Thái thượng hoàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thái thượng hoàng (chữ Hán:太上皇), hay Thái thượng hoàng đế (太上皇帝), gọi tắt là Thượng hoàng (上皇), là ngôi vị mang nghĩa là "vua bề trên" trong triều đình phong kiến.

Danh hiệu này chỉ được dùng từ khi nhường ngôi cho đến khi qua đời; sau khi qua đời thì dùng miếu hiệu, thụy hiệu.

Khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Thông thường, thái thượng hoàng là một hoàng đế đã nhường ngôi cho con trai, cháu trai, hoặc em trai; tuy lui về làm thái thượng hoàng nhưng vẫn giữ quyền lực tối cao, như các vua nhà Trần, Mạc Thái Tổ, Hồ Quý Ly ở Việt Nam, các vua nhà Tống, Thanh Cao TôngTrung Quốc.

Cũng có trường hợp do buộc phải làm thái thượng hoàng, chỉ còn danh vị chứ không còn quyền lực như Đường Huyền Tông Lý Long Cơ (Trung Quốc) hay vua Lê Dụ Tông bị chúa Trịnh Cương ép phải nhường ngôi, Lê Ý Tông bị Trịnh Doanh ép nhường ngôi cho Lê Hiển Tông (Việt Nam). Các vua Đường Cao Tổ Lý Uyên và Đường Duệ Tông Lý Đán tự mình rút lui, giao toàn bộ triều chính cho các con là Đường Thái TôngĐường Huyền Tông khi các vua mới có thực lực mạnh để cai trị.

Trong lịch sử Việt Nam, nhà Trần là triều đại có truyền thống các hoàng đế nhường ngôi khi con trai đã trưởng thành để về làm thái thượng hoàng. Nhà Hồ cũng theo nếp này và đời vua đầu tiên là Hồ Quý Ly thực hiện việc truyền ngôi lên làm thái thượng hoàng, nhưng triều đại không tồn tại lâu nên không kéo dài được nếp truyền nối.

Những trường hợp đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Do thời Lê trung hưng vừa có vua lại vừa có chúa, đã có một giai đoạn những năm 1740, trong triều đình vừa có vua Lê Hiển Tông vừa có thượng hoàng Lê Ý Tông; đồng thời vừa có chúa Trịnh Doanh vừa có thái thượng vương Trịnh Giang.

Cũng có trường hợp đặc biệt khi một người chưa bao giờ làm hoàng đế nhưng vì có con trai làm hoàng đế nên cũng được tôn là thái thượng hoàng như Lưu Thái công, cha của Hán Cao Tổ Lưu Bang[1] (Trung Quốc) hay Trần Thừa cha của Thái tông Trần Cảnh[2] (Việt Nam).

Thông thường người truyền ngôi cho vua mới trở thành thượng hoàng, nhưng có một trường hợp vua Kim Ai Tông (Hoàn Nhan Thủ Tự) trong hoàn cảnh nguy cấp sắp bị quân Mông Cổ tấn công đến thành trì cuối cùng là Thái châu, biết không cứu vãn được tình thế, đã nhường ngôi cho con là Kim Mạt Đế (Hoàn Nhan Thừa Lân) rồi tự sát vì không muốn bị quân Mông bắt[3]. Tại Việt Nam, trong hoàn cảnh nhà Mạc suy tàn, Mạc Mậu Hợp truyền ngôi cho Mạc Toàn rồi tự mình làm tướng cầm quân mà không xưng thượng hoàng[4].

Khi con làm vua mà cha còn sống thì cha được tôn làm thượng hoàng. Nhưng có một trường hợp cuối đời nhà Thanh, hoàng thân Ái Tân Giác La Tái Thuần (em vua Quang Tự) là cha Tuyên Thống đế Phổ Nghi nhưng đóng vai trò nhiếp chính cho vua nhỏ chứ không làm thái thượng hoàng[5].

Thái thượng hoàng của Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Thái thượng hoàng Thời gian ở ngôi Ghi chú
Nhà Lý Sùng Hiền hầu 1129-1130 Cha của Lý Thần Tông, không rõ tên. Một trong hai Thái thượng hoàng chưa từng làm vua nhưng có con làm vua nên được tôn là thượng hoàng.
Nhà Lý Lý Huệ Tông 1224-1226 Bị Trần Thủ Độ ép nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng lên làm thượng hoàng và đi tu ở chùa Chân Giáo.
Nhà Trần Trần Thái Tổ 1225-1234 Cha của Trần Thái Tông - vua đầu tiên nhà Trần. Một trong hai Thái thượng hoàng chưa từng làm vua nhưng được tôn làm thượng hoàng do có con làm vua.
Nhà Trần Trần Thái Tông 1259-1277 Thượng hoàng thời Trần Thánh Tông.
Nhà Trần Trần Thánh Tông 1278-1293 Thượng hoàng thời Trần Nhân Tông.
Nhà Trần Trần Nhân Tông 1294-1308 Thượng hoàng thời Trần Anh Tông.
Nhà Trần Trần Anh Tông 1308-1320 Thượng hoàng thời Trần Minh Tông.
Nhà Trần Trần Minh Tông 1329-1357 Thượng hoàng thời Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông. Thượng hoàng nắm quyền lâu nhất (29 năm).
