Tống Ninh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Ninh Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Songlinzong.jpg
Tranh vẽ Tống Ninh Tông.
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 11941224
Tiền nhiệm Tống Quang Tông
Kế nhiệm Tống Lý Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Cung Thục hoàng hậu Hàn thị
Cung Thánh Nhân Liệt hoàng hậu Dương thị
Tào mĩ nhân
Hậu duệ Kỳ quốc công chúa[1]
Tên thật Triệu Khoách (趙擴)
Niên hiệu
Thụy hiệu Pháp thiên Bị đạo Thuần đức Mậu công Nhân văn Triết vũ Thánh duệ Cung Hiếu hoàng đế
(法天備道純德茂功仁文哲武聖睿恭孝皇帝)
Miếu hiệu Ninh Tông (寧宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Tống Quang Tông
Thân mẫu Từ Ý hoàng hậu Lý Phượng Nương
Sinh 18 tháng 11, 1168
Mất 18 tháng 9, 1224
Trung Quốc
An táng Vĩnh Mậu Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Tống Ninh Tông (chữ Hán: 宋寧宗, 18 tháng 11, 1168 - 18 tháng 9, 1224), thụy hiệu đầy đủ là Pháp Thiên Bị Đạo Thuần Đức Mậu Công Nhân Văn Triết Vũ Thánh Duệ Cung Hiếu hoàng đế (法天備道純德茂功仁文哲武聖睿恭孝皇帝), tên thật là Triệu Khoáng (趙擴), là hoàng đế thứ 13 của nhà Tống và cũng là hoàng đế thứ 4 của nhà Nam Tống trong lịch sử Trung Hoa.

Tống Ninh Tông là con trai của Tống Quang Tông, vua thứ 13 của triều Tống. Dưới hai triều vua Hiếu Tông, Quang Tông; Triệu Khoáng được phong một số chức tước danh dự trong triều đình nhưng chưa bao giờ được lập làm hoàng thái tử. Vào năm 1194, sau khi thượng hoàng Tống Hiếu Tông mất, Tống Quang Tông lấy cớ ốm yếu bệnh tật nên không làm, các đại thần Triệu Nhữ Ngu (赵汝愚) và Hàn Thác Trụ (韓侂胄) cùng Hiến Thánh Ngô thị Thái hoàng Thái hậu buộc Quang Tông phải thoái vị và nhường ngôi cho Triệu Khoáng. Triệu Khoáng đăng cơ, tức là Tống Ninh Tông, còn Quang Tông lui về cung Thọ Khang làm Thái thượng hoàng.

Tống Ninh Tông là ông vua rất trọng văn hóa, khuyến khích việc học, dùng những người có thực học để làm quan. Thời kỳ này, việc chính trị tương đối ổn định. Tuy nhiên, thời kỳ của ông lại khó khăn về kinh tế, nạn tham nhũng, lạm phát,...và chi phí vào việc quân đội để chống lại cuộc xâm lược liên miên của nhà Kim. Những năm đầu triều đại của ông chứng kiến sự thất thế của tể tướng Triệu Nhữ Ngu và sự lộng quyền của gian thần Hàn Thác Trụ. Hàn Thác Trụ nắm quyền, bài xích chính sĩ, coi chính học của Chu Tử là Ngụy học, ra sức ngăn cấm khiến cho chính học thất thế một thời, lại hãm hại trung lương, mua quan bán tước, không việc xấu gì không làm. Từ năm 1206, Hàn Thác Trụ cho rằng nước Kim ở phía bắc đã suy yếu nên quyết định tiến hành cuộc bắc phạt Khai Hi, nhưng lại gặp thất bại, quân Kim thừa cơ phản công, áp sát Trường Giang. Sau đó Thác Trụ bị phe đảng do Sử Di Viễn đứng đầu giết chết. Triều Tống rốt cục phải chấp nhận kí kết với người Kim bản hòa ước Gia Định, theo đó giữ nguyên biên giới hiện tại nhưng tiền triều cống phải tăng lên 30 vạn, Tống phải dùng lễ bá phụ đối với Kim. Nhưng không được bao lâu sau thì nước Kim bị Mông Cổ ở phía bắc xâm lược, thế lực suy yếu nên Ninh Tông quyết định bỏ việc triều cống, khiến chiến tranh giữa hai nước lại nổ ra. Cuộc chiến lần này chứng kiến sự thắng thế của quân Tống, nhiều cuộc tấn công xuống phía nam của nước Kim bị thất bại; triều Tống còn thừa cơ chiếm được một số đất ở bờ bắc sông Hoài, nhưng ranh giới hai nước vẫn không có sự thay đổi đáng kể.

Những năm cuối thời Ninh Tông chứng kiến sự tiếm quyền của tể tướng Sử Di Viễn. Cộng thêm hậu cung của Tống Ninh Tông không sinh được con trai khiến ông phải chọn con cháu trong tông thất làm hoàng tự. Sau khi người con nuôi thứ nhất của Ninh Tông là Vinh vương Triệu Tuân qua đời (1220), Ninh Tông quyết định chọn Triệu Hoằng làm người kế vị. Năm 1224, Ninh Tông băng hà ở tuổi 57. Sử Di Viễn giả mạo chiếu chỉ phế truất hoàng tử Hồng, đưa Triệu Quân (趙昀) lên nối ngôi, tức là Tống Lý Tông.

Thời Hiếu Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Khoáng là con trai thứ hai của Tống Quang Tông Triệu Đôn, mẫu thân của ông là Từ Ý hoàng hậu Lý Phượng Nương. Lúc Quang Tông còn là Cung vương, Lý hậu từng mộng thấy mặt trời rơi xuống chỗ mình và bà đã lấy tay nắm lấy. Ngày Bính Ngọ tháng 10 năm Càn Đạo thứ 4 thời Tống Hiếu Tông (18 tháng 11 năm 1168), Lý hậu hạ sinh Triệu Khoáng ở phủ Cung vương[2]. Tháng 5 ÂL năm sau (1169), ông được Tống Hiếu Tông ban tên là Khoáng. Ngày Ất Sửu tháng 11 ÂL, được phong chức Hữu Thiên Ngưu Vệ đại tướng quân.

Năm 1171, phụ thân Triệu Khoáng tức Cung vương Triệu Đôn được Hiếu Tông lập làm hoàng thái tử[3]. Ngày Mậu Ngọ tháng 10 ÂL năm Thuần Hi thứ 5 (1178) cũng dưới thời Hiếu Tông được dời làm Minh châu quan sát sứ, tước Anh Quốc công. Tháng 2 ÂL năm thứ 7 (1170) Triệu Khoáng lên 9 tuổi và bắt đầu được đi học. Ngày Kỉ Tị tháng 9 năm thứ 10 (1183) ông được dự triều tham. Năm thứ 11 (1184), Triệu Khoáng đã 17 tuổi, đáng lí sẽ phải ra ở phủ đệ bên ngoài, nhưng thái thượng hoànghoàng đế vì yêu quý ông nên vẫn để ông ở trong cung, xây cho ông phủ đệ ở bên cạnh đông cung (nơi ở của thái tử)[2], đến ngày Giáp Tuất tháng 10 ÂL thì ông được chuyển vào đó ở.

Ngày Ất Dậu tháng 3 năm thứ 12 (1185), được đổi làm An Khánh quân tiết độ sứ, tước Bình Dương quận vương. Ngày Tân Dậu tháng 8 cùng năm, ông thành thân với phu nhân Hàn thị[2], con cháu dòng dõi tể tướng thời Tống Nhân TôngHàn Kì.

Thời Quang Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Nhâm Tuất tháng 2 ÂL năm thứ 16, Hiếu Tông nhường ngôi cho Quang Tông, lên làm thái thượng hoàng[4]. Ngày Kỉ Hợi tháng 3 ÂL cùng năm, Triệu Khoáng được phong làm Thiếu bảo, Vũ Ninh quân tiết độ sứ, tiến tước Gia vương[2]. Mùa xuân năm Thiệu Hi nguyên niên (1190), tể tướng Lưu Chính dâng biểu xin lập Triệu Khoáng làm thái tử. Mùa đông năm 1191, Lý hậu nhân lúc có yến tiệc cũng xin Quang Tông lập thái tử là Gia vương Khoáng sau đó đích thân đến cung Trùng Hoa bẩm với Thọ hoàng[5]. Thọ hoàng nghĩ đến việc trước kia bỏ qua con trưởng là Ngụy vương Khải để lập Quang Tông làm thái tử, nên nay muốn Quang Tông nhường ngôi lại cho con của Khải là Nghi vương Bính, nên không đồng ý lập Khoáng. Lý hậu cũng vì thế sinh hiềm khích với Thọ hoàng[6] và xúi giục Quang Tông bỏ việc triều yết cung Trùng Hoa.

Tháng 5 ÂL năm 1194, Thọ hoàng bệnh tình nguy kịch, rất muốn gặp Quang Tông, đã sai tả hữu đến triệu nhiều lần[7]. Mãi về sau, các đại thần La Điểm, Bành Quy Niên, Hoàng Thường khuyên Quang Tông cho Gia vương đến cung Trùng Hoa thăm hỏi, Quang Tông mới chuẩn y. Gia Vương đến nơi, Thọ hoàng tỏ ra xúc động, nước mắt chảy dài.

Đêm Mậu Tuất tháng 6 ÂL năm Thiệu Hi thứ 5 (28 tháng 6 năm 1194), Thọ hoàng băng hà ở cung Trùng Hoa[8]. Lưu ChínhTriệu Nhữ Ngu liên danh mời Quang Tông đến cung Trùng Hoa chịu tang. Quang Tông thoạt đầu đồng ý, nhưng hôm sau quá trưa vẫn không ra ngoài. Sau đó Gia vương Khoáng cũng dâng sớ cầu xin, Quang Tông không hồi đáp. Lưu Chính phải dẫn trăm quan đến yết kiến Thọ Thánh hoàng thái hậu Ngô thị (vợ Cao Tông, về sau tôn là thái hoàng thái hậu), xin thái hậu lấy thân phận người mẹ mà làm chủ tang[7]. Thái hậu không đồng ý, Lưu Chính tâu

Bọn chúng thần mấy ngày hôm nay đã nhiều lần xin gặp mặt rồng nhưng không được. Nay lại đưa trăm quan đến xin lần nữa mà hoàng đế cứ không ra. Nếu bách quan cùng nhau khóc lóc ở trước cửa cung thì chỉ sợ nhân tâm xao động, xã tắc buồn phiền. Xin y theo cố sứ thời Đường Túc Tông[9], quần thần phát tang ở điện Thái Cực, hoàng đế mặc đồ tang và ở trong cung. Nhưng đám tang thì không thể không có người làm chủ, tể thần không dám tự nhận lấy. Thái hoàng thái hậu là mẫu thân của Thọ hoàng thì xin thay mặt tế điện lễ, đảm nhận việc lớn này.

Thái hoàng thái hậu bằng lòng và cho phát tang ở điện Thái Cực[7]. Ngày hôm đó có một luồng khí màu trằng bay lên trời. Sau đó Quang Tông tôn hoàng thái hậu thành thái hoàng thái hậu, thái thượng hoàng hậu là hoàng thái hậu nhưng xa giá cứ không ra ngoài. Đại thần Diệp Thích bảo Lưu Chính

Hoàng thượng bị bệnh không muốn chịu tang thì lấy gì mà từ tạ thiên hạ đây? Nay Gia vương tuổi đã trưởng thành, chi bằng xin cho tham quyết đại sự, đó là thích hợp nhất.

Lưu Chính thấy phải, liền suất tể chấp vào tâu

Hoàng tử Gia vương là người nhân hiếu, xin sớm chính vị hoàng trữ để yên lòng dân.

Quang Tông không đáp. Mãi đến lần xin thứ sáu, Quang Tông mới phê hai gọn lỏn hai chữ: rất tốt. Quần thần muốn có lời phê rõ rằng hơn, Quang Tông mới ghi thêm 8 chữ: đã lâu lắm rồi chỉ muốn nghỉ ngơi[7]. Lưu Chính đọc xong cảm thấy sợ hãi. Lưu Chính cùng Triệu Nhữ Ngu bàn bạc, ý của Lưu Chính là cho Gia vương làm thái tử chấp chính, Triệu Nhữ Ngu muốn Quang Tông phải nhường ngôi. Lưu Chính không biết làm thế nào, nên một hôm lên triều giả vờ bị ngã rồi nhân đó lấy cớ già yếu xin từ chức. Lưu Chính đi rồi, lòng người không yên. Một hôm lúc Quang Tông lên triều, bỗng cảm thấy mệt mỏi rồi ngã xuống đất bất tỉnh. Tả tư lang Từ Nghị cười Triệu Nhữ Ngu chỉ biết đứng nhìn thời cuộc, nên Nhữ Ngu hỏi bây giờ phải làm gì. Từ Nghị khuyên Nhữ Ngu mời cháu rể thái hoàng thái hậu là Hàn Thác Trụ đến thuyết phục thái hoàng thái hậu cho Gia vương nối ngôi. Khi Hàn Thác Trụ đến nơi, Nhữ Ngu mời vào yết kiến thái hoàng thái hậu để tấu thỉnh. Thái hoàng thái hậu không cho. Nhueng có nội thị Quan Lễ cũng thuyết phục hết lời, thái hoàng thái hậu mới chịu. Quan Lễ báo với Thác Trụ rằng ngày mai sáng sớm thái hoàng thái hậu sẽ buông rèm chấp chính[7]. Thác Trụ báo với Nhữ Ngu. Nhữ Ngu mời thêm Trần Quỳ, Dư Doan Lễ đến gặp, sai điện soái Quách Cảo nhân đêm tối đem binh chia ra bảo vệ đại nội nam bắc, quan lễ sử Phó Xương được lệnh bí mật làm hoàng bào. Ngày hôm đó, Gia vương sai người đến cáo xin nghỉ không lên triều vào ngày hôm sau. Nhữ Ngu bảo

Buối cúng tế là việc lớn, Vương không thể không ra ngoài

Ngày hôm sau, quần thần có mặt đông đủ, Gia vương cũng mặc áo tang đến. Triệu Nhữ Ngu cùng trăm quan đến gặp thái hoàng thái hậu đang ngồi trong rèm, xin để Gia vương lên ngôi hoàng đế. Chiếu viết

Hoàng đế có bệnh, đến nay vẫn không thể chịu tang, từng đã ghi ngự bút muốn lui về nghỉ ngơi. Hoàng tử Gia vương Khoáng lên ngôi hoàng đế. Tôn hoàng đế là thái thượng hoàng đế, hoàng hậu là thái thượng hoàng hậu, dời sang cung Thái An.

Thái hoàng thái hậu đồng tình. Bọn Nhữ Ngu lại xin rằng từ rày về sau sẽ tâu việc với tự quân, xin thái hoàng thái hậu làm chủ giải quyết hiềm nghi giữa hai cung cha con. Thái hoàng thái hậu lệnh Ngữ Nhu lập Gia vương lam đế. Gia vương từ chối

Sợ mang tiếng bất hiếu[7].

Nhữ Ngu bảo

Thiên tử phải lấy cái việc an xã tắc, định quốc gia mới là hiếu. Nay trong ngoài đều lo lắng, vạn nhất sinh biến thì thái thượng hoàng cũng mang vạ.

Rồi sai nội thị thay hoàng bào cho Gia vương, đưa Gia vương lên ngự ngai vàng, Nhữ Ngu và trăm quan cùng nhau bái lạy chúc mừng. Tự hoàng lên điện vẫn khóc rất thảm thương. Đó là ngày 24 tháng 7 năm 1194. Vua mới xưng là Ninh Tông hoàng đế, xá thiên hạ. Triệu Nhữ Ngu mời Lưu Chính trở về chấp chính, trong ngoài mừng rỡ, hết cảnh băn khoăn lo lắng. Ngày hôm sau (Ất Sửu), thái hoàng thái hậu hạ lệnh lập Sùng Quốc phu nhân Hàn thị - cháu 6 đời của cố tướng Hàn Kì - làm hoàng hậu[10].

Làm hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Thác Trụ đoạt quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên ngôi, Ninh Tông xuống chiếu cầu lời nói thẳng. Giáo thư lang Thái Ấu Học dâng tấu trình bày ba điều quan trọng của việc làm vua là sự thân, nhiệm hiền và khoan dân, được Ninh Tông khen ngợi. Ông dùng Triệu Nhữ Ngu làm Hữu thừa tướng, Trần Quỳ làm Tri Xu mật viện sự, Dư Đoan Lễ làm Tham tri chính sự, nhưng Nhữ Ngu cho rằng mình thuộc dòng dõi hoàng thất nên từ chối tướng vị, mấy hôm sau được đổi làm Xu mật sứ, còn La Điểm làm Thiêm thư xu mật viện sự. Còn Hàn Thác Trụ là ngoại thích (cháu rể thái hoàng thái hậu) nên chỉ được Triệu Nhữ Ngu tiến cử lên chức Nhữ châu phòng ngự sứ[7], khiến Thác Trục rất thất vọng. Nhiều đại thần như Từ Nghi, Diệp Thích khuyên Nhữ Ngu phải đề phòng Thác Trụ nhưng Nhữ Ngu không theo. Trong khi đó thì Chu Hi được triệu vào triều làm Hoán chương các đãi chế kiêm Thị giảng, vào Kinh diên để giảng chính sự cho Ninh Tông, ngoài ra còn có Hoàng Thường, Trần Truyền Lương, Bành Quy Nhiên cùng làm Thị giả. Trên đường về kinh, Chu Hi dâng sớ bài xích việc dùng tông thân và ngoại thích, khuyên Ninh Tông coi trọng chính nhân chi sĩ, Ninh Tông bề ngoài tán thưởng nhưng mọi việc vẫn không có gì khác trước. Chu Hi cũng cảm nhận được như vậy nên xin nhận chức khác, Ninh Tông không nghe[11].

Hàn Thác Trụ ý công nên ngày càng kiêu ngạo quá đáng. Một hôm lúc các quan chấp chính đang nghị sự thì Thác Trụ vào bộ đường đòi tham gia và bị Lưu Chính đuổi cổ phải ra về. Không lâu sau Lưu ChínhTriệu Nhữ Ngu không đồng nhất ý kiến về việc xây sơn lăng cho Hiếu Tông, Thác Trụ nhân cơ hội gièm pha Lưu Chính với Ninh Tông. Kết quả là Ninh Tông hạ chiếu bãi chức Tả thừa tướng của Lưu Chính[12] và phong Triệu Nhữ Ngu làm Hữu thừa tướng. Nhữ Ngu tuy bất đồng ý kiến với Lưu Chính nhưng thực ra vẫn muốn cộng sự với ông, nay thấy Thác Trụ gièm pha đến nỗi Lưu Chính mất chức thì tỏ ra rất tức giận, sau nhờ có La Điểm can ngăn nên sự việc mới tạm dịu đi, nhưng Thác Trụ vẫn rất hận Ngữ Nhu không tiến cử mình.

Ít lâu sau La ĐiểmHoàng Thường qua đời. Ninh Tông theo tiến cử của Hàn Thác Trụ, dùng Kinh Thang làm Thiêm thư xu mật viện sự[7]. Triệu Nhữ Ngu cho rằng Kinh Thang không có tài chấp chính nhưng Ninh Tông không nghe và từ đó Kinh Đường cũng oán Nhữ Ngu. Lúc này Tri Cáp môn Lưu Nhược Bật khuyên Thác Trụ đưa người vào Thai gián để tìm cách bài xích Nhữ Ngu. Thác Trụ bèn đưa Lưu Đức Tú làm Giám sát ngự sử, Tạ Thâm Phủ làm Ngự sử trung thừa, Lưu Tam KiệtLý Mộc cũng đưa vào thai gián. Chu Hi thấy vậy nên thường cùng Bành Quy Nhiên khuyên ngăn Ninh Tông, lại khuyên Nhữ Ngu đưa Thác Trụ ra ngoài để trừ hậu hoạn, Nhữ Ngu không nghe. Hữu chính ngôn Hoàng Độ dâng sớ tố cáo Hàn Thác Trụ là kẻ gian tà. Thác Trụ biết được, bèn đày Hoàng Độ ra làm tri phủ Bình Giang. Lúc này Thác Trụ thấy Chu Hi mỗi lúc giảng sách thường đàn hặc mình trước mặt Ninh Tông, nên rất oán hận, và gièm pha với Ninh Tông rằng Chu Hi là kẻ giảo hoạt. Ninh Tông bèn giáng chức Hoán chương các đãi chế và thị giảng của Chu Hi. Các đại thần Trần Phó Lương, Lưu Quang Tổ, Đặng Dịch, Ngô Hiệp, Tôn Phùng Cát, Du Trọng Hồng ... đều dâng sớ xin giữ lại Chu Hi, Ninh Tông không nghe và còn bãi chức của Phó Lương và Quang Tổ. Triệu Nhữ Ngu tìm cách lấy lại tờ chiếu rồi cũng vào triều can ngăn xin Ninh Tông hủy chiếu nhưng Ninh Tông chẳng nghe.

Tháng 10 ÂL năm 1194, Ninh Tông cho đổi niên hiệu, lấy năm tiếp theo (1195), gọi là Khánh Nguyên nguyên niên[7]. Lại phong cho Hàn Thác Trụ làm Xu mật Đô thừa chỉ, Dư Đoan LễĐặng Kiều Đông làm tri Xu mật viện sự, Kinh Thang Tham tri chính sự. Các đại thần như tri Xu mật viện Trần Quỳ, Giám sát ngự sử Lưu Đức Tú, ... do đàn hặc Thác Trụ cũng bị bãi chức luôn, Triệu Nhữ Ngu ngày càng bị cô lập giữa triều đình. Tháng 2 năm 1195, Kinh Thang lại bàn với Hàn Thác Trụ cách lật luôn Triệu Nhữ Ngu. Hai người bảo bí thư giám Lý Mộc - người vốn thù ghét Nhữ Ngu đứng ra dâng sớ nói Nhữ Ngu là tông thân nếu làm tể tướng thì bất lợi cho xã tắc. Nhữ Ngu nghe tin liền ra Chiết Giang đình chờ tội. Ninh Tông bãi Nhữ Ngu thành Quan Văn điện đại học sĩ, tri Phúc châu[13]. Mấy hôm sau, Tạ Thâm Phủ lại dâng sớ nói Nhữ Ngu mạo nhận tướng vị khiến Nhữ Ngu bị giáng làm Đề cử Đỗng Tiêu cung. Trực học sĩ viện Trịnh Thực không muốn thảo chiếu bãi miễn Triệu thừa tướng liền bị miễn quan. Binh bộ thị lang Chương Dĩnh và Thái phủ Tự thừa Lã Tổ Kiệm nói giúp Nhữ Ngu cũng bị bãi chức. Quốc tử tế tửu Lý Tường, bác sĩ tế tửu Dương Giản đều dâng sớ bênh vực Nhữ Ngu nhưng không được hồi đáp. Tháng 4 ÂL, Ninh Tông đổi dùng Dư Đoan Lễ làm Hữu thừa tướng, Trịnh Kiều làm Tham tri chính sự, Kinh Thang làm tri Xu mật viện sự, Tạ Thâm Phủ làm Thiêm thư Xu mật viện sự. Mấy hôm sau, sáu thái học sinh Dương Hoành Trung, Chu Đoan Triều, Trương Thủ, Lâm Trọng Lân, Tưởng Truyền, Từ Phạm cùng nhau quỳ ở cửa khuyết xin giữ lại Triệu thừa tướng và trừng phạt Lý Mộc liền bị đày đi 500 dặm.

Hàn Thác Trụ chuyên chính[sửa | sửa mã nguồn]

Dư Đoan Lễ được phong chức Tả thừa tướng (1196) nhưng lại cảm thấy uất ức vì không cứu được Triệu Nhữ Ngu và cũng do Hàn Thác Trụ chèn ép nên nhanh chóng xin bãi chức, được phong Quan Văn điện đại học sĩ, Đề cử Đỗng tiêu cung. Kinh Thang được phong làm Hữu thừa tướng, Hàn Thác Trụ được phong Bảo Ninh tiết độ sứ, Đề cử Vạn Thọ quan, Tạ Thâm Phủ làm Tham tri chính sự, Trịnh KiềuHà Đạm nắm giữ Xu mật viện[13]Từ đó [[Hàn Thác Trụ nắm quyền lớn, ngang ngược bất pháp, khiến sĩ đại phu đều căm giận, nhiều người đã bày tỏ thái độ chống đối trước triều đình, trong đó có Chu Hi. Thác Trụ giận lắm, liền cùng Kinh Thang bài xích đạo học và gọi là Ngụy học. Hữu chính ngôn Lưu Đức Tú dâng sớ xin sát hạch để phân định đúng sai, không nên tùy tiện gặp học thuyết gì cũng gán cho cái danh ngụy học. Lúc này Triệu Nhữ Ngu lại bị bọn Hà Đam, Hồ Hoành đàn hặc là tụ tập ngụy đảng, mưu đồ thoán nghịch ... và bị giáng làm Ninh Viễn quân tiết độ phó sứ, an trí ở Vĩnh châu, Từ Nghi cũng bị đày ra Nam An quân, về sau ông bị người của Hàn Thác Trụ làm nhục, uất ức mà qua đời[14] (1196). Ninh Tông cho phục nguyên chức, cho an táng theo lễ đại thần. Lưu Chính lúc này lại bị Lưu Đức Tú hặc tội và tiếp tục bị giáng quan. Tháng 4 ÂL năm 1196, Hà Đạm được lên làm Tham tri chính sự, Diệp Chứ làm Thiêm thư Xu mật viện sự.

Vào năm 1196, Kinh Thang liệt kê những chính nhân quân tử, gọi họ là đồng đảng tuyên truyền Ngụy học, xin trị tội. Trung thư xá nhân Uông Nghĩa Đoan dẫn chuyện Lý Lâm Phủ thời nhà Đường, xin diệt trừ các danh sĩ của Ngụy học . Thái hoàng thái hậu khuyên Ninh Tông bỏ chuyện bè đảng, nên có chiếu lệnh Thai gián chớ nên truy cứu chuyện cũ, nhưng Hàn Thác Trụ vẫn tiếp tục bài xích Ngụy học, liên tiếp sai phe đảng gồm bọn Hồ Hoành, Thiệu Bao Nhiên dâng sớ bài xích tố cáo. Từ thời điểm này, triều đình chuyển sang dùng khoa cử tuyển chọn quan lại. Các sách như Lục kinh, Đại học, Luận Ngữ, Trung dung, Mạnh Tử đều bị cấm cả. Vào cuối năm 1196, Hồ Hoành lại hặc tội Chu Hi. Nguyên trước kia Hoành chưa được làm quan đã từng học ở chỗ Chu Hi, Chu Hi cho Hoành ăn cơm hẩm nên Hoành rất oán hận, bèn giật dây cho ngự sử Thẩm Kế Tổ dâng sớ kể mười tội của Chu Hi và học trò là Thái Nguyên Định. Có chiếu bãi bỏ quan tước Chu Hi, đày Thái Nguyên Định ra Đạo châu[13]. Sau đó còn Dư Bí xin giết Chu Hi, tận diệt Ngụy học nhưng Tạ Thâm Phủ nói Chu Hi không có tội lớn gì, vì thế Chu Hi mới bảo toàn được tính mệnh.

Tháng 11 ÂL năm 1197, thái hoàng thái hậu Ngô thị qua đời ở cung Tư Thọ ở tuổi 83, di chiếu nói thượng hoàng đau ốm nên hoàng đế phục tang trong năm tháng, Ninh Tông quyết định phục tang trong một năm, tôn thụy cho thái hoàng thái hậu là Hiến Thánh Từ Liệt[13]. Đầu năm 1198 Vương Duyện ở Miên châu lại dâng sớ xin trị tội những người thuộc Ngụy học, Ninh Tông nghe theo. Tổng cộng trong lần này có tới 59 người mắc tội, trong đó có 4 đại thần từng giữ chức tể tướng: Lưu Chính, Triệu Nhữ Ngu, Chu Tất Đại, Vương Lận và còn nhiều đại thần giữ các chức vụ quan trọng khác nữa; tất cả đều bị bãi chức, cấm túc. Lúc này trong triều đâu đâu cũng là phe đảng của Hàn Thác Trụ. Năm 1198, Thác Trụ được phong làm Thiếu sư, ban ngọc đái, sang năm 1199 nhận tước Bình Nguyên quận vương[15]. Tháng 8 ÂL cùng năm, triều đình bổ nhiệm Tạ Thâm Phủ làm tri Xu mật viện, Hứa Cập người nịnh bợ Hàn Thác Trị làm đồng tri xu mật viện sự.

Năm 1200, Ninh Tông phong cho Kinh Thang làm Tả thừa tướng, Tạ Thâm Phủ làm Hữu thừa tướng, Hà Đạm tri Xu mật viện kiêm Tham tri chính sự, Trần Tự Cường làm Thiêm thư Xu mật viện sự[15]. Tháng 3 ÂL năm đó, trong khi lệnh cấm Ngụy học ngày một gắt gao thì Chu Hi mắc bệnh qua đời ở tuổi 71. Tháng 6 ÂL năm này, thái thượng hoàng hậu Lý thị băng hà, thọ 56 tuổi, tôn thụy hiệu Từ Ý. Tháng 8 ÂL, thái thượng hoàng cũng mất ở cung Thọ Khang, thọ 54 tuổi, miếu hiệuQuang Tông[15]. Mấy hôm sau, Tả thừa tướng Kinh Thang qua đời. Khi đó có ẩn sĩ Lã Tổ Thái (em của Lã Tổ Kiệm) đánh trống dâng thư trước điện, xin giết Hàn Thác Trụ, trừng trị bọn Trần Tự Cường, Tô Sư Đán. Triều đình bàn luận xôn xao. Trình Tùng là bạn Tổ Thái cùng thị ngự sử Trần Đảng dâng sớ nói Tổ Thái ăn nói bừa bãi. Tổ Thái bị đánh 100 trượng, thích chữ vào mặt, đày ra Khâm châu. Tháng 10 ÂL năm này, Hàn Thác Trụ được phong làm thái phó, sang năm 1201 được tấn phong thái sư, Bình chương quân quốc trọng sự. Tháng 11 ÂL năm 1200, hoàng hậu Hàn thị qua đời, thụy là Cung Thục hoàng hậu. Năm 1201, Ninh Tông xá thiên hạ, cải niên hiệu là Gia Thái[15].

Tháng 7 ÂL năm 1201, Hà Đạm] bị bãi chức do mất lòng Hàn Thác Trụ, Trần Tự Cường được phong làm Tham tri chính sự, Trương Phủ làm Thiêm thư xu mật viện sự. Tô Sư Đán vốn là gia thần được Hàn Thác Trụ tín nhiệm cũng ngoi được lên chức Xu mật viện đô thừa chỉ đầu năm 1202[16]. Đến tháng 9 ÂL, Trần Tự Cường được thăng chức Xu mật viện sự, Hứa Cập làm Tham tri chính sự. Lúc này Ninh Tông bàn đến chuyện lập kế hậu. Từ sau khi Cung Thục hoàng hậu qua đời, trong cung có hai phi tần được sủng ái là Dương quý phi và Tào mĩ nhân. Dương quý phi thông thuộc kinh sử, tính cách cần mẫn nhạy bén, còn Tào mĩ nhân dịu dàng nhu thuận. Ý Ninh Tông muốn lập Dương quý phi, nhưng Hàn Thác Trụ lại muốn lập Tào thị. Ninh Tông không nghe, vẫn lập Dương quý phi làm hoàng hậu. Do việc này mà Dương hậu sinh oán hận với Thác Trụ[16].

Lúc này Tạ Thâm Phủ liên tục xin từ chức, Ninh Tông lưu lại nhiều lần mà không được. Đến tháng giêng năm 1203, có chiếu bãi chức Hữu thừa tướng, cho Thâm Phủ được trí sĩ. Mấy hôm sau, Tham tri chính sự Trương Nham cũng bị bãi chức, thay vào đó là Trần Tự CườngViên Thuyết Hữu (nhưng chỉ được 7 tháng thì mất chức). Đến tháng 5 ÂL, nhờ sự tiến cử của Hàn Thác Trụ mà Tự Cường được lên chức Hữu thừa tướng[16]. Tháng 9 ÂL lấy Phí Sĩ Dần làm Tham tri chính sự, Trương Hiếu Đồng tri xu mật viện sự. Năm 1204, Chu Tất Đại qua đời, được ban thụy là Văn Trung[17].

Khai Hi bắc phạt[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Khai Hi bắc phạt

Năm 1203, Đặng Hữu Long đi sứ nước Kim trở về tấu rằng nước Kim suy yếu, Kim chủ Cảnh hôn dung nhu nhược bên ngoài có Mông Cổ quấy nhiễu vùng biên, trong nước dân tình khốn khổ, trong triều có sủng phi lộng thần nắm quyền, sẽ mau chóng mất nước. Hàn Thác Trụ nghe tin, rất vui mừng và tích cực chuẩn bị đánh Kim, khôi phục Trung Nguyên. Ngay mùa đông năm đó, Thác Trụ dùng Tham tri chính sự Trương Nham suất quân Hoài Đông, Đồng tri Xu mật viện Trình Tùng xuất quân Hoài Tây, Khâu Sùng giữ Minh châu, Tân Khí Tật cầm quân ở Chiết Đông, Lý Dịch làm Kinh Ngạc đô thống kiêm tri Tương Dương, bề ngoài nói là đề phòng giặc cướp gây hấn nhưng thực chất là chuẩn bị bắc phạt. Lại thêm cí Tân Khí Tật, Trịnh Hữu Long phụ hòa vào, nên ý muốn bắc phạt của Thác Trụ càng mạnh[16].

Để bắt đầu việc bắc phạt, Thác Trụ cho truy phong Nhạc PhiHàn Thế Trung. Trước đó vào thời Hiếu Tông, Hàn Thế Trung được truy phong làm Đan vương, Nhạc Phi chỉ được ban thụy Vũ Mục. Nay Thác Trụ cho lập miếu của Thế Trung, truy phong Nhạc Phi là Ngạc vương, Lưu Quang Thế là Phu vương (1204)[18]. Lại truy đoạt quan tước của Tần Cối, cải thụy là Mậu Sửu[19]. Thác Trụ sai Hứa Cập Chi trấn giữ Kiến Khang, Phí Sĩ Dần giữ Hưng Nguyên nhưng cả hai không chịu liền bị bãi chức. Thác Trụ dùng Trương Hiếu Bá, Trương Nham làm Tham tri chính sự, Tiền Tượng Tổ đồng tri Xu mật viện sự. Vào tháng 12 ÂL năm 1204, Trần Tự Cường xin theo khuôn khổ thời Tống Hiếu Tông, lập ti Quốc dụng để kiểm soát tài chính. Ninh Tông nghe theo, dùng Trần Tự Cường, Phí Sĩ Dần, Trương Nham đứng đầu ti này. Hộ bộ thượng thư Lý Đại Tín dâng thư can gián nên bị Hàn Thác Trụ điều ra phủ Bình Giang. Ba kẻ kia nắm được ti Quốc dụng và ra sức vơ vét tiền của nhân dân khiến châu quận tao động. Thác Trụ tiếp tục cho đào sông, mở đường, chế tạo vũ khí, rèn luyện quân đội ... chuẩn bị tiến lên miền bắc.

Năm 1205, Ninh Tông cải nguyên là Khai Hi[18]. Tháng 4 ÂL, Ninh Tông phong Tiền Tượng Tổ làm Tham tri chính sự, Lưu Đức Tú Thiêm thư Xu mật viện sự. Lấy Hoàng Phủ Bân làm tri phủ Tương Dương, thất lộ chiêu thảo phó sứ, Quách Nghê làm Tri phủ Dương châu kiêm Sơn Đông, Kinh Đông chiêu phủ sứ, Tô Sư Đán làm An Viễn quân tiết độ sứ, Cáp Môn sự. Có Võ học sinh Hoa Nhạc dâng thư xin chém đầu hai tên gây hấn Hàn Thác Trụ, Tô Sư Đán, liền bị đày ra phủ Kiến Ninh. Trong khi đó hậu cung của Ninh Tông ó sinh hoàng tử nhưng đều không nuôi được nên Ninh Tông chọn một số trẻ trong tông thất vào cung nuôi dưỡng, dự phòng sau này có người kế vị. Giữa năm 1205, một trong các trẻ đó là Vệ quốc công Triệu Nghiêm được lập làm hoàng tử, tấn phong Vinh vương[18].

Ở miền bắc, Kim chủ Cảnh cho triệu triều thần đến bàn về việc triều Tống điều động quân mã. Hoàn Nhan Khuông nói

Khôi phục Trung Nghĩa bảo tiệp quân, gia tăng quân số, cải nguyên Khai Hi, tất là Tống có ý muốn lấy Trung Nguyên.

Kim chủ nghe theo, liền sai Bộc Tán Quỹ làm Hà Nam tuyên phủ sứ, đưa quân đến Biện Kinh phòng ngự Trung Quốc. Lúc này Hàn Thác Trụ được tiến phong Bình chương quân quốc trọng sự, ba ngày lên triều một lần. Triều đình lại dùng Khâu Sùng làm Giang Hoài tuyên phủ sứ, Trình Tùng làm Tứ Xuyên tuyên phủ sứ, Ngô Hi làm phó sứ, Tân Khí Tật làm Lưỡng Chiết An phủ sứ, [Quách Nghê]] làm Trấn Giang đô thống, tri Dương châu, lệnh các nơi gia tăng quân số. Lúc Bộc Tán Quỹ đưa quân tới Biện đã sai sứ trách cứ triều Tống về việc phản bội minh ước Long Hưng trước kia, Tống triều trả lời rằng tăng quân để đề phòng giặc cướp, Bộc Tán Quỹ mới thượng tấu xin tạm bãi Hà Nam tuyên phủ ti[18]. Kim chủ hỏi ý quần thần, Hoàn Nhan KhuôngNgột Thạch Liệt Tử Nhân nói triều Tống bội ước, không thể tin tưởng được, Kim vẫn giữ quân ở Biện nhưng lại án binh bất động. Quân Tống bắt đầu tấn công vào Hà Bắc, giành thắng lợi một số trận. Vào đầu năm 1206, Trần Cảnh Tuấn đi sứ nước Kim chúc mừng Chánh đán. Kim chủ Cảnh vốn không có ý dùng binh nên bảo Cảnh Tuấn

Đầu những năm Đại Định, Thế Tông cho Tống làm nước cháu, trẫm tới nay vẫn luôn ghi nhớ. Hiện nay nước ngươi nhiều lần xâm phạm biên cảnh, trẫm mới phái đại thần tuyên phủ Hà Nam thì Tống nói là công đánh bọn Di địch, trẫm liền bãi tuyên phủ ti. Quần thần nhiều lần dâng thư xin đề phòng, trẫm nghĩ tình hòa hảo lâu năm, cho rằng Đại Tống hoàng đế là cháu có việc chưa rõ nên tạm thời chưa hỏi đến. Khanh về nước, nói lại những lời này.

Cảnh Tuấn về báo với Trần Tự Cường. Từ Cường giấu việc không nói, và tiếp tục tuyển binh. Lúc sứ Kim là Triệu Chi Kiệt đến tông, Hàn Thác Trụ lệnh Lễ tán quan thách đấu bằng cách xúc phạm Kim chủ, Chi Kiệt tức giận vào triều hỏi nguyên do. Chu Chất nói sứ Kim vô lễ phải chém, Ninh Tông không nghe và cho Chi Kiệt trở về. Chi Kiệt giận dữ bỏ về nước. Tiền Tượng Tổ dâng sớ nói lúc này chưa nên dùng binh với Kim, Thác Trụ không nghe và bãi chức Tượng Tổ[18], sau đó dùng Ngô Hi làm Thiểm Tây, Hà Đông chiêu phủ sứ, Quách Nghê làm Sơn Đông, Kinh, Lạc chiêu phủ sứ, Triệu Thuần kiêm chức Kinh Tây Bắc lộ chiêu phủ sứ. Quân Tống khởi đầu thuận lợi, lấy được của Kim bốn châu tân Tức, Bảo Tín, Dĩnh Thượng, Hồng Huyền. Thác Trụ sai Trực học sĩ Lý Bích thảo chiếu phạt Kim. Bên Kim, Kim chủ dùng Bộc Tán Quỹ làm Tả phó nguyên soái, Hoàn Nhan Khuông làm Hữu phó nguyên soái cùng các tướng trấn giữ các vùng hiểm yếu. Quân Tống do Quách Nghê chỉ huy tiến đánh Túc châu nhưng bị người Kim đánh bật ra, phải lui về Kì châu[18]. Hoàng Phủ Bân công đánh Đường châu cũng bị tướng Kim đánh bại. Lý Sảng ở Thọ châu, Vương Đại Tiết đánh Thái châu, Thích Xuân đánh Bi châu đều bị tan tác. Lúc này Ngô Hi ở đất Thục lại mưu phản, sai người đến nước Kim đầu hàng, cầu phong, tình nguyện dâng bốn châu ở Thiểm Tây là Giới, Thành, Hòa, Phượng. Kim chủ lúc này ý quyết xuất binh. Về phần Hàn Thác Trụ thấy quân Tống liên tục thua trận thì lo lắng, bèn bãi chức Đặng Hữu Long, lấy Khâu Sùng làm Lưỡng Hoài tuyên phủ sứ, đóng ở Dương châu[18]. Thác Trụ lại hối hận vì đã dùng binh, cứ oán hận Tô Sư Đán đề nghị bậy bạ nên theo lời Lý Bích mà bãi chức Sư Đán, tịch thu gia sản, an trí ở Thiều châu; lấy Trương Nham làm tri Xu mật viện sự, Lý Bích làm Tham tri chính sự. Tháng 8 ÂL năm đó, triều đình trị tội các tướng bại trận, trong đó Quách Trác bị chém đầu ở Trấn Giang, những người còn lại đều bị lưu đày.

Tháng 11 ÂL năm 1206, Bộc Tán Quỹ phân quân thành chín lộ đánh xuống phía nam. Đích thân Bộc Tán Quỹ đem ba vạn quân xuất phát từ Dĩnh, Thọ, Hoàn Nhan Khuông với 25000 quân xuất phát từ Đường, Đặng; Ngột Thạch Liệt Tử Nhân đem 30000 quân từ Qua Khẩu, Hồ Sa Hổ đem 20000 quân Sơn Đông xuất phát từ cửa Thanh Hà, Hoàn Nhan Sung với 10000 quân Quan Trung xuất phát từ Trần Thường, 10000 Kì, Lũng quân của Bồ Sát Trinh xuất phát từ Thành Kỉ, Hoàn Nhan Cương đem 10000 quân Hán, Phàn xuất phát từ Lâm Đàm, Thạch Mạ Trọng Ôn đem 5000 quân Lũng Hữu xuất phát từ Diêm Xuyên. Hoàn Nhan Lân đem 5000 quân xuất phát từ Lai Viễn[18]. Hồ Sa Hổ nhanh chóng vượt Hoài Hà tiến vào đất Tống, vây khốn Sở châu, Hoàn Nhan Khuông phá Tảo Dương quân, Bộc Tán Quỹ đoạt Dĩnh Khẩu, hạ An Phong quân và huyện Hoắc Khâu, đánh sang Hợp Phì, Ngột Thạch Liệt Tử Nhân phá Trừ châu, cả Giang Hoài rúng động. Triệu Thuần cho đốt Phàn Thành rồi lui quân về phía nam. Quân Kim lại phá Tín Dương quân và Tùy châu, Hòa châu, Thành châu, Chân châu, bao vây Tương Dương, lấy phủ Đức An. Thái hoàng thái hậu phải xuất 1000000 mân tiền khao tướng sĩ chư lộ để khích lệ. Hàn Thác Trụ bí thế nên phong cho Khâu Sùng làm Thiêm thư Xu mật viện sự, đốc soái Giang Hoài binh mã. Khi đó Quách Nghê đưa quân cứu Chân châu nhưng thất bại, quân tan rã; phó tướng Tất Tái Ngộ đưa quân đến Lục Hợp chống cự. Tử Nhân thúc quân đánh tiếp, Tái Ngộ dùng phục binh ở Nam Môn, phá tan quân Kim. Hôm sau, Tử Nhân lại đánh thành, Tái Ngộ dùng kế lấy tên của địch để đánh địch, liền cho vác cờ lớn quanh thành, quân Kim cứ chăm chắm bắn vào, thế là đã dâng vô số mũi tên cho quân Tống. Quân Tống lấy tên đó bắn lại, quân của Tử Nhân thua trận liên tục. Khâu Sùng lúc này vẫn quyết tâm cố giữ Lưỡng Hoài thay vì rút về giữ Trường Giang theo đề nghị của chư tướng. Về phía quân Kim, Bộc Tán Quỹ thấy không thể đánh nhanh thắng nhanh nên sinh ra mệt mỏi, nảy ra ý giảng hòa, mới sai Hàn Nguyên Tĩnh sang trại quân Tống bàn định. Khâu Sùng cũng sai sứ yêu cầu văn thư nghị hòa và các điều khoản. Bộc Tán Quỹ muốn triều Tống xưng thần, cắt đất, nộp đầu kẻ gây sự, Khâu Sùng trả lời bọn Tô Sư Đán đã bị cách chức, Bộc Tán Quỹ nói

Hàn Thác Trụ nếu không muốn dùng binh thì Tô Sư Đán có dám gây sự không. Rõ ràng các vị đang lừa ta[18].

Rồi sai Vương Văn về báo. Khâu Sùng sai sứ sang trại Kim, hứa trả lại Hoài Bắc và tiền triều cống trong năm. Về phần Bộc Tán Quỹ cũng cảm thấy thủy thổ Giang Nam không thích hợp, muốn dưỡng quân, nên tạm đồng ý lui quân về Hạ Thái.

Lúc này ở đất Thục, Ngô Hi làm phản, tự xưng Thục vương, dâng đất tứ châu Giới, Thành, Hòa, Phượng cho Kim. Trình Tùng đang phải đối phó người Kim nên sai người cầu viện Hi. Lúc biết Ngô Hi đã hàng, Trình Tùng sợ lắm nên viết thư xin Ngô Hi thương tình cung cấp cho tiền bạc để sắm sửa thuyền bè chạy trốn, sau đó chạy về nam[18].

Đầu năm 1207, Khâu Sùng sai người về triều báo về đòi hỏi giết kẻ chủ mưu của Bộc Tán Quỹ. Hàn Thác Trụ giận quá liền bãi chức tuyên phủ sứ của Khâu Sùng, dùng Trương Nham lên thay[20]. Trong lúc đó quân Kim lại chuẩn bị đánh tiếp, đã phá Giai châu, đánh Tương Dương. Ở đất Thục, tên bán nước Ngô Hi đã lệnh bộ tướng Lợi Cát đưa quân Kim vào Thiểm, lại dâng bản đồ của bốn châu, lấy Tiền Sơn làm giới hạn. Hi lấy Hưng châu là hành cung, đổi niên hiệu, sắp đặt trăm quan y hệt như một tiểu triều đình. Hi lại chia 100000 quân của mình ra 10 đội, đặt thống soái, cho [[Lộc Kì, Phòng Đại Huân giữ Vạn châu, ngầm hẹn với người Kim cùng giáp công vào Tương Dương, dùng Tùy quân chuyển vận sứ An Bính làm Thừa tướng trưởng sử. Nhưng An Bính lại là một trung thần, không chịu được sự gian trá phản chủ của Hi, nên tìm cách chống lại. Triều đình lúc này cử Dương Phụ đến làm Tứ Xuyên chế trí sứ thay cho Trình Tùng cũng bị Ngô Hi đuổi đi[20]. Nhưng ở mặt trận Giang Hoài tình hình đã khởi sắc. Mùa xuân năm 1207, Bộc Tán Quỹ bị bệnh rồi chết, các cánh quân do Hoàn Nhan Khuông chỉ huy do không hợp thủy thổ nên dịch bệnh bùng phát phải lui về Biện. Về đất Thục, An Bính đã liên kết được với Tưởng Cự Nguyện, Lý Hảo Nghĩa, Dương Quân Ngọc, Lý Khôn Thần ... tổng cộng 18 người cùng nhau hợp sức diệt nghịch tặc. Nhân đêm tối, Hảo Nghĩa dẫn người xông vào ngụy cung, giết chết Ngô Hi, rồi tôn An Bính là Quyền Tứ Xuyên tuyên phủ sứ, chở thủ cấp của Hi cùng những ấn tín sắc phong của người Kim về triều. Ninh Tông hạ lệnh dâng cúng thủ cấp Ngô Hi ở thái miếu rồi bêu ngoài chợ ba ngày, lại đoạt quan tước của phụ thân Hi là Ngô Định, giết vợ con của Hi, dời con cháu Ngô Lân ra đất Thục, Lân vẫn được thờ trong miếu, riêng con cháu Ngô Giới được miễn truy xét[20], phía tây đã yên ổn trở lại. Tháng 3 ÂL năm đó, triều đình cho chém ngụy Tứ Xuyên đô chuyển vận sứ Từ Cảnh Vọng ở Lợi châu, lấy Dương Phụ, An Bính làm Tứ Xuyên tuyên phủ sứ và phó sứ, Hứa Dịch làm tuyên dụ sứ. Hàn Thác Trụ lúc này đã quyết định sai Phương Tín Nhụ đi sứ nước Kim bàn việc nghị hòa. Lúc đó Bộc Tán Quỹ đã chết, Ngột Thạch Liệt Tử Nhân đòi thủ cấp kẻ gây sự nhưng Tín Nhụ không trả lời, liền bị bắt giữ. Tín Nhụ vẫn tỏ ra bất khuất, Ngột Thạch Liệt Tử Nhân không làm gì được, đành cho đưa Tín Nhụ đến Biện gặp tể tướng nước Kim Hoàn Nhan Sùng Hạo. Sùng Hạo yêu cầu triều Tống xưng thần cắt đất và nộp đầu kẻ chủ mưu. Tín Nhụ vẫn không chịu, Sùng Hạo không biết làm gì nên sai Tín Nhụ về nước, tâu lên và quyết xem nên hòa hay chiến. Triều đình được tin, lại cử Lâm Củng Thần làm thông tạ sứ, cùng Tín Nhụ sang Kim lần nữa, cầm theo 100 vạn tiền thông tạ. Hoàn Nhan Sùng Hạo vẫn quyết liệt đòi triều Tống chấp hành các điều khoản đã nêu. Trong lúc đó ngoài chiến trường, quân của An Bính đã lấy lại được Đại Tản quan, Tín Nhụ được sai cầm phúc thư quay về, trong thư xưng thần, giữ nguyên biên giới Hoài Hà; hoặc nếu vẫn muốn làm nước cháu thì phải cắt Lưỡng Hoài lấy Trường Giang làm ranh giới, đồng thời nộp đầy kẻ gây sự, tăng thuế năm vạn, một ngàn vạn tiền khao quân sĩ.

