Danh sách hoàng đế nhà Tống

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Painted image of a portly man sitting in a red throne-chair with dragon-head decorations, wearing white silk robes, black shoes, and a black hat, and sporting a black mustache and goatee
Chân dung Tống Thái Tổ (969-976), vị hoàng đế đã sáng lập nên nhà Tống, được vẽ bởi một họa sĩ vô danh thời kỳ đó.

Triều đại nhà Tống cai trị tại Trung Quốc (960-1279). Nhà Tống đã thành công trong việc thống nhất Trung Quốc vào thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc (907-960), và bị tiêu diệt vào năm 1279 bởi nhà Nguyên (1271-1368). Nhà Tống được chia thành hai giai đoạn riêng biệt là Bắc Tống (960-1127) và Nam Tống (1127-1279) bằng việc quân đội nhà Kim chinh phục miền Bắc Trung Hoa vào năm 1127. Nó cũng được phân biệt bằng việc thay đổi kinh đô từ Biện Kinh (nay là Khai Phong) ở phía Bắc tới Lâm Ấp (nay là Hàng Châu) ở miền nam Trung Hoa.

Dưới đây là danh sách đầy đủ các vị hoàng đế nhà Tống, bao gồm cả miếu hiệu, thụy hiệuniên hiệu. Triều đại này được thành lập bởi vua Thái Tổ (960-976) và kết thúc với cái chết của Triệu Bính, được biết đến là Vệ Vương sau khi qua đời (1278-1279). Hoàng đế cuối cùng của triều Bắc Tống là Khâm Tông (1126-1127), trong khi vị hoàng đế đầu tiên của Nam Tống là Cao Tông (1127-1162).

Hoàng đế là vị nguyên thủ quốc gia trong thời kỳ đế chế Trung Hoa (221 TCN-1912), trong đó có Tống. Việc truyền ngôi theo hình thức cha truyền con nối, chia sẻ quyền hành pháp với các quan chức dân sự được bổ nhiệm vào các cấp bực khác nhau theo kết quả trong các kỳ thi cử. Tầm quan trọng ngày càng tăng trong tầng lớp quan liêu dân sự và tầng lớp quý tộc quốc gia thời nhà Tống dẫn đến một vai trò hạn chế hơn nhiều cho hoàng đế trong việc định hình chính sách nhà nước, mặc dù hoàng đế vẫn duy trì quyền độc đoán của mình. Một vị hoàng đế có độc quyền về việc thiết lập các điều luật mới, mặc dù vậy vị hoàng đế đó sẽ phải tôn trọng các quy định pháp luật của tiên đế.[1]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Painted image of a man standing erect, wearing white silk robes, black hat, black shoes, and sporting a black mustache and goatee
Painted image of a man sitting in a wooden chair, wearing red silk robes, black shoes, a black hat, and sporting a black mustache and goatee
Trái: Chân dung Tống Thái Tông (976–997)
Phải: Chân dung Tống Thần Tông (1067-1085)

Triều đại nhà Tống được thành lập bởi hoàng đế Thái Tổ (960-976) năm 960, Triệu Khuông Dẫn thống nhất hoàn toàn Trung Quốc lập nên nhà Tống, trừ mười sáu châu quận miền bắc. Nhà Tống đã phát động một loạt chiến tranh với nhà Liêu (1125-1279), vốn được cai trị bởi tộc người Khiết Đan, đang sở hữu mười sáu châu miền Bắc Trung Quốc.[2] Nhà Liêu bị lật đổ năm 1125 trong một cuộc chinh phạt của quân đội nhà Tống và bộ tộc Nữ Chân đứng đầu là Hoàng đế Kim Thái Tông (1123-1134). Tuy nhiên, Kim đã nhanh chóng chuyển sang chống lại nhà Tống và xâm chiếm lãnh thổ phía Bắc của nhà Tống.[2] Trong sự biến Tĩnh Khang,[3] đại quân nhà Kim đã phá vỡ thành Biện Kinh năm 1127, và giết chết Đạo quân hoàng đế (1100-1126), và con trai ông là Triệu Hoàn lên ngôi tức là Tống Khâm Tông (1126-1127).[4]

Hoàng đế Cao Tông (1127-1162), tức là Triệu Cấu, con trai vua Huy Tông, chạy trốn về phía nam và tái lập triều đại nhà Tống tại Nam Kinh.[5] Ông đã lập một thủ đô tạm thời tại Hàng Châu năm 1129, và vào năm 1132, ông tuyên bố Lâm Ấp trở thành thủ đô chính thức.[6] Nhà Kim đã thực hiện nhiều nỗ lực chinh phục Nam Tống nhưng đều bất thành. Năm 1165, Tống Hiếu Tông (1162-1189) và Kim Thế Tông (1161-1189) đã đồng ý ký kết một hiệp ước hòa bình và là một kết quả ngoại giao tốt đẹp giữa hai nước.[7] Nhà Tống tiếp tục cai trị miền nam Trung Quốc cho đến 1279, sau khi quân đội nhà Nguyên-Mông được dẫn đầu bởi Hốt Tất Liệt, Kha Hãn của Đế quốc Mông Cổ,[8] xâm lược và chinh phạt nhà Tống. Vị hoàng đế cuối cùng là Triệu Bính, được biết đến sau khi mất là Vệ Vương (1278-1279), người đã cùng thừa tướng Lục Tú Phu nhảy xuống sông tự vẫn sau khi đại bại trong trận Nhai Môn mà ngày nay là thị xã Nhai Sơn, quận Tân Hội, thành phố Giang Môn, tỉnh Quảng Đông.[9]

Danh xưng và tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ thời kỳ nhà Tần (226-206 TCN) cho đến nhà Thanh (1644-1912), các vị vua chúa đứng đầu nhà nước được biết đến với danh hiệu Hoàng đế.[10] Trong các văn bản lịch sử, các hoàng đế nhà Tống, cùng các hoàng đế nhà Đường, nhà Nguyên đều được gọi bằng miếu hiệu của họ (廟號),[11] miếu hiệu của vua đã chết được vua nối ngôi, hoặc đình thần đặt để viết trên bài vị hay trên các bài văn tế đọc trong các dịp giỗ chạp. Trước thời nhà Đường, hoàng đế thường được gọi bằng thụy hiệu (諡號), Thuỵ hiệu là tên được đặt cho vua chúa sau khi quá cố. Thời nhà Minh (1368-1644) và nhà Thanh, tên các vị hoàng đế được gọi bằng niên hiệu duy nhất của họ.[11] Trong khi vào thời kỳ nhà Tống và trước đó, một vị vua thường có nhiều niên hiệu trong thời gian cai trị.[12] Số lượng ký tự của miