Tống Nhân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Nhân Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Renzong.jpg
Tranh vẽ Tống Nhân Tông.
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 23 tháng 3 102230 tháng 4 1063
Tiền nhiệm Tống Chân Tông
Kế nhiệm Tống Anh Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Quách hoàng hậu
6 người khác (xem văn bản)
Hậu duệ
Tên húy Triệu Thụ Ích (趙受益)
Triệu Trinh (趙禎)[2]
Tước hiệu Hoàng đế
Niên hiệu
Thụy hiệu Thể Thiên Pháp Đạo Cực Công
Toàn Đức Thần Văn Thánh Vũ
Duệ Triết Minh Hiếu Hoàng Đế
體天法道極功全德神文聖武睿哲
明孝皇帝[3]
Miếu hiệu Nhân Tông (仁宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Tống Chân Tông
Thân mẫu Chương Ý hoàng hậu Lý thị
Sinh 12 tháng 5, năm 1010
Mất 30 tháng 4, năm 1063
Trung Quốc
An táng Vĩnh Chiêu Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Tống Nhân Tông (chữ Hán: 宋仁宗, 12 tháng 5, 1010 - 30 tháng 4, 1063), là hoàng đế thứ 4 của nhà Tống. Dân gian lưu truyền Ly miêu hoán thái tử (狸猫换太子) để nói về xuất thân của nhà vua.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm Đại Trung Tường Phù thứ 3 (1010), tên ban đầu là Triệu Thụ Ích (趙受益), đến năm 1018 đổi thành Triệu Trinh (趙禎) khi được tấn phong làm thái tử. Tên gọi này cũng là tên kị húy khi ông lên ngôi năm 1022. Triệu Trinh bản tính nhân từ, hiếu thuận, lại thông minh và hiếu học, vì vậy rất được Chân Tông thương mến.

Năm 1022, Triệu Trinh lên ngôi kế vị khi mới 13 tuổi. Do khi Chân Tông còn trị vì quá mê tín, lo biên soạn "thiên thư" nên mọi việc trong triều đều do Lưu hoàng hậu giải quyết. Khi Chân Tông băng hà, ngôi vị hoàng đế của Nhân Tông chỉ là hữu danh vô thực, Chương Hiến Lưu Thái hậu một mình nắm quyền suốt 12 năm.

Năm 1033, Lưu Thái hậu qua đời, Nhân Tông bắt đầu tự mình chấp chính, do mâu thuẫn từ trước với Thái hậu nên ông ngay lập tức cách chức các đại thần thân tín của Thái hậu. Nhưng do không phải là người mang hùng tâm tráng chí, không có khả năng quản lí triều chính nên ông lại bắt đầu trọng dụng lại các đại thần mà ông đã cách chức.

Năm 1063, ông băng tại hoàng cung Biện Lương, hưởng dương 54 tuổi. Ông tại vị tổng cộng 41 năm. Thụy hiệu là Thể Thiên Pháp Đạo Cực Công Toàn Đức Thần Văn Thánh Vũ Duệ Triết Minh Hiếu hoàng đế (體天法道極功全德神文聖武睿哲明孝皇帝).

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tự mình chấp chính, Nhân Tông làm theo cách của Đường Thái Tông mở rộng con đường thi cử làm quan, mỗi khóa thi tuyển sinh tới mấy nghìn người. Câu nói "Thi Đình không trượt" lúc này đã trở thành luật bất thành văn. Người thi đỗ ngày càng nhiều, mà đại thần và người bên họ ngoại lại liên tục được đề bạt khiến cho hiện tượng quan lại vô dụng thùa mứa trong triều đình càng ngày càng nghiêm trọng. Thế nhưng Nhân Tông vẫn cho rằng đường làm quan vẫn chưa đủ rộng, vì nhiều người tuy tuổi đã cao mà vẫn chưa đỗ đạt. Vì thế ông hạ chiếu "trong kì thi tiến sỹ, cứ 10 người thi thì lấy 2 người đậu". Năm Đại Trung Tường Phù thời Chân Tông tổng số quan lại là 9758 người, đến năm Hoàng Hựu thời Nhân Tông đã lên tới 17300 người, chưa tính số chưa được bổ nhiệm. Như vậy chỉ trong 40 năm số lượng quan lại của nhà Tống đã tăng gấp đôi.

Quan lại vô dụng, binh lính bất tài làm cho quốc khố ngày càng cạn kiệt, không những thế đất đai lại bị ngoại bang thôn tính, thuế khóa tăng cao làm đời sống nhân dân cơ cực, dẫn tới khởi nghĩa. Các học sĩ trong triều như Phạm Trọng Yêm lần lượt dâng sớ yêu cầu cắt giảm bớt những quan lại vô dụng, chủ trương tiết kiệm và cải cách chính trị. Năm 1043 để cứu triều chính khỏi cảnh lâm nguy, Phạm Trọng Yêm đã dâng tấu "Đáp thủ chiếu điều trần thập sự" đưa ra 10 chủ trương cải cách, như giảm thuế khóa và phu phen, củng cố quân đội, khuyến khích dân trồng dâu nuôi tằm phát triển thương nghiệp... Nhân Tông chấp nhận và cho thực hiện những chủ trương này, gọi đó là "tân chính", trong sử hay gọi là "Khánh Lịch tân chính".

Nhưng những chính sách mới này vấp phải sự phản đối của phe bảo thủ trong triều do nó trực tiếp động chạm đến lợi ích của một số quần thần. Các bè đảng không ngớt lời dèm pha dần dần làm cho Nhân Tông mất niềm tin vào "tân chính". Cộng thêm liên tiếp những cuộc khởi nghĩa nông dân và nạn châu chấu xảy ra ở nhiều nơi, khiến Nhân Tông xem xét lại mọi việc và đổ lỗi cho "tân chính", ông quyết định hi sinh phe cải cách và thỏa hiệp với phe bảo thủ. Những người chủ trương cải cách như Phạm Trọng YêmÂu Dương Tu lần lượt bị cách chức, công cuộc cải cách chấm dứt, Nhân Tông cũng không còn tâm huyết xây dựng đất nước, cục diện đất nước nghèo túng yếu ớt đã hình thành.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trong lúc Nhân Tông sa đà vào cuộc sống phóng túng, chính trị triều Tống ngày càng hủ bại, thì dân tộc Đảng Hạng ngày càng lớn mạnh. Sau khi thủ lĩnh của tộc là Lý Minh Đức qua đời, con trai ông là Lý Nguyên Hạo chính thức xưng đế vào năm 1038 và xây dựng nên vương triều Tây Hạ. Tháng giêng năm 1039, Nguyên Hạo phái sứ giả đến triều Bắc Tống yêu cầu thừa nhận chính quyền Tây Hạ, nhưng bị cự tuyệt. Tháng 2 năm đó Nguyên Hạo dẫn quân xêm chiếm Bảo An quân (nay là huyện Chí Đan, Thiểm Tây). Sau đó Tây Hạ lại liên tiếp tiến đánh các châu phủ biên giới như Vị Châu, Diên Châu, Lân Châu, Phong Châu. Nhân Tông phải cử Hàn ỶPhạm Trọng Yêm dẫn quân đánh mới thu hồi lại được những đất đai đã mất.

Mới giành được chút thắng lợi, Nhân Tông đã trở nên chủ quan, phái người thâm nhập vào Tây Hạ bày kế khiến Tây Hạ tự tàn sát lẫn nhau để làm "ngư ông đắc lợi". Hành vi này khiến Nguyên Hạo vô cùng giận dữ. Năm 1042 Nguyên Hạo dẫn quân tấn công ồ ạt vào Tống, tiến thắng đến Vị Châu (nay là Bình Lương, Cam Túc), Nhân Tông phải xin cầu hòa. Năm 1044, do chịu áp lực từ Liêu nên Tây Hạ đồng ý xưng thần với Tống, nhưng yêu cầu Tống mỗi năm phải "ban thưởng" 13 vạn súc lụa, 5 vạn lượng bạc, 2 vạn cân trà.

Lúc này Liêu cũng nhân cơ hội để yêu sách đòi Tống phải trả lại mười huyện từ Ngõa Kiều quan trở xuống phía nam mà nhà Hậu Chu đã thu phục trước kia, đồng thời ép Nhân Tông tăng tiền cống nạp để cầu hòa. Với nhà Tống, đây chẳng nào một bản Hòa ước Thiền Uyên thứ hai.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù thời gian trị vì kéo dài trên 40 năm, nhưng Nhân Tông không được biết đến nhiều. Thời gian trị vì của ông đánh dấu cao điểm trong ảnh hưởng và quyền lực của nhà Tống nhưng cũng là khởi đầu cho sự tan rã chậm của nó, kéo dài trong khoảng 150 năm sau đó[4]

Các nguyên nhân có thể đằng sau sự suy yếu của nhà Tống có lẽ là sự tham nhũng ngày càng bành trướng cũng như chính sách đối ngoại của triều đình này. Chính sách đối ngoại của nhà Tống trong thời gian này thiên về hòa bình nhiều hơn và điều này làm suy yếu sức mạnh quân sự của nó. Tây Hạ đã chiếm được ưu thế trước sự suy yếu của quân đội Tống và giành được một số thắng lợi trước quân Tống tại khu vực biên giới hai nước.

Khi Nhân Tông nắm quyền, mặc dù ông đã có những cố gắng, như thực hiện Khánh Lịch tân chính, nhằm củng cố quân đội và kinh tế nhưng vẫn phải chi những khoản cống nộp lớn (cho dù sử sách Trung Hoa viết khác đi, như là "ban thưởng") cho cả nhà Liêu cũng như Tây Hạ, với hy vọng điều này sẽ đảm bảo sự an toàn cho triều đại của mình.

Tuy nhiên, chính sách này phải trả một giá đắt. Để có tiền cho những khoản chi tiêu lớn thì thuế má đã tăng lên khủng khiếp và những người dân của nhà nước này phải sống trong cảnh nghèo đói kinh niên. Điều này cuối cùng dẫn tới những cuộc nổi dậy có tổ chức trên khắp đất nước và càng làm cho chính quyền nhà Tống suy yếu thêm.

Tống Nhân Tông cũng là ông vua hết sức tiết kiệm và có đạo đức. Một đêm ông thèm ăn thịt dê nhưng ông cố nhịn, sáng mai tâm sự với viên thái giám thân tín rằng: đêm qua Trẫm thèm ăn thịt dê quá. Viên Thái giám vội tâu: ấy chết! bệ hạ thèm ăn thịt dê sao không bảo bọn ngự trù làm đêm hôm qua cho Hoàng Thượng dùng. Triệu Trinh nói: nếu đêm qua trẫm gọi sợ làm phiền bọn ngự trù phải thức dậy chuẩn bị thịt dê cho Trẫm, hơn nữa chiều bản thân mình quá cũng không phải là điều hay.

Một số quan lại nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Song thân:
    • Thân phụ: Tống Chân Tông Triệu Hằng.
    • Thân mẫu: Chương Ý hoàng hậu Lý thị (章懿皇后 李氏, 987-1032), con gái của Lý Nhân Đức (李延嗣). Cung nữ, sau phong vị Uyển nghi (婉仪), tôn phong Thần phi (宸妃). Khi mất Nhân Tông mới truy phong thụy hiệu Chương Ý hoàng hậu. Khi sinh ra Nhân Tông, bà không được nhận làm mẹ đẻ mà do Lưu hoàng hậu nhân nuôi, sau niệm tình chịu khổ mà Lưu Thái hậu phong bà lên Thần phi.
    • Dưỡng mẫu:
      • Chương Hiến Minh Túc hoàng hậu (章献明肃皇后, 968-1033), tên là Lưu Nga (刘娥), con gái của đại thần Lưu Thông (刘通). Nhiếp chính cho Nhân Tông khi còn trẻ tuổi, là nữ nhân bậc kỳ tài, sử sách so sánh rằng hữu Lữ Vũ chi tài, vô Lữ Vũ chi ác (有吕武之才,无吕武之恶).
      • Chương Huệ hoàng hậu Dương thị (章惠皇后 楊氏, 984-1036), con gái Dương Tri Nghiễm (杨知俨). Thân thiết với Lưu hoàng hậu, tước vị vốn là Dương Thục phi (楊淑妃). Cùng Lưu hoàng hậu bảo dưỡng Tống Nhân Tông, sau tôn phong Hoàng thái phi (皇太妃). Khi Lưu thái hậu tạ thế, tôn làm Bảo Khánh hoàng thái hậu (保慶皇太后).
  • Hậu phi:
  1. Quách hoàng hậu (郭皇后, 1012 - 1035), phế truất vì không có con.
  2. Từ Thánh Quang Hiến hoàng hậu Tào thị (慈聖光獻皇后 曹氏, 1016 - 1079), người Kim Hà, tổ phụ là danh tướng Tào Bân (曹彬).
  3. Ôn Thành hoàng hậu Trương thị (溫成皇后 張氏, 1024 - 1054), người Hà Nam, Tống Nhân Tông sủng phi. Cha là Tiến sĩ Trương Nghiêu Phong (張堯封), tư sắc diễm lệ, khuynh quốc khuynh thành. Năm 1041, phong làm Thanh Hà quận quân (清河郡君), mau chóng thành Tài nhân (才人), Tu viên (修媛) rồi Quý phi (貴妃). Sinh hạ 3 công chúa. Sau khi mất, truy tặng Hoàng hậu, lễ tang thuộc hàng Hoàng hậu, lại truy phong cha làm Thanh Hà quận vương (清河郡王), mẹ Tào thị làm Tề Quốc phu nhân (齐国夫人).
  4. Chiêu Tiết quý phi Miêu thị (昭節貴妃 苗氏, 1017 - 1086), cha là Miêu Kế Tông (苗繼宗), mẹ là Hứa thị (許氏). Hứa thị vốn là bảo mẫu của Nhân Tông. Miêu thị dung mạo mỹ miều, phong Tài nhân (才人), Chiêu dung (昭容) rồi Đức phi (德妃). Nuôi dưỡng Tống Anh Tông, phong vị làm Quý phi.
  5. Chiêu Thục quý phi Chu thị (昭淑貴妃 周姓, 1022 - 1114), thị nữ của Trương Quý phi, sau Nhân Tông thị tẩm và sinh ra 2 công chúa thì sắc phong Mỹ nhân (美人), Tiệp dư (婕妤), Chiêu dung (婉容).
  6. Đức phi Dương thị (德妃楊氏, 1019 - 1072), tên là Dương Tông Diệu (杨宗妙), người Định Đào, cha là Dương Trung Đích (杨忠的). Bà nhập cung phong làm Nguyên Vũ quận quân (原武郡君), Mỹ nhân (美人). Dương thị mỹ mạo xinh đẹp, thông hiểu âm luật lại vô cùng khiêm tốn, Nhân Tông rất thích thú. Cùng lúc đắc sủng với bà có Mỹ nhân Thượng thị, điều này khiến Quách hoàng hậu ghen tức, Nhân Tông phế truất Quách hậu, cho là Dương mỹ nhân cùng Thượng mỹ nhân nhiễu đoạn trong cung mà đuổi ra khỏi cung, xuất gia tu đạo. Năm 1034 Dương thị ra khỏi cung, nhưng không lâu sau Nhân Tông do quá nhung nhớ mà triệu Dương thị về, lập làm Mỹ nhân như cũ. Bà sinh ra Thương Quốc công chúa, lập làm Tiệp dư (婕妤) rồi Tu nghi (修仪), đến khi chết truy tặng Đức phi.