Hòa ước Gia Định[sửa | sửa mã nguồn]

Phương Tín Nhụ về báo việc người Kim muốn có thủ cấp của Hàn Thác Trụ khiến Thác Trụ nổi nóng, bãi quan của Tín Nhụ[20], lại dùng Triệu Thuần làm Tuyên Hoài chế trí sứ thay Trương Nham trấn giữ Giang Hoài vào tháng 9 ÂL, chuẩn bị bắc phạt một lần nữa. Trăm họ trước đây vì việc bắc phạt của Thác Trụ đã phải chịu rất nhiều khổ cực, đến đây nghe Thác Trụ lại muốn dùng binh thì trong ngoài đều oán hận. Lễ bộ thị lang Sử Di Viễn là con của Sử Hạo mật tấu xin Ninh Tông trừ bỏ kẻ gian ác. Lại thêm Dương hậu ở trong cung cũng rất oán Thác Trụ, bèn sai hoàng tử Vinh vương Nghiêm dâng sớ đàn hặc Thác Trụ. Ninh Tông không đáp, nhưng Dương hậu vẫn ra sức thêm dầu vào lửa, Ninh Tông vẫn chưa dám xử lí vì quyền lực của Thác Trụ quá lớn. Dương hậu xin Ninh Tông giao việc này cho anh mình là Dương Thứ Sơn cùng các quần thần thân tín, Ninh Tông mới bằng lòng. Lúc đó Tiền Tượng Tổ bị Thác Trụ bãi chức, Dương Thứ SơnSử Di Viễn bàn mưu triệu Tượng Tổ về kinh. Lại liên kết với Lễ bộ thượng thư Vệ Kinh, trứ tác lang Vương Cư Lang, Hữu tư lang Trương Từ, Tham tri chính sự Lý Bích. Một ngày cuối năm 1207, các đại thần này bí mật cho quân mai phục ở cầu Lục Bộ, chờ đến lúc Thác Trụ trên đường vào triều thì mai phục giết chết[21] sau đó vào triều tâu với Ninh Tông. Ninh Tông vẫn không tin, đến khi xác nhận sự việc là đúng, Ninh Tông mới dám hạ chiếu bố cáo tội ác của Thác Trụ, lại bãi chức Hữu thừa tướng của Trần Tự Cường đày ra Vĩnh châu, dời Tô Sư Đán đến Thiều châu rồi giết chết, Đặng Hữu Long bị biếm ra Viễn châu, Quách Nghê, Quách Soạn bị đưa đến đến Mai châu và Liên châu, đày gia thuộc của Thác Trụ ra biên cương. Nhiều đại thần như Trương Nham, Hứa Cập Chi, Diệp Thích, Hoàng Phủ Bân, Trình Tùng ... có quan hệ với Thác Trụ đều bị mất chức. Ninh Tông bổ nhiệm Vệ Kính làm Thiêm thư xu mật viện sự; sau đó chính thực sắc phong Vinh vương Nghiêm là hoàng thái tử, đổi tên là Tuân. Lại phục chức cho Khâu Sùng. Ít lâu sau, Ninh Tông lấy Tiền Tượng Tổ làm tả thừa tướng, kiêm Xu mật sứ, Vệ KínhLôi Hiếu Hữu làm Tham tri chính sự, Lâm Đại Trung Thiêm thư xu mật viện sự, Sử Di Viễn Đồng tri xu mật viện sự rồi Xu mật sứ, đồng thời phục hồi quan tước cho Tần Cối[20].

Đầu năm 1208, Ninh Tông hạ chiếu cải nguyên là Gia Định và quyết kế nghị hòa với Kim. Vương Nam được cử đi sứ, đề nghị theo cố sự những năm Tĩnh Khang, xưng nước bác nước cháu, tăng tiền thuế lên 30 vạn, 300 vạn tiền khao quân sĩ và hứa nộp đầu bọn Tô Sư Đán. Hoàn Nhan Khuông giao thư của Kim chủ cho Vương Nam đưa về nam, trong thư vẫn đòi thủ cấp của Thác Trụ. Đúng lúc đó, Tiền Tượng Tổ sai người đến Kim báo việc Xá Trụ đã bị giết, Hoàn Nhan Khuông bèn lệnh Vương Nam về nước đem thủ cấp Thác Trụ đến. Ninh Tông triệu bách quan đến bàn rồi đồng ý nộp đầu Thác Trụ, sai Lâm An phủ mở quan tài, cắt lấy thủ cấp đem kiêu của Lưỡng Hoài rồi lại chặt đầu Tô Sư Đán, gói hết lại đưa sang Kim, lại biếm Trần Tự Cường ra tận Lôi châu.

Tháng 5 ÂL, Vương Nam đem theo hai thủ cấp sang Kim, và tiếp tục bàn việc hòa nghị. Ngày Đinh Mùi, Kim chủ Cảnh ngự ở Ứng Thiên Môn, cho dựng sào treo thủ cấp Hàn Thác Trụ, Tô Sư Đán để chúng đại thần xem rồi cất vào ngục, sau lệnh Hoàn Nhan Khuông bãi binh về triều, trả lại các đất đã chiếm. Vương Đan kí vào bản hòa ước Gia Định có nội dung cơ bản gồm các khoản

  1. Giữ nguyên biên giới như trước, hai bên xưng nước chú nước khác
  2. Tiền triều cống mỗi năm 300.000 lạng bạc, 300.000 tấm lụa
  3. Tống phải nộp tiền khao quân vàng bạc mỗi loại 3.000.000 lạng

Tháng 6 ÂL năm 1208, Lâm Đại Trung qua đời và Vệ Kính bị bãi chức. Sử Di Viễn được tiến phong Tham tri chính sự, triệu Khâu Sùng về giữ chức Đồng tri xu mật viện, nhưng giữa đường Khâu Sùng đã qua đời. Tháng 10 ÂL, dùng Tiền Tượng Tổ làm Tả thừa tướng, Sử Di Viễn làm Hữu thừa tướng, Lôi Hiếu Hữu làm tri Xu mật viện sự, Lâu Cơ làm Tham tri chính sự, Lâu Dược Đồng tri Xu mật viện sự[20], mấy tháng sau Tiền Tượng Tổ bị bãi chức, Sử Di Viễn phải từ chức để chịu tang mẹ, đến năm 1209 thì được phục chức.

Chiến tranh tiếp diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc này nước Kim đã phát sinh rối loạn. Cuối năm 1208, Kim chủ Cảnh tồ, miếu hiệu là Chương Tông. Cảnh không có con nối dõi, Hoàng thúc Vệ vương Hoàn Nhan Vĩnh Tế được nối ngôi[22]. Kim chủ Vĩnh Tế bất tài vô dụng, không thể giữ được đất nước. Từ năm 1209, Thiết Mộc Chân (tức Thành Cát Tư Hãn của Mông Cổ) bắt đầu đem quân xâm lược nước Kim, nước Kim đã suy yếu nên thua hết trận này đến trận khác. Giữa lúc đó trong triều phát sinh nội biến, Hồ Sa Hổ giết Kim chủ Vĩnh Tế, đưa anh Chương Tông là Hoàn Nhan Tuân nối ngôi, tức là Kim Tuyên Tông[23]. Ít lâu sau Hồ Sa Hổ bị giết, quân Mông Cổ lại đánh xuống phía nam. Kim chủ phải cắt đất nghị hòa với Mông Cổ, nhưng sau đó lại quyết định dời đô về Biện (1214). Thiết Mộc Chân nghe Kim chủ dời đô lại đánh xuống phía nam đến Biện Kinh. Tháng năm ÂL năm 1215, Yên Kinh của Kim thất thủ, nước Kim ngày càng suy yếu, không thể chống đỡ nổi quân Mông.

Kim chủ sau khi dời đô đã sai sứ đến Tống đốc thúc phần tiền thuế còn thiếu. Ninh Tông nghe lời của Chân Đức Tú bỏ không nộp thuế cho Kim nữa, nhưng vẫn giữ mối hữu hảo, sai sứ sang Kim chúc mừng ngày tết và ngày sinh nhật. Cũng trong năm 1214, Hạ chủ Lý Tuân Húc vì bị bất mãn với Kim nên đã sai sứ đến Tống bàn việc liên minh tấn công Trung Nguyên, Ninh Tông không nghe. Hình bộ thị lang Lưu Dược và các thái học sinh cũng đều hết mực can ngăn nhưng không được. Tháng 3 ÂL năm 1214, Ninh Tông sai Đổng Cư Nghị làm Tứ Xuyên chế trí sứ, triệu An Bính về kinh nhận chức đồng tri xu mật viện, sự[24], sau dùng làm Quan Văn điện học sĩ, tri Đàm châu. Đầu năm 1215, tri Xu mật viện sự Lôi Hiếu Hữu bị bãi chức. Tháng 9 ÂL năm 1215, Chân Đức Tú lúc này được bổ nhiệm làm Giang Đông chuyển vận sứ dâng sớ nêu năm điều mà triều đình cần thực hiện để chấn hưng đất nước, Ninh Tông khen ngợi là thẳng thắn nhưng vẫn không có hành động gì[24].

Tháng 2, Gia Định năm thứ 10 (1217, đại thần nước Kim là Thuật Hổ Cao Kì, Vương Thế An dâng thư đề nghị Kim chủ đánh Tống. Kim bèn lấy Vương Thế An làm Hoài Nam chiêu phủ sứ, cùng Ô Cổ Luân Khánh Thọ, Hoàn Nhan Tát Bố cùng dẫn quân vượt Hoài Hà đánh xuống phía nam. Quân Kim lấy được bên Trung trấn ở Quang châu, giết tướng Tống Thịnh Doãn Thăng. Sau đó Khánh Thọ lại cho quân đánh sang Phàn Thành, vây Tảo Dương, Quang Hóa quân, Hoàn Nhan A Lâm tiến quân vào Đại Tản quan rồi đánh các châu Hòa, Giai, Thành. Lúc này triều đình sai Kinh Gồ chế trí sứ Triệu Phương, Giang Hoài chế trí sứ Lý Giác, Tứ Xuyên chế trí sứ Đồng Cư Nghị cùng nhau chống giặc. Ít lâu sau người Kim đánh vào Tương Dương. Triệu Phương cùng hai con là Triệu Phạm, Triệu Quỳ đến Tương Dương, hịch các tướng Hỗ Tái Hưng, Trần Tường, Mạnh Tông Chính đưa quân cứu Tảo Dương, chia nhau giữ những nơi hiểm yếu làm thế ỷ giốc. Quân ở Tảo Dương, Quang Hóa được tăng cường và được lệnh hỗ trợ chặt chẽ với nhau nâng cao thanh thế. Hỗ Tái Hưng đem quân thu phục vùng Khước thì bị người Kim đánh đuổi. Trần Tường, Mạnh Tông Chính dùng kế mai phục, giả vờ thua để nhử cho người Kim vào gần rồi quân mai phục bất ngờ xông ra, cùng với quân của Hỗ Tái Hưng ba phía giáp công quân Kim, quân Kim thua chạy. Lại nghe tin Tảo Dương nguy cấp, Mạnh Tông Chính lập tức đưa quân đến cứu. Quân Tống tiến nhanh như thần, bất ngờ tấn công vào trại Kim, quân Kim lại thua trận phải lui, Tông Chính được Triệu Phương bổ nhiệm làm tri Tả Dương quân. Tướng Kinh Hồ Vương Tân, Lưu Thế Hưng cũng đánh bại quân Kim ở Quang Sơn, Tùy châu khiến Kim phải rút về nước. Tháng 5 ÂL, Triệu Phương nhân vừa thắng trận, dâng biểu lên triều đình xin đánh Kim. Ninh Tông vào tháng 6 ÂL hạ chiếu kêu gọi quân dân ở Trung Nguyên đồng lòng nêu cao nghĩa khí, đánh đuổi bọn man rợ[24]. Ứng Thuần Chi ở Sở châu nghe tin nước Kim bị Mông Cổ đánh bại nhiều lần cũng dâng sớ xin nhân cơ hội bắc phạt lấy lại Trung Nguyên, lại có các nhóm giặc cướp từ Kim là Lý Toàn đến quy thuận. Sử Di Viễn liền lấy việc thời Khai Hi mà can ngăn, bảo rằng không thể quá lộ liễu chiêu nạp kẻ trốn trách, nên Ninh Tông sai Thuần Chi hãy bí mật kết nạp bọn Lý Toàn, phong cho hiệu là Trung Nghĩa quân, cấp quân lương. Các đảng cướp bị Kim đánh bại cũng nhân đó quy phục triều Tống, như Mã Lương, Cao Lâm, Tống Đức Trân...

