĩ thời chiến

Những dòng họ hiệp sĩ thừa kế[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Ireland có ba dòng họ hiệp sĩ có thể thừa kế, dòng thứ ba đã mất tích. Đó là:

Điều luật hiệp sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến tranh, một hiệp sĩ phải dũng cảm trong chiến đấu, không bao giờ tìm cách chạy trốn, trung thành với vua của đất nước mình và với Chúa, sẵn sàng hi sinh bản thân cho những điều tốt đẹp hơn. Một hiệp sĩ phải lịch sự, sẵn sàng tha thứ. Đối với những phụ nữ quý tộc, phải luôn vui vẻ và nhẹ nhàng.

Những dòng hiệp sĩ – tu sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Một số khác được hình thành trên bán đảo Iberia như tại Avis (1143), Alcantara (1156), Calatrava (1158), Santiago de Compostela (1164).

Những dòng hiệp sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi những cuộc thập tự chinh thất bại và những ý tưởng về quân sự thành hình và phất triển, những dòng hiệp sĩ phát triển mạnh mẽ vào khoảng thế kỉ 14-15, bao gồm những dòng lớn sau:

Ý nghĩa danh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Vào khoảng 1560, những danh hiệu hiệp sĩ danh dự được thiết lập, được thành lập khác với những danh hiệu dùng trong quân đội. Những danh hiệu như thế rất phổ biến vào thế kỉ 17-18. Danh hiệu hiệp sĩ vẫn còn tồn tại ở:

Những hiệp sĩ hiện đai được phong dựa vào cống hiến của họ cho xã hội. Khi được phong tước, nếu được phong thì tên của họ sẽ được thêm vào từ "Sir" (ngài), nếu là phụ nữ thì là "Dame" (quý bà). Tước chỉ đi với tên, chứ không đi với họ. Ví dụ như Elton John, có thể gọi là Sir Elton hay Sir Elton John chứ không bao giờ là Sir John. Vợ của những hiệp sĩ cũng có tước hiệu "Lady", nhưng sẽ đi với họ của chồng. Ví dụ, vợ của Paul McCartney sẽ được gọi là Lady McCartney chứ không phải là Lady Paul McCartney hay Lady Heather McCartney. Cũng có thể dùng tước hiệu "Dame" để gọi họ, nhưng nó chỉ tồn tại trong những văn bản trang trọng.

Hà Lan cũng có một số dòng họ hiệp sĩ thừa kế, trong đó nổi tiếng nhất là ba dòng Willems-Orde, Orde van de Nederlandse LeeuwOrde van Oranje Nassau.

Ý, Cavalieri là một tước hiệu tương đương.

Trong các tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Hình tượng hiệp sĩ được xây dựng nhiều trong các tác phẩm nghệ thuật:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]