  7. Hiền phi Phùng thị (賢妃馮氏), người Đông Bình, cháu gái Binh bộ Thị lang Phùng Khởi (冯起). Sinh ra Lỗ Quốc công chúa và Sở Quốc công chúa.
  8. Thục phi Đổng thị (淑妃董氏, ? - 1062), là thị nữ của Nhân Tông, sau lâm hạnh phong làm Văn Hỉ huyền quân (闻喜县君), sinh hạ công chúa phong lên Tài nhân (才人), Mỹ nhân (美人), Sung viên (充媛), Uyển nghi (婉仪). Khi chết truy làm Thục phi.
  9. Đức phi Du thị (德妃兪氏), là cơ thiếp của Nhân Tông khi còn là Hoàng tử, phong làm Diên An quận quân (延安郡君). Năm 1037 bà sinh ra trưởng tử Triệu Phưởng (趙昉), thăng lên Mỹ nhân (美人) rồi Chiêu nghi (昭仪). Khi chết truy tặng thụy Hiền phi, sau cải phong Đức phi.
  10. Hiền phi Trương thị (賢妃張氏).
  11. Chiêu dung Trương thị (昭容張氏).
  12. Sung nghi Thượng thị (充儀尚氏, ? - 1050), sơ phong Mỹ nhân (美人), đắc sủng trong cung nên tỏ ra kiêu ngạo, tranh sủng với Quách hoàng hậu. Năm 1034 bị buộc xuất gia, sau triệu về phục vị. Đến khi chết truy tặng Sung nghi.
  13. Sung nghi Chu thị (充儀朱氏, ? - 1095).
  14. Tiệp dư Liên thị (婕妤連氏).
  15. Mỹ nhân Dương thị (美人楊氏).
  16. Mỹ nhân Thượng thị (美人尚氏).
  • Con cái:
  1. Dương vương Triệu Phưởng (趙昉), chết non. Mẹ là Du Đức phi.
  2. Ung vương Triệu Hân (趙昕), chết non. Mẹ là Chiêu Tiết quý phi Miêu thị.
  3. Kinh vương Triệu Hi (趙曦), chết non. Mẹ là Chu tài nhân.
  4. Chu quốc Trần quốc đại trưởng công chúa (周國陳國大長公主, 1038 - 1071), mẹ là Chiêu Tiết quý phi Miêu thị.
  5. Từ quốc công chúa (徐國公主), chết non, mẹ là Du Đức phi.
  6. Đặng quốc công chúa (鄧國公主), chết non, mẹ là Ôn Thành hoàng hậu.
  7. Trấn quốc công chúa (鎮國公主), chết non, mẹ là Ôn Thành hoàng hậu.
  8. Sở quốc công chúa (楚國公主), chết non, mẹ là Phùng Hiền phi.
  9. Thương quốc công chúa (商國公主), chết non, mẹ là Dương Đức phi.
  10. Lỗ quốc công chúa (魯國公主), chết non. Mẹ là Phùng Hiền phi.
  11. Đường quốc công chúa (唐國公主), chết non, mẹ là Ôn Thành hoàng hậu.
  12. Trần quốc công chúa (陳國公主), chết non, mẹ là Đổng Thục phi.
  13. Tần quốc Lỗ quốc Hiền Mục Minh Ý đại trưởng công chúa (秦國魯國賢穆明懿大長公主, 1047 - 1133), mẹ là Chiêu Thục quý phi.
  14. Cổn quốc đại trưởng công chúa (袞國大長公主, 1059 - 1083), mẹ là Đổng Thục phi.
  15. Yên quốc Thư quốc đại trưởng công chúa (燕國舒国大长公主, ? - 1112), mẹ là Chiêu Thục quý phi Chu thị.
  16. Dự quốc công chúa (豫国公主), chết non, mẹ là Đổng Thục phi.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thương Thánh, Chính sử Trung Quốc qua các triều đại, 350 vị hoàng đế nổi tiếng, NXB Văn Hóa - Thông Tin

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cả ba con trai đều chết sớm
  2. ^ Tên của ông được đổi thành Trinh năm 1018 khi ông được phong Thái tử. Tên này thành kỵ húy khi ông lên ngôi vua năm 1022.
  3. ^ Đây là thụy hiệu cuối cùng đặt năm 1083.
  4. ^ Zhenoao Xu, W. Pankenier, Yaotiao Jiang, David W. Pankenier (2000). East-Asian Archaeoastronomy: Historical Records of Astronomical Observations of China, Japan and Korea. CRC Press. ISBN 90-5699-302-X.