Tống Ninh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Ninh Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Songlinzong.jpg
Tranh vẽ Tống Ninh Tông.
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 11941224
Tiền nhiệm Tống Quang Tông
Kế nhiệm Tống Lý Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Cung Thục hoàng hậu Hàn thị
Cung Thánh Nhân Liệt hoàng hậu Dương thị
Tào mĩ nhân
Hậu duệ Kỳ quốc công chúa[1]
Tên thật Triệu Khoách (趙擴)
Niên hiệu
Thụy hiệu Pháp thiên Bị đạo Thuần đức Mậu công Nhân văn Triết vũ Thánh duệ Cung Hiếu hoàng đế
(法天備道純德茂功仁文哲武聖睿恭孝皇帝)
Miếu hiệu Ninh Tông (寧宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Tống Quang Tông
Thân mẫu Từ Ý hoàng hậu Lý Phượng Nương
Sinh 18 tháng 11, 1168
Mất 18 tháng 9, 1224
Trung Quốc
An táng Vĩnh Mậu Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Tống Ninh Tông (chữ Hán: 宋宁宗, 18 tháng 11, 1168 - 18 tháng 9, 1224) tên thật là Triệu Khoách (趙擴), là hoàng đế thứ 13 của nhà Tống và cũng là hoàng đế thứ 4 của nhà Nam Tống trong lịch sử Trung Hoa.

Năm 1194, khi Tống Hiếu Tông mất, lẽ ra theo tục lệ thì Tống Quang Tông phải đứng ra chủ trì tang lễ, nhưng Quang Tông lấy cớ ốm yếu bệnh tật nên không làm. Các đại thần Triệu Nhữ Ngu (赵汝愚) và Hàn Thác Trụ (韓侂胄) cùng Hiến Thánh Ngô thị Thái hoàng Thái hậu buộc Quang Tông phải thoái vị và nhường ngôi cho Triệu Khoách làm Hoàng đế, tức là Tống Ninh Tông. Bản thân Quang Tông lui về cung Thọ Khang làm Thái thượng hoàng. Trong thời gian cai trị 30 năm của mình, ông sử dụng bốn niên hiệu như sau:

  • Khánh Nguyên (庆元, 1195 - 1200)
  • Gia Thái (嘉泰, 1201 - 1204)
  • Khai Hy (开禧, 1205 - 1207)
  • Gia Định (嘉定, 1208 - 1224)

Miếu hiệu Ninh Tông của ông có ý nghĩa là vị tổ tiên sống trong thanh bình.

Ninh Tông hoàng đế là ông vua rất trọng văn hóa, khuyến khích việc học, dùng những người có thực học để làm quan. Thời kỳ này, việc chính trị tương đối ổn định. Tuy nhiên, thời kỳ của ông lại khó khăn về kinh tế, nạn tham nhũng, lạm phát,...và chi phí vào việc quân đội để chống lại cuộc xâm lược liên miên của nhà Kim. Trong khi đó, về tình hình phía Bắc, nhà Kim cũng đã suy yếu, và phải chống lại cuộc xâm lược của Mông Cổ, nên về sau cũng ít khi xâm phạm đến biên cương Đại Tống.

Năm 1224, Ninh Tông hoàng đế băng hà, thọ 56 tuổi. Thụy hiệu của ông là Cung Hiếu Hoàng Đế (恭孝皇帝), miếu hiệuNinh Tông (寧宗). Triệu Quân (趙昀) lên nối ngôi, tức là hoàng đế Tống Lý Tông.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cung Thục hoàng hậu Hàn thị (恭淑皇后 韓氏, ? - 1200), người Tương Châu, là hậu duệ 6 đời của Bắc Tống danh thần Hàn Kì Đích (韓琦的), là cháu gái của đại thần đương triều Hàn Thác Trụ.
  • Cung Thánh hoàng hậu Dương thị (恭聖皇后 楊氏, 1162 - 1232), vào cung phong làm Bình Nhạc quận phu nhân (平樂郡夫人), Tiệp dư (婕妤), Uyển nghi (婉儀) rồi thành Quý phi (貴妃). Sau khi Hàn hoàng hậu qua đời, trong cung bà cùng Tào mỹ nhân (曹美人) đang đắc sủng, Hàn Thác Trụ cho là bà xảo quyệt, thủ đoạn khi làm hoàng hậu sẽ nắm quyền nên tiến phong Tào mỹ nhân làm Hậu. Nhưng Ninh Tông không nghe theo, lập Dương quý phi làm Hoàng hậu. Năm 1226, thời Tống Lý Tông được tôn làm Thọ Minh hoàng thái hậu (壽明皇太后).
  • Cao Bình quận phu nhân Diêm thị (高平郡夫人阎氏).
  • Chung phu nhân (钟夫人).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Các người con trai của Ninh Tông đều mất sớm, kể cả con của Cung Thục hoàng hậu và Cung Thánh hoàng hậu. Duy chỉ có Kỳ Quốc công chúa (祁国公主) là sống đến 6 tuổi cũng mất.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mất khi mới 6 tháng tuổi.