Tháng 10 ÂL năm 1217, Kim chủ lại muốn đánh xuống phía nam, hạ chiếu cho Tư Đỉnh đem quân từ ba lộ Tần, Củng, Phượng Tường nam phạt, công đánh Tứ Xuyên, phá Thiên Thủy quân. Sang năm 1218, Người Kim tiếp tục phá Bạch Hoàn bảo, [[Hoàng Ngưu bảo[25]. Lưu Hùng cũng bỏ Đại Tản quan bỏ trốn về nam, quân Kim tiếp tục đánh chiếm Cách Nha quan, Phụ Giao bảo. An Bính ở Thiểm trước đã liên kết với người Hạ cùng chống Kim nhưng khi Kim tấn công thì quân Hạ không tới, nên gặp đại bại, tổn thất 5 vạn người. Sau đó lại đánh Tưu Trì bảo, tiến công Tùy châu và Tảo Dương. Mạnh Tông Chính kiên quyết cố thủ Tảo Dương, chống chọi với quân Kim suốt ba tháng, đánh nhau hơn 70 trận, giữ vững thành Tảo Dương. Về sau Hứa Quốc ở Tùy châu đem quân ứng cứu, cùng Mạnh Tông Chính trong ngoài kẹp dánh khiến người Kim phải rút khỏi Tảo Dương, đến tháng 3 ÂL thì lui khỏi Tưu Trì bảo. Lợi châu thống chế Vương Dật sai đó triệu tập quân lính và hơn 10 vạn người trung nghĩa cùng tiến đánh quân Kim, đoạt lại Đại Tản quan, Phụ Giao bảo, rồi tiến công Tần châu, đánh tới tận Cốc Khẩu mới chịu lui. Mấy ngày sau, quân Kim lại từ Trường An, Phượng Tường tấn công vào Tây châu, Hòa châu, Thành châu và Giới châu, các nơi này liên tục thất thủ, người Kim chiếm lại Đại Tản Quan, tiến tới Bạc Hà trì. Hưng Nguyên Đô thống chế Ngô Chính dẫn quân chiếm lại được Đại Tản quan, chém tướng bỏ trốn Vương Lập. Tháng 9 ÂL, Lý Toàn còn phá được Mật châu và huyện Thọ Quang, Châu Bình, Lâm Cù, An Khâu thuộc lãnh thổ nước Kim. Lúc này ở phía bắc Mông Cổ lại tiến đánh nên Kim chủ có ý nghị hòa với Tống, sau [[[Lã Tử Vũ]] đi sứ nhưng sau đó đổi ý, sai thái tử Hoàn Nhan Thủ Tự dẫn quân cùng Bộc Tán An Trinh làm Phó soái đánh xuống miền nam. Đầu năm 1219, quân Kim đánh vào các châu Tây, Hòa, Thành, Phượng và trại Hoàng Ngưu, lấy Vũ Hưu quan, phá phủ Hưng Nguyên, vây Đại An, tướng Tống Ngô Chính chết trận. Sau đó người Kim chiếm được Đại An tiến thẳng vào chiếm được Dương châu, Đổng Cư Nghị bỏ trốn. Đô thống chế Trương Uy sai tướng Thạch Tuyên đem quân ra chống, giành thắng lợi, giết hơn 3000 quân Kim, bắt sống tướng Kim Ba Đồ Lỗ An.

Kim thái tử Thủ Tự sai Hoàn Nhan Ngoa vây dánh Tảo Dương. Triệu Phương nghe Mạnh Tông Chính báo việc, nên sai Hỗ Tái Hưng đem hơn 3 vạn binh tiến đánh hai châu Đường, Đặng cả Kim để kéo quân Kim về cứu[25]. Tả nguyên soái Bộc Tán An Trinh vây đánh An Phong quân cùng các châu Trừ, Hào, Quang. Giang Hoài chế trí sứ Lý Giác sai Vũ Sư Đạo, Trần Hiếu Trung đến cứu nhưng không được. Sau đó An Trinh phân binh từ Quang châu đánh Ma Thành, từ Hào châu xâm Thạch Thích, từ Hu Dị lất Toàn Tiêu, Lai An, Thiên Trường, Lục Hợp. Dân chúng ở Hoài Nam lũ lượt kéo nhau vượt sông Trường Giang bỏ trốn, cả thành Kiến Khang chấn động. Lúc đó, Hoài Đông đề hình Giả Thiệp nắm quyền ở Sở châu, sai Trần Hiếu Trung cứu Từ châu, Hạ Toàn, Thời Thanh cứu Hào châu; Lý Tiên, Cát Bình, Dương Đức Quảng đến Từ Hào; Lý Toàn, Lý Phúc được lệnh chặn đường rút lui của người Kim. Lý Toàn tiến quân Qua Khẩu giao chiến với tướng Kim Ngột Thạch Liệt Nha Ngô Đáp ở Hóa Hồ bi. Quân Kim bị tổn thất 3000 người, mất kim bài, từ đó chúng phải rút lui khỏi các châu vừa chiếm. Lý Toàn cho quân truy kích đến Tào Gia trang, từ đó người Kim không còn dám dòm ngó Hoài Đông.

Ở đất Thục lúc này xảy ra nội loạn. Người lính ở Hưng Nguyên là Trương Phúc nổi dậy chống triều đình, cho quân của mình đội khăn đổ. Tháng 4 ÂL, Phúc cùng Mạc Giản đánh vào Lợi châu[25], Nhiếp Tử Thuật là người đứng đầu ở Tứ Xuyên lui về Kiếm Môn, kêu gọi Lễ tuyền quan sứ An Quý Trọng (con An Bính) làm tiết chế quân mã dẫn quân thảo tặc. Khi đó, Quý Trọng triệu Trương Uy ở Miện châu đến giúp. Lúc này Trương Phúc giết Tổng lĩnh tài phú Dương Cửu Đỉnh, cướp phá các châu Lãng, Quả, cả Tứ Xuyên chấn động. Triệu PhươngNgụy Liễu Ông đều xin triều đình dùng lại An Bính. Có chiếu phong An Bính làm tri Hưng Nguyên phủ, An phủ sứ Lợi châu, đoạt quan chức của Đổng Cư Nghị. Tháng 6 ÂL, Trương Phúc đem binh đánh Toại Ninh, Phổ châu, đóng quân Minh Sơn. An Bính ở Quả châu đến Toại Ninh, điều động binh chặn ở các ngả đường rồi vây đánh Minh Sơn, cùng lúc có Trương Uy dẫn binh tới giúp. Trương Phúc cùng đường phải xin hàng, An Bính cho chém làm hiệu cùng với hơn 300 tên rồi về Lợi châu, Tứ Xuyên được bình định[25].

Tháng 7 ÂL năm 1219, quân Kim lại đánh Tảo Dương. Mạnh Tông Chính ra sức cầm chân quân địch. Triệu Phương lại sai Hỗ Tái Hưng, Triệu Phạm, Triệu Quỳ đến cứu Tảo Dương, Mạnh Tông Chính từ trong xuất kích, giết chết hơn ba vạn quân Kim, Hoàn Nhan Ngoa phải bỏ chạy, quân Tống thừa cơ truy đuổi đến trại Mã Đặng, thu hết quân dụng, lương thảo rồi đốt trại. Uy danh của Mạnh Tông Chính từ đó vang dội, người Kim phải kiêng dè.

Đầu năm 1220, Triệu Phương nhân đà thắng lợi, sai Hỗ Tái Hưng, Hứa Quốc đem sáu vạn binh mã, phân tam lộ tiến đánh nước Kim, mục tiêu là hai châu Đường, Đặng. Do người Kim có phòng bị nên quân Tống chỉ có thể cướp bóc dọc đường rồi rút lui. Người Kim cho quân đuổi theo tới Phàn Thành, Triệu Phương đưa quân chặn đánh và đẩy lui địch[25]. Lúc đó Mạnh Tông Chính cũng đánh bại quân Kim ở Hồ Dương, cướp 1000 hộ ở Kim. Sau đó Hứa QuốcHỗ Tái Hưng cũng đánh bại quân Kim ở Bắc Dương, Cao Đầu, Trương Lâm dẫn quân lấy được Thương châu, An Bính liên kết với người Hạ lấy được Hải châu, Trình Tín lại định ước với người Hạ đánh Tần châu nhưng người Hạ không đến. Trong khi đó thì Lý Toàn ở Hoài Đông tuy dưới quyền Giả Thiệp nhưng có thế lực lớn, ngày một trở nên phóng túng kiêu ngạo, về sau trở thành một mối họa cho triều đình.

Năm 1221 tháng 2 ÂL, Bộc Tán An Trinh đem quân từ Tức châu đóng Thất Lý trấn, đánh bại quân Tống ở Tịnh Cư Sơn và Bảo Sơn Tự. Quân Tống lui về giữ Hoàng Thổ Quan và cố thủ ở đó. An Trinh chia quân thành hai tiến đánh vào quan, đánh bại quân Tống rồi tiến sang Mai Lâm quan, phá Ma Thành, vây Hoàng châu, phân binh phá các huyện, lại sai biệt tướng đánh Hán Dương quân. Tri Hoàng châu Hà Đại Tiết tự vẫn. Nhưng lúc này Lý Toàn cũng đánh vào Tứ châu của Kim, Ngột Thạch Liệt Ước Hách Đức đem quân đến cứu, Toàn bỏ chạy, nhưng Hách Đức chỉ tiến được tới Phúc Qua khẩu thì hết lương phải lui. Bộc Tán An Trinh đánh tiếp Kì châu, tri châu Lý Thành tự tử. Tuy nhiên sau đó quân Kim rút về, Hỗ Tái Hưng cho đuổi theo truy kích và đánh tan chúng ở trấn Thiên Trường, khi chuẩn bị vượt Hoài về nước cũng bị Lý Toàn truy kích đánh bại[25][26]. Triều Tống sau đó ra quân đánh Kim. Lý Toàn chiêu hàng tướng Kim Ích Đô còn Trương Lâm khôi phục lại được nhiều châu quận như Thượng, Thanh, Xương, Mật, Đăng Thái, Tân, Đại, Tề, Duyện ...