Nhà Trần Trần Nghệ Tông 1372-1394 Thượng hoàng thời Trần Duệ Tông, Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông. Thượng hoàng cao tuổi nhất (52 tuổi) và thọ nhất (74 tuổi).
Nhà Trần Trần Thuận Tông 1398-1399 Thượng hoàng thời Trần Thiếu Đế. Thượng hoàng yểu nhất (22 tuổi).
Nhà Hồ Hồ Quý Ly 1401-1407 Thượng hoàng thời Hồ Hán Thương.
Nhà Hậu Trần Giản Định Đế 1409 Thượng hoàng thời Trùng Quang Đế. Thượng hoàng nắm quyền ngắn nhất (4 tháng).
Nhà Hậu Lê Lê Chiêu Tông 1522-1526 Thượng hoàng thời Lê Cung Hoàng.
Nhà Mạc Mạc Thái Tổ 1530-1541 Thượng hoàng thời Mạc Thái TôngMạc Hiến Tông.
Nhà Hậu Lê Lê Thần Tông 1643-1649 Thượng hoàng thời Lê Chân Tông Duy Hưu, sau khi con mất sớm lại làm vua lần thứ hai. Việc này do chúa Trịnh sắp đặt.
Nhà Hậu Lê Lê Hy Tông 1705-1716 Thượng hoàng thời Lê Dụ Tông.
Nhà Hậu Lê Lê Dụ Tông 1729-1731 Thượng hoàng thời Hôn Đức Công Lê Duy Phường.
Nhà Hậu Lê Lê Ý Tông 1740-1758 Thượng hoàng thời Lê Hiển Tông. Thượng hoàng trẻ nhất (22 tuổi).

Thái thượng hoàng của Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Thái thượng hoàng Thời gian ở ngôi Ghi chú
Nhà Tần Tần Trang Tương Vương - Tần Thủy Hoàng truy phong, chưa hề làm Thái thượng hoàng.
Nhà Hán Lưu Thái công 202 TCN - 197 TCN Không rõ tên thật[6]. Người nhà Tần, chưa từng làm vua. Vì có con là Lưu Bang lập nghiệp trở thành hoàng đế nên được tôn làm Thái thượng hoàng. Thái thượng hoàng đầu tiên của Trung Quốc.
Nhà Tây Tấn Tấn Huệ Đế 301 Bị Tư Mã Luân bức ngôi.
Nhà Hậu Lương Lương Ý Vũ Đế 400 Thượng hoàng thời Lương Ẩn Vương. Mất ngay năm 400.
Nhà Bắc Ngụy Ngụy Hiến Văn Đế 471-476 Thượng hoàng thời Ngụy Hiếu Văn Đế. Bị mẹ là Phùng thái hậu ép nhường ngôi cho con khi mới 17 tuổi - là thượng hoàng nhường ngôi trẻ tuổi nhất. Là một trong 2 thượng hoàng bị giết.
Nhà Bắc Tề Bắc Tề Hậu Chủ 577 Thượng hoàng thời Bắc Tề Ấu Chủ. Là thượng hoàng ở ngôi ngắn nhất: 1 tháng trong năm 577 và là một trong 2 thượng hoàng chết trẻ nhất khi 21 tuổi. Tuy nhiên Tề Hậu Chủ bị giết, không chết yểu vì bệnh như Bắc Chu Tuyên Đế.
Nhà Bắc Chu Bắc Chu Tuyên Đế 579-580 Thượng hoàng thời Bắc Chu Tĩnh Đế. Là một trong 2 thượng hoàng yểu thọ nhất: 21 tuổi.
Nhà Tùy Tùy Dạng Đế 617-618 Thượng hoàng thời Tùy Cung Đế, sau tự tử.
Nhà Đường Đường Cao Tổ 626-635 Thượng hoàng thời Đường Thái Tông. Ông tự nguyện thoái vị sau những tranh chấp ngôi Thái tử của các con: con thứ Lý Thế Dân vừa hạ sát thái tử Lý Kiến Thành và có thế lực rất mạnh, mặc dù Thế Dân vẫn rất hiếu thảo và không uy hiếp cha mình.
Nhà Đường Vũ Tắc Thiên 705 Nữ hoàng nhà Vũ Chu. Bị ép nhường ngôi cho Thái tử Vũ Hiển để lập lại nhà Đường, được làm Thái thượng hoàng trong vài tháng thì chết. Nữ hoàng duy nhất và nữ Thái thượng hoàng duy nhất.
Nhà Đường Đường Duệ Tông 712-716 Thượng hoàng thời Đường Huyền Tông.
Nhà Đường Đường Huyền Tông 756-762 Thượng hoàng thời Đường Túc Tông. Do loạn An Sử, Huyền Tông không đủ khả năng đánh dẹp phản quân, phải bỏ kinh thành. Thái tử Lý Hanh tự lên ngôi ở xa và vọng tôn cha làm thượng hoàng rồi dẹp loạn An Sử.
Nhà Đường Đường Thuận Tông 805-806 Thượng hoàng thời Đường Hiến Tông. Do có bệnh không đủ khả năng cầm quyền nên bị hoạn quan ép lên làm thượng hoàng để Hiến Tông lên ngôi, chưa được 1 năm thì qua đời.
Nhà Tống Tống Huy Tông 1126-1127 Thượng hoàng thời Tống Khâm Tông.
Nhà Tống Tống Cao Tông 1162-1187 Thượng hoàng thời Tống Hiếu Tông. Là người làm thái thượng hoàng lâu nhất: 25 năm.
Nhà Tống Tống Hiếu Tông 1189-1194 Thượng hoàng thời Tống Quang Tông.
Nhà Tống Tống Quang Tông 1194 - 1200 Thượng hoàng thời Tống Ninh Tông.
Tây Hạ Tây Hạ Thần Tông 1223-1226 Thượng hoàng thời Tây Hạ Hiến Tông.
Nhà Minh Minh Anh Tông 1449-1457 Thượng hoàng thời Minh Đại Tông. Do bị người Ngõa Thích (Mông Cổ) bắt nên em là Đại Tông lên làm vua. Sau đó trở về được Đại Tông tôn làm thượng hoàng cho tới khi Đại Tông mất thì trở lại ngôi vua.
Nhà Thanh Thanh Cao Tông 1795-1799 Thượng hoàng thời Thanh Nhân Tông. Là thái thượng hoàng nhường ngôi khi cao tuổi nhất: lúc 85 tuổi; cũng là thái thượng hoàng thọ nhất: 89 tuổi.

Thái thượng hoàng của Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Thái thượng hoàng Thời gian ở ngôi Ghi chú
Đế quốc Đại Hàn Hoàng đế Cao Tông 1907-1910 Thuộc dòng dõi vua Đế quốc Đại Hàn, bị con rể là Hoàng đế Cao Tông bức phải nhường ngôi.

Thái thượng hoàng của Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng gia Nhật Bản là triều tại tồn tại lâu đời nhất thế giới với hơn 2600 lịch sử. Các Hoàng đế Trung Hoa xưa thường tự cho mình là Thiên tử (con trời), người Nhật không chịu lép vế tôn xưng vị quân chủ của họ lên 1 mức cao hơn, đó là Thiên hoàng (vua trời). Lúc thoái vị, Thiên hoàng sẽ có danh hiệu là Thái thượng Thiên hoàng (太上天皇, Daijō Tennō), gọi tắt là Thượng hoàng (上皇, Jōkō). Khi Thượng hoàng xuất gia, được đổi thành Thái thượng Pháp hoàng (太上法皇, Daijō Hōō), gọi tắt là Pháp hoàng (法皇, Hōō). Dưới đây là danh sách những vị Thái thượng Thiên hoàng:

  1. Năm 645, Thiên hoàng Kōgyoku Takara nhường ngôi cho em trai là Hoàng tử Karu. Thiên hoàng Kōtoku trị vì được 9 năm thì mất, cựu hoàng Kōgyoku quay trở lại đế vị đổi xưng hiệu thành Thiên hoàng Saimei, bà duy trì quyền lực cho đến khi mất, thọ 68 tuổi.[7][8][9][10][11][12][13][14][15][16]
  2. Năm 697, Thiên hoàng Jitō Unonosarara nhường ngôi cho cháu nội là Thân vương Karu. Bà vẫn tiếp tục nắm việc triều chính cho đến khi mất, thọ 58 tuổi[17][18][19][20][21][22][23]
  3. Năm 715, Thiên hoàng Gemmei Ahe thoái vị nhường ngôi cho con gái là Nội Thân vương Hidaka, bà mất năm 721, thọ 61 tuổi.[24][25][26][27][28][29][30]
  4. Năm 724, Thiên hoàng Genshō Hidaka nhường ngôi cho cháu mình là Thân vương Obito, bà mất năm 748, thọ 65 tuổi.[26][31][32][33][34][35][36]
  5. Năm 758, Thiên hoàng Kōken Abe nhường ngôi cho chú họ xa là Đại Xuy vương Ōi. Tuy nhiên, Thiên hoàng Junnin Ōi chỉ giữ ngôi trong 7 năm thì bị lật đổ.[37][38] Thượng hoàng Kōken được rước về cung phục vị, đổi đế hiệu thành Thiên hoàng Shōtoku, bà trị vì thêm 6 năm nữa thì mất, thọ 52 tuổi.[39][40][41][42][43][44][45]
  6. Năm 781, Thiên hoàng Kōnin Shirakabe nhường ngôi cho con trai là Thân vương Yamabe. Tám tháng sau, ông mất, thọ 73 tuổi.[46][47][48][49][50][51][52]
  7. Năm 809, Thiên hoàng Heizei Ate nhường ngôi cho người em trai khác mẹ là Thân vương Kamino. Một năm sau, ông xuất gia tu hành và mất năm 824, thọ 51 tuổi.[53][54][55][56][57][58][59][60]
  8. Năm 823, Thiên hoàng Saga Kamino bị Hữu đại thần Fujiwara Fuyutsugu bức phải nhường ngôi cho Thái tử Thân vương Ōtomo. Ông sống được 20 năm nữa thì mất, thọ 57 tuổi.[61][62][63][64][65][66][67]
  9. Năm 833, Thiên hoàng Junna Ōtomo nhường ngôi cho người con nuôi, Thái tử Thân vương Masara. Ông sống được 7 năm nữa thì mất, thọ 55 tuổi.[65][68][69][70][71][72][73]
  10. Năm 876, Thiên hoàng Seiwa Korehito nhường ngôi cho người con trai là Thân vương Sadaakira. Năm 879, ông xuất gia được 2 năm thì mất, hưởng dương 32 tuổi.[74][75][76][77][78][79][80]
  11. Thiên hoàng Yōzei
  12. Năm 897, Thiên hoàng Uda Sadami nhường ngôi cho con trai là Atsuhito. Hai năm sau, ông xuất gia, tu hành được 32 năm thì mất, thọ 65 tuổi.[81][82][83][84][85][86]
  13. Năm 946, Thiên hoàng Suzaku Yutaakira nhường ngôi cho em là Thân vương Nariakira. Năm 952, ông xuất gia nhưng mất ngay sau đó, khi đó mới 30 tuổi.[87][88][89][90][91][92]
  14. Năm 969, Thiên hoàng Reizei Norihira nhường ngôi cho em là Thân vương Morihira. Ông sống thêm 43 năm nữa thì mất, thọ 62 tuổi.[93][94][95][96][97][98]
  15. Năm 984, Thiên hoàng En'yū Morihira nhường ngôi cho cháu gọi bằng chú ruột là Thân vương Morosada. Một năm sau, ông xuất gia và mất vào năm 991, hưởng dương 31 tuổi.[99][100][101][102][103][104]
  16. Năm 987, Thiên hoàng Kazan Morosada nhường ngôi cho cháu gọi bằng chú ruột là Hoàng thái tử Yasuhito. Sau đó, ông xuất gia được 23 năm thì mất, hưởng dương 41 tuổi.[105][106][107][108][109][110]
  17. Năm 1011, Thiên hoàng Ichijō Yasuhito nhường ngôi cho Thân vương Okisada. Ông xuất gia và mất sau đó 8 ngày, khi đó mới 31 tuổi.[111][112][113][114][115][116]
  18. Năm 1016, Thiên hoàng Sanjō Okisada bị quần thần bức phải nhường ngôi cho Thân vương Atsuhira. Năm 1017, ông xuất gia chưa đầy một tháng thì mất, lúc đó mới 42 tuổi.[96][117][118][119][120][121]
  19. Năm 1045, Thiên hoàng Go-Suzaku Atsunaga nhường ngôi cho con trai cả là Thân vương Chikahito. Hai ngày sau, ông mất, khi đó mới 37 tuổi.[122][123][124][125][126]
  20. Năm 1073, Thiên hoàng Go-Sanjō Takahito nhường ngôi cho con trai cả là Thân vương Sadahito. Năm tháng sau, ông mất khi đang ở tuổi 40.[113][127][128][129][130]
  21. Năm 1087, Thiên hoàng Shirakawa Sadahito nhường ngôi cho con trai là Thân vương Taruhito. Năm 1096, ông xuất gia nhưng năm 1107 thì trở lại nhiếp chính qua 2 đời Thiên hoàng nữa cho đến khi mất vào năm 1129, thọ 77 tuổi.[131][132][133][134][135]
  22. Năm 1123, Thiên hoàng Toba Munehito nhường ngôi cho con trưởng là Thân vương Akihito. Năm 1142, mặc dù đã xuất gia, ông vẫn gây áp lực buộc Thiên hoàng Sutoku thoái vị, tiếp tục can thiệp triều chính qua 2 đời Thiên hoàng kế tiếp cho đến khi mất vào năm 1156, thọ 54 tuổi.[113][136][137][138][139]
  23. Năm 1142, Thiên hoàng Sutoku Akihito bị cha là Pháp hoàng Toba bức phải nhường ngôi cho người em khác mẹ là Thân vương Narihito. Sau khi Pháp hoàng Toba mất, các quý tộc đại thần ủng hộ Thượng hoàng Sutoku đã làm cuộc binh biến nhằm giành lại ngôi vị cho ông nhưng thất bại. Akihito bị lưu đày và mất năm 1164, hưởng dương 46 tuổi.[140][141][142][143][144]
  24. Năm 1158, Thiên hoàng Go-Shirakawa Masahito nhường ngôi cho con trưởng là Thân vương Morihito, ông vẫn tiếp tục nắm giữ chính sự. Năm 1169, ông xuất gia tu hành. Năm 1179, sau cuộc chính biến bất thành nhằm tước bỏ quyền lực của Thái chính Đại thần Taira no Kiyomori, Pháp hoàng Go-Shirakaaw bị Kiyomori đưa đi an dưỡng ở cung Điểu Vũ. Không cam tâm từ bỏ quyền lực, ông tìm đường nhờ cậy đến gia tộc Minamoto. Năm 1185, Minamoto no Yoritomo, tông chủ của gia tộc Minamoto, đã diệt được gia tộc Taira, Pháp hoàng Go-Shirakaaw phong cho Yoritomo chức vụ Shōgun vào năm 1192. Cũng trong năm đó, ông qua đời, thọ 64 tuổi.[145][146][147][148][149][150]
  25. Năm 1180, Thiên hoàng Takakura Norihito, dưới áp lực của Thái chính Đại thần Taira no Kiyomori, buộc phải nhường ngôi cho Thân vương Tokihito.[151][152][153][154] Hơn 1 năm sau ông tạ thế khi mới 21 tuổi, cùng năm với quyền thần Kiyomori.[155][156]
  26. Năm 1198, Thiên hoàng Go-Toba Takahira, dưới áp lực của Shōgun Minamoto no Yoritomo, buộc phải nhường ngôi cho con trai là Thân vương Tamehito. Mặc dù ông vẫn tiếp tục nắm giữ chính sự trong suốt 3 đời Thiên hoàng sau đó, nhưng sức ảnh hưởng kém đi nhiều bởi sự can thiệp của Mạc phủ Kamakura. Năm 1221, sau cuộc chính biến Jōkyū bất thành, ông bị Mạc phủ đày đi đảo Oki. Tại đây, ông xuất gia làm hòa thượng cho đến khi mất, thọ 60 tuổi.[157][158][159][160][161]
  27. Năm 1210, Thiên hoàng Tsuchimikado Tamehito, dưới sự sắp đặt của cha mình là Thượng hoàng Go-Toba, đã thoái vị nhường ngôi cho em trai là Thân vương Morinari.[162][163][164][165] Năm 1221, sau cuộc chính biến Jōkyū bất thành của Vô thượng hoàng Go-Toba, ông bị Mạc phủ Kamakura đày đến vùng Tosa và ở đó được 10 năm thì mất, hưởng dương 37 tuổi.[166][167][168]
  28. Năm 1221, Thiên hoàng Juntoku Morinari nhường ngôi cho con trai thứ 4 là Thân vương Kanenari mới được 4 tuổi, để cùng cha mình là Thượng hoàng Go-Toba chuẩn bị cho cuộc chính biến lật đổ Mạc phủ Kamakura.[169] Tuy nhiên cuộc "chính biến Jōkyū" bất thành, ông bị Mạc phủ Kamakura đày đến đảo Sado và mất ở đó vào năm 1242 lúc 44 tuổi.[170][171][172][173][174]
  29. Năm 1221, Thiên hoàng Hậu Cao Thương
  30. Năm 1232, Thiên hoàng Go-Horikawa Yutahito nhường ngôi cho con trai cả là Thân vương Mitsuhito mới được 1 tuổi.[175][176][177] Tuy nhiên, do người kế vị còn quá nhỏ, nên ông tiếp tục phụ chính thêm 2 năm nữa rồi mất ở tuổi 22.[178][179]
  31. Năm 1246, Thiên hoàng Go-Saga Kunihito nhường ngôi cho con trai là Thân vương Hisahito mới được 3 tuổi.[180][181] Tuy nhiên, do người kế vị còn quá nhỏ, nên ông tiếp tục phụ chính cho đến khi mất vào năm 1272, thọ 51 tuổi.[182][183]
  32. Năm 1259, do áp lực của vua cha là Thượng hoàng Go-Saga, Thiên hoàng Go-Fukakusa Hisahito nhường ngôi cho em trai là Thân vương Tsunehito. Năm 1290, ông xuất gia tu hành cho đến khi mất vào năm 1304, thọ 61 tuổi.[184][185][186][187]
  33. Năm 1274, Thiên hoàng Kameyama Tsunehito nhường ngôi cho con trai thứ 2 là Thân vương Yohito mới 10 tuổi.[188] Tuy nhiên, do người kế vị còn quá nhỏ, nên ông tiếp tục phụ chính cho đến khi Thiên hoàng Go-Uda thoái vị vào năm 1287.[189] Hai năm sau đó, ông xuất gia và ẩn cư cho đến khi mất vào năm 1305, thọ 56 tuổi.[190][191][192]
  34. Năm 1287, Thiên hoàng Go-Uda, do áp lực của Mạc phủ Kamakura nhường ngôi cho Thái tử, vốn thuộc dòng Jimyōin, là Thân vương Hirohito.[193][194] Tuy nhiên, ông 2 lần quay lại nắm quyền triều chính (1301-1308 và 1318-1321) là những giai đoạn các Thiên hoàng thuộc dòng Daikakuji trị vì. Ông qua đời năm 1324, thọ 56 tuổi.[195][196]
  35. Năm 1298, Thiên hoàng Fushimi Hirohito nhường ngôi cho cho con trai cả là Thân vương Tanehito.[197] Tuy nhiên, ông vẫn nắm quyền triều chính trong những giai đoạn các Thiên hoàng thuộc dòng Jimyōin trị vì (1298-1301 và 1308-1313).[198] Năm 1313, ông xuất gia tu hành[199] và qua đời năm 1317, thọ 52 tuổi.[200]
  36. Năm 1301, thế lực của dòng Daikakuji trỗi dậy, gây áp lực cho cha con Thiên hoàng Go-Fushimi Tanehito, buộc phải nhường ngôi cho Thân vương Kuniharu, một người thuộc dòng Daikakuji. Năm 1313, Thượng hoàng Fushimi xuất gia, nhưng ông vẫn nắm quyền phụ chính cho em mình là Thiên hoàng Hanazono. Năm 1318, ông bị buộc phải thoái ẩn để nhường lại ngôi vị cho dòng Daikakuji. Năm 1333, ông tái xuất gia mất năm 1336, hưởng dương 48 tuổi.[201][202][203][204]
  37. Năm 1318, thế lực của dòng Daikakuji một lần nữa trỗi dậy, gây áp lực với Thiên hoàng Hanazono Tomihito, buộc phải nhường ngôi cho Thân vương Takaharu, một người thuộc dòng Daikakuji. Năm 1335, ông xuất gia và mất năm 1348, thọ 51 tuổi.[205][206][207][208]
  38. Năm 1333, Thiên hoàng Kogon
  39. Năm 1339, Nam triều Thiên hoàng Go-Daigo Takaharu nhường ngôi cho con trai là Thân vương Noriyoshi, Một ngày sau, ông qua đời, thọ 51 tuổi.[209][210][211][212]
  40. Năm 1348, Bắc triều Thiên hoàng Kōmyō Yutahito nhường ngôi cho cháu ruột là Thân vương Okihito, nắm quyền phụ chính. Năm 1351, quân Nam triều chiếm được Kyoto, bắt giam cả 2 Thượng hoàng Kōgon và Kōmyō, cùng Thiên hoàng Sukō. Năm 1355, ông được đưa trở lại Kyoto và quyết định xuất gia. Ông mất năm 1380, thọ 58 tuổi.[213][214][215]
  41. Năm 1351, Thiên hoàng Sukō
  42. Năm 1371, Bắc triều Thiên hoàng Go-Kōgon Iyahito nhường ngôi cho người con trai thứ 2 là Thân vương Ohito. Ông nắm quyền phụ chính cho đến năm 1374, vừa xuất gia được một ngày thì mất, hưởng dương 35 tuổi.[216][217]
  43. Năm 1382, Bắc triều Thiên hoàng Go-En'yū Ohito nhường ngôi cho người con trai cả là Thân vương Motohito. Ông vẫn nắm quyền phụ chính theo truyền thống, dù khi đó chỉ còn trên danh nghĩa vì quyền lực thực tế đã nằm trong tay Mạc phủ Ashikaga. Năm 1393, ông xuất gia và mất ngay ngày hôm ấy, hưởng dương 34 tuổi.[218][219]
  44. Năm 1383, Nam triều Thiên hoàng Chōkei Yutanari nhường ngôi cho người em trai kế là Thân vương Hironari, hai năm sau ông xuất gia. Năm 1394, ông qua đời, thọ 51 tuổi.[220][221][222]
  45. Năm 1412, Thiên hoàng Go-Komatsu Motohito nhường ngôi cho con trai là Thân vương Mihito. Từ đó, ngai vàng thuộc quyền kế vị độc tôn của dòng Jimyōin, ông nắm quyền phụ chính cho đến khi qua đời năm 1433, thọ 56 tuổi.[223][224]
  46. Năm 1464, Thiên hoàng Go-Hanazono Hikohito nhường ngôi cho con trai cả là Thân vương Fusahito, ông nắm quyền phụ chính cho đến khi mất năm 1471, thọ 51 tuổi.[225][226]
  47. Năm 1586, Thiên hoàng Ōgimachi Michihito nhường ngôi cho cháu nội là Thái tử Thân vương Katahito. Ông mất năm 1593, thọ 75 tuổi.[227][228][229]