Giữa năm 1221, Triệu Phương qua đời. Tháng 11 ÂL, đến lượt An Bính cũng mất, Thôi Dữ Chi được lên thay làm Tứ Xuyên chế trí sứ[26]. Lý Toàn lúc này được phong Quảng châu quan sát sứ đã tỏ ra kiêu ngạo, khinh thường triều đình. Trước Toàn gièm pha Trung Nghĩa phó đô thống Lý Tiên với Giả Thiệp khiến Tiên bị giết. Bộ hạ của Tiên tôn Thạch Khuê lên thay, Giả Thiệp buộc phải công nhận. Lý Toàn không chịu, nhân lúc tướng Mông Mộc Hoa Lê tiến đánh tới tận Tế Nam của Tống, Thạch Khuê dẫn người đầu hàng. Lý Toàn lấy cớ Thạch Khuê phản bội mà đem quân đánh, Thạch Khuê chạy sang Mông Cổ. Về sau Lý Toàn lại bất hòa với Trương Lâm, Trương Lâm sợ Toàn hãm hại nên đem những châu vừa chiếm dâng cho người Mông, được Mộc Hoa Lê phong làm Hành Sơn đông lộ đô nguyên soái sự, nhưng bị anh Toàn là Lý Phúc đánh đuổi. Lý Toàn thừa thắng lấy được Thanh châu (1222). Triều Tống liên tục được đất thì mừng rỡ, Sử Di Viễn cũng muốn dùng Lý Toàn nên phong hắn làm Bảo Ninh quân tiết độ sứ kiêm Kinh Đông, Hà Bắc trấn phủ phó sứ. Tháng 6 ÂL năm 1223, Giả Thiệp do sợ Lý Toàn ngày càng kiêu ngạo tất có ngày làm loạn nên xin về triều, đến giữa đường thì chết[26].

Tháng 4 ÂL năm 1222, Kim chủ Tuân sai Hoàn Nhan NgoaThời Toàn đánh Tống, vượt sông từ Dĩnh Thọ, đánh bại quân Tống ở Cao Kiều rồi đánh sang Cố Thủy, phá Hỗ châu, nhưng về sau được lại sợ Tống Mông hai phía kẹp đánh sẽ bất lợi nên Hoàn Nhan Ngoa quyết định rút quân. Khi quân Kim chuẩn bị vượt Hoài trở về thì có lệnh từ Kim chủ lệnh mỗi người phải cắt 3 thạch lúa mạch của Tống làm quân lương, nên ba ngày sau quân Kim vẫn chưa vượt sông. Quân Tống nhân đó đuổi theo truy kích, cùng lúc đó có mưa, cầu bị gãy nên quân Kim nhanh chóng bại trận, nhiều người bị giết[26].

Qua đời và vụ phế lập[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 ÂL năm 1220, hoàng thái tử Triệu Tuân qua đời, thụy là Cảnh Hiến thái tử. Ninh Tông lại phải chọn người khác trong tông thất làm hoàng tự, đã sai lấy cháu 10 đời của Thái Tổ, tuổi khoảng 15 đưa vào cung như thời Cao Tông chọn Hiếu Tông. Nguyên Tống Hiếu Tông có người con là Ngụy vương Khải, Khải sinh Nghi Tĩnh Huệ vương Triệu Bính. Bính không có con nên lấy cháu 10 đời của Tống Thái Tổ là Quý Hòa làm đích tự. Ngày Bính Dần tháng 6 năm 1221, Ninh Tông quyết định chọn Quý Hòa làm hoàng tử để sau này kế vị, tiến phong Kì Quốc công[26]. Nhưng như vậy thì Nghi vương không có người kế vị. Sử Di Viễn sai Dư Thiên Tích đi tìm trẻ trong tông thất về làm hậu tự cho Nghi vương, cuối cùng lại chọn Triệu Dữ Cử, cũng là cháu của Thái Tổ, hậu duệ Yên Ý vương Triệu Đức Chiêu nhập tự Nghi vương. Ninh Tông đổi tên Dữ Cử là Quý Thành, phong chức Bỉnh Nghĩa lang. Quý Thành tính tình cẩn trọng ham học. Mỗi khi vào triều dự tên trong khi mọi người nói người vui vẻ thì Quý Thành vẫn nghiêm trang tề chỉnh. Sử Di Viễn thầm khen ngợi. Giữa năm 1222, Ninh Tông đổi hoàng tử Hồng làm Tế Quốc công, Quý Thành được phong chức Thiệu châu phòng ngự sứ.

Sau đó Ninh Tông dùng Tuyên Tăng làm Đồng tri xu mật viện sự, Dư Ứng Phù Thiêm thư xu mật viện sự. Bấy giờ Sử Di Viễn bên ngoài phe cánh đầy triều, bên trong có Dương hậu chống lưng, tha hồ nắm quyền triều chính, ngang ngược lộng hành. Cha Di Viễn là Sử Hạo được tiến phong Việt vương, phối hưởng vào thái miếu Hiếu Tông. Hoàng tử Hồng thấy Di Viễn quá đáng như vậy nên rất tức giận, dự định sau khi lên ngôi sẽ trị tội, đày Di Viễn đi suốt 8000 dặm. Di Viễn dùng một kĩ nữ sắp đặt bên cạnh hoàng tử, dò biết được nên rất sợ, từ đó liên kết với Trịnh Thanh Chi, bàn mưu phế bỏ hoàng tử Hồng, lập Quý Thành lên ngôi.

Tháng 9 ÂL năm 1222, lấy Tuyên Tăng làm Tham tri chính sự, Trình Trác Đồng tri xu mật viện sự, Tiết Cực làm Thiêm thư xu mật viện sự[26].

Ngày Bính Tuất tháng 8 ÂL năm 1224, Ninh Tông không khỏe. Sử Di Viễn chuẩn bị kế hoạch, sai Trịnh Thanh Chi vào báo với Quý Thành việc lập người nối ngôi. Ngày Nhâm Thìn, bệnh của Ninh Tông trở nặng. Sử Di Viễn giả mạo chiếu chỉ lập Quý Thành làm hoàng tử, đổi tên là Quân, phong Vũ Thái quân tiết độ sứ, tước Thành quốc công. Tháng 8 nhuận ngày Đinh Dậu (18 tháng 9 năm 1224), Ninh Tông băng[27]. Sử Di Viễn sai hai người cháu của Dương hậu vào cung báo việc phế lập. Dương hậu ban đầu không chịu, nhưng sau đó do bị uy hiếp phải nhận lời. Sau khi buổi lễ tang hoàn thành, Di Viễn cho đọc di chiếu giả, lập hoàng tử Quân làm vua, tức là Tống Lý Tông[26]. Hoàng tử Hồng được phong làm Tế vương, nhưng không lâu sau thì bị Sử Di Viễn hại chết.

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian cai trị 30 năm của mình, ông sử dụng bốn niên hiệu như sau:

  • Khánh Nguyên (庆元, 1195 - 1200)
  • Gia Thái (嘉泰, 1201 - 1204)
  • Khai Hy (开禧, 1205 - 1207)
  • Gia Định (嘉定, 1208 - 1224)

Miếu hiệu Ninh Tông của ông có ý nghĩa là vị tổ tiên sống trong thanh bình.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cung Thục hoàng hậu Hàn thị (恭淑皇后 韓氏, ? - 1200), người Tương Châu, là hậu duệ 6 đời của Bắc Tống danh thần Hàn Kì Đích (韓琦的), là cháu gái của đại thần đương triều Hàn Thác Trụ.
  • Cung Thánh hoàng hậu Dương thị (恭聖皇后 楊氏, 1162 - 1232), vào cung phong làm Bình Nhạc quận phu nhân (平樂郡夫人), Tiệp dư (婕妤), Uyển nghi (婉儀) rồi thành Quý phi (貴妃). Sau khi Hàn hoàng hậu qua đời, trong cung bà cùng Tào mỹ nhân (曹美人) đang đắc sủng, Hàn Thác Trụ cho là bà xảo quyệt, thủ đoạn khi làm hoàng hậu sẽ nắm quyền nên tiến phong Tào mỹ nhân làm Hậu. Nhưng Ninh Tông không nghe theo, lập Dương quý phi làm Hoàng hậu. Năm 1226, thời Tống Lý Tông được tôn làm Thọ Minh hoàng thái hậu (壽明皇太后).
  • Cao Bình quận phu nhân Diêm thị (高平郡夫人阎氏).
  • Chung phu nhân (钟夫人).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Các người con trai của Ninh Tông đều mất sớm, kể cả con của Cung Thục hoàng hậu và Cung Thánh hoàng hậu. Duy chỉ có Kỳ Quốc công chúa (祁国公主) là sống đến 6 tuổi cũng mất.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mất khi mới 6 tháng tuổi.
  2. ^ a ă â b Tống sử, quyển 37.
  3. ^ Tống sử, quyển 36
  4. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 151
  5. ^ Tôn hiệu của Hiếu Tông sau khi nhường ngôi là Chí Tôn Thọ hoàng thánh đế còn được gọi là Thọ hoàng
  6. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 152
  7. ^ a ă â b c d đ e ê Tục tư trị thông giám, quyển 153.
  8. ^ Tống sử, quyển 35
  9. ^ Khi đó thượng hoàng Đường Huyền Tông và vua Đường Túc Tông đều bệnh nặng, rồi thượng hoàng qua đời trước, Túc Tông bệnh tình cũng đã nguy kịch, quần thần mới cùng nhau đưa thái tử Lý Dự làm chủ mà cho phát tang thượng hoàng. 13 hôm sau Túc Tông cũng qua đời
  10. ^ Tống sử, quyển 243
  11. ^ Tống sử, quyển 429
  12. ^ Tống sử, quyển 391
  13. ^ a ă â b Tục tư trị thông giám, quyển 154.
  14. ^ Tống sử, quyển 392
  15. ^ a ă â b Tục tư trị thông giám, quyển 155.
  16. ^ a ă â b Tục tư trị thông giám, quyển 156.
  17. ^ Tống sử, quyển 291
  18. ^ a ă â b c d đ e ê g Tục tư trị thông giám, quyển 157.
  19. ^ Tống sử, quyển 473
  20. ^ a ă â b c d Tục tư trị thông giám, quyển 158.
  21. ^ Tống sử, quyển 474
  22. ^ Kim sử, quyển 12
  23. ^ Kim sử, quyển 13
  24. ^ a ă â Tục tư trị thông giám, quyển 160.
  25. ^ a ă â b c d Tục tư trị thông giám, quyển 161.
  26. ^ a ă â b c d đ Tục tư trị thông giám, quyển 162.
  27. ^ Tống sử, quyển 40