  48. Năm 1611, Thiên hoàng Go-Yōzei Katahito thoái vị nhường ngôi cho con trai thứ 3 là Thân vương Kotohito để lên làm Thái thượng Thiên hoàng cho đến khi qua đời năm 1617, hưởng dương 45 tuổi.[230][231][232]
  49. Năm 1629, Thiên hoàng Go-Mizunoo Kotohito nhường ngôi cho con gái là Nội Thân vương Okiko.[233] Ông giữ vị trí này cho đến khi mất vào năm 1680, thọ 84 tuổi.[230][234][235]
  50. Năm 1643, Thiên hoàng Meishō Okiko thoái vị nhường ngôi cho em trai là Thân vương Tsuguhito. Ông mất năm 1696, thọ 72 tuổi.[113][230][236][237]
  51. Năm 1663, Thiên hoàng Go-Sai Nagahito nhường ngôi cho em trai là Thân vương Satohito. Ông mất năm 1685, hưởng dương 47 tuổi.[230][238][239]
  52. Năm 1687, Thiên hoàng Reigen Satohito nhường ngôi cho con trai là Thân vương Asahito. Năm 1713, ông xuất gia ẩn cư cho đến khi qua đời năm 1732, thọ 79 tuổi.[230][240][241]
  53. Năm 1709, Thiên hoàng Higashiyama Asahito nhường ngôi cho con trai là Thân vương Yasuhito.[242] Nửa năm sau, ông qua đời, hưởng dương 34 tuổi.[243][244]
  54. Năm 1735, Thiên hoàng Nakamikado Yasuhito nhường ngôi cho con trai cả là Thân vương Teruhito,[245] ông nắm quyền phụ chính cho đến khi qua đời 2 năm sau đó, hưởng dương 35 tuổi.[246][247]
  55. Năm 1747, Thiên hoàng Sakuramachi Teruhito nhường ngôi cho con trai cả là Thân vương Toohito.[248][249] Ba năm sau, ông qua đời, hưởng dương 30 tuổi.[250]
  56. Năm 1770, Thiên hoàng Go-Sakuramachi Toshiko nhường ngôi cho con trai của em mình là Thân vương Hidehito.[251] Tuy nhiên, bà vẫn đóng vai trò phụ chính cho đến khi qua đời năm 1813, thọ 73 tuổi.[230][252]
  57. Năm 1817, Thiên hoàng Kōkaku Tomohito nhường ngôi cho con trai mình là Thân vương Ayahito, giữ vai trò phụ chính cho đến khi qua đời năm 1840, thọ 69 tuổi.[230][253][254][255]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sử ký, Cao Tổ bản kỷ
  2. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, quyển V
  3. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 387
  4. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, quyển XVII
  5. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 517
  6. ^ Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr 46
  7. ^ Nhật Bản thư kỷ, quyển 2426
  8. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 9
  9. ^ Brown, trang265-266
  10. ^ Varley, trang130-132
  11. ^ Titsingh, trang43-47
  12. ^ Nhật Bản kỷ lược, Tiền biên 7-8
  13. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 35
  14. ^ Quốc sử lược, đời 35
  15. ^ Nhật Bản thư kỷ, quyển 25
  16. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 36
  17. ^ Nhật Bản thư kỷ, quyển 30
  18. ^ Varley, sđd, trang 137
  19. ^ Brown, sđd, trang 270
  20. ^ Nhật Bản kỷ lược, Tiền biên 8
  21. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 12
  22. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 41
  23. ^ Titsingh, trang59-60
  24. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 14
  25. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 43
  26. ^ a ă Nhật Bản kỷ lược, Tiền biên 9
  27. ^ Tục Nhật bản kỷ, quyển 6
  28. ^ Varley, sđd, trang 140
  29. ^ Brown, trang 271
  30. ^ Titsingh, trang63-65
  31. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 15
  32. ^ Brown, trang271-272
  33. ^ Titsingh, trang65-67
  34. ^ Tục Nhật bản kỷ, quyển 9
  35. ^ Varley, sđd, trang 141
  36. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 44
  37. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 47
  38. ^ Tục Nhật bản kỷ, quyển 25
  39. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 17-19
  40. ^ Brown, trang274-276
  41. ^ Varley, trang 143-147
  42. ^ Titsingh, trang73-75 và 78-81
  43. ^ Nhật Bản kỷ lược, Tiền biên 10-11
  44. ^ Tục Nhật bản kỷ, quyển 20
  45. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 46 và 48
  46. ^ Brown, sđd, trang 277
  47. ^ Nhật Bản kỷ lược, Tiền biên 12
  48. ^ Tục Nhật bản kỷ, quyển 36
  49. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 20
  50. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 49
  51. ^ Varley, trang147-148
  52. ^ Titsingh, trang81-85
  53. ^ Nhật Bản hậu kỷ, quyển 17 phần 6
  54. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 51
  55. ^ Titsingh, trang 96-97
  56. ^ Varley, sđd, trang 151
  57. ^ Brown, sđd, trang 280-281
  58. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 22
  59. ^ Nhật Bản kỷ lược, Tiền biên 13
  60. ^ Ponsonby-Fane, sđd, trang 318
  61. ^ Nhật Bản hậu kỷ, quyển 30 phần 4
  62. ^ Varley, sđd, trang 163
  63. ^ Brown, sđd, trang 282
  64. ^ Titsingh, trang97-102
  65. ^ a ă Nhật Bản kỷ lược, Tiền biên 14
  66. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 23
  67. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 52
  68. ^ Varley, sđd, trang 164
  69. ^ Brown, sđd, trang 282–283
  70. ^ Titsingh, trang103-106
  71. ^ Nhật Bản hậu kỷ, quyển 40 phần 4
  72. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 24
  73. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 53
  74. ^ Nhật Bản tam đại thực lục, quyển 29
  75. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 56
  76. ^ Nhật Bản kỷ lược, Tiền biên 18
  77. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 28
  78. ^ Varley, sđd, trang 170
  79. ^ Brown, sđd, trang 288-289
  80. ^ Titsingh, sđd, trang 122
  81. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 31
  82. ^ Brown, trang 289-290
  83. ^ Varley, trang175-179
  84. ^ Titsingh, trang125-129
  85. ^ Nhật Bản kỷ lược, Tiền biên 20
  86. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 59
  87. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 61
  88. ^ Brown, sđd, trang 295
  89. ^ Varley, sđd, trang 130
  90. ^ Titsingh, trang134-138
  91. ^ Nhật Bản kỷ lược, Hậu biên 2
  92. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 33
  93. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 63
  94. ^ Brown, sđd, trang 298
  95. ^ Varley, sđd, trang 190
  96. ^ a ă Titsingh, sđd, trang 155
  97. ^ Nhật Bản kỷ lược, Hậu biên 5
  98. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 35
  99. ^ Brown, sđd, trang 300
  100. ^ Varley, trang191-192
  101. ^ Titsingh, trang144-148
  102. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 64
  103. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 36
  104. ^ Nhật Bản kỷ lược, Hậu biên 7
  105. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 37
  106. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 65
  107. ^ Nhật Bản kỷ lược, Hậu biên 8
  108. ^ Brown, trang300-302
  109. ^ Varley, trang 192
  110. ^ Titsingh, trang148-149
  111. ^ Brown, sđd, trang 306-307
  112. ^ Titsingh, sđd, trang 154
  113. ^ a ă â b Varley, sđd, trang 44
  114. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 66
  115. ^ Nhật Bản kỷ lược, Hậu biên 11
  116. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 38
  117. ^ Brown, sđd, trang 307
  118. ^ Varley, sđd, trang 195
  119. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 39
  120. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 67
  121. ^ Nhật Bản kỷ lược, Hậu biên 12
  122. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 69
  123. ^ Brown, sđd, trang 311
  124. ^ Titsingh, sđd, trang 162
  125. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 41
  126. ^ Varley, trang 197
  127. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 71
  128. ^ Brown, sđd, trang 314-315
  129. ^ Titsingh, sđd, trang 169
  130. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 43
  131. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 44
  132. ^ Titsingh, sđd, trang 171
  133. ^ Varley, sđd, trang 202
  134. ^ Brown, sđd, trang 316
  135. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 72
  136. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 46
  137. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 74
  138. ^ Titsingh, sđd, trang 181-182
  139. ^ Brown, sđd, trang 320–322
  140. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 47
  141. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 75
  142. ^ Varley, trang204-205
  143. ^ Brown, trang322-324
  144. ^ Titsingh, trang181-185
  145. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 49
  146. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 77
  147. ^ Varley, trang205-208
  148. ^ Titsingh, trang188-190
  149. ^ Kitagawa, sđd, trang 783
  150. ^ Brown, sđd, trang 327
  151. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 52
  152. ^ Brown, trang329-330
  153. ^ Varley, trang212
  154. ^ Titsingh, trang194-195
  155. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 80
  156. ^ Kitagawa, sđd, trang 784
  157. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 82
  158. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 54
  159. ^ Brown, trang334-339
  160. ^ Varley, trang215-220
  161. ^ Titsingh, trang207-221
  162. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 55
  163. ^ Brown, trang339-341
  164. ^ Varley, trang 220
  165. ^ Titsingh, trang221-230
  166. ^ Ponsonby-Fane, sđd, trang 87
  167. ^ Takekoshi, sđd, trang 186
  168. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 83
  169. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 56
  170. ^ Bornoff, sđd, trang 193
  171. ^ Brown, trang341-343
  172. ^ Varley, trang221-223
  173. ^ Titsingh, trang 230-238
  174. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 84
  175. ^ Brown, trang344-349
  176. ^ Varley, trang226-227
  177. ^ Titsingh, trang238-241
  178. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 58
  179. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 86
  180. ^ Varley, trang228-231
  181. ^ Titsingh, trang245-247
  182. ^ Đại Nhật Bản, quyển 60
  183. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 88
  184. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 61
  185. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 89
  186. ^ Varley, trang231-232
  187. ^ Titsingh, trang248-253
  188. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 90
  189. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 62
  190. ^ Ponsonby-Fane, sđd, trang 422
  191. ^ Varley, trang232-233
  192. ^ Titsingh, trang253-261
  193. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 63
  194. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 91
  195. ^ Varley, sđd, trang 237
  196. ^ Titsingh, trang262-269
  197. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 92
  198. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 64
  199. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Titsingh279
  200. ^ Varley, sđd, trang 241
  201. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 65
  202. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 93
  203. ^ Varley, trang238-239
  204. ^ Titsingh, trang274-275
  205. ^ Varley, trang239-241
  206. ^ Titsingh, trang278-281
  207. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 67
  208. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 95
  209. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 68-69
  210. ^ Varley, trang241-269
  211. ^ Titsingh, trang281-286 và 290-294
  212. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 96
  213. ^ Sử tịch tập lãm, Quang Minh thiên hoàng
  214. ^ Titsingh, sđd, trang 315
  215. ^ Titsingh, trang294-298
  216. ^ Sử tịch tập lãm, Hậu Quang Nghiêm thiên hoàng
  217. ^ Titsingh, trang302-309
  218. ^ Sử tịch tập lãm, Hậu Viên Dung thiên hoàng
  219. ^ Titsingh, trang310-316
  220. ^ Ponsonby-Fane, sđd, trang 128
  221. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 98
  222. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 71
  223. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 100
  224. ^ Titsingh, trang320-327
  225. ^ Titsingh, sđd, trang 351 và 356
  226. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 102
  227. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 106
  228. ^ Quốc sử lược, đời 106
  229. ^ Titsingh, trang382-402
  230. ^ a ă â b c d đ Meyer, sđd, trang 186
  231. ^ Titsingh, sđd, trang 410
  232. ^ Quốc sử lược, đời 107
  233. ^ Quốc sử lược, đời 108
  234. ^ Titsingh, sđd, trang 411 và 414
  235. ^ Ponsonby-Fane, sđd, trang 114
  236. ^ Titsingh, sđd, trang 412
  237. ^ Quốc sử lược, đời 109
  238. ^ Titsingh, sđd, trang 414
  239. ^ Quốc sử lược, đời 111
  240. ^ Titsingh, sđd, trang 415
  241. ^ Quốc sử lược, đời 112
  242. ^ Quốc sử lược, đời 113
  243. ^ Meyer, sđd, trang 45–46
  244. ^ Titsingh, sđd, trang 416
  245. ^ Quốc sử lược, đời 114
  246. ^ Ponsonby-Fane, sđd, trang 118
  247. ^ Titsingh, sđd, trang 417
  248. ^ Titsingh, trang417-418
  249. ^ Quốc sử lược, đời 115
  250. ^ Meyer, sđd, trang 47
  251. ^ Titsingh, trang419
  252. ^ Quốc sử lược, đời 117
  253. ^ Quốc sử lược, đời 119
  254. ^ Bản triều lược sử, quyển 3
  255. ^ Titsingh, trang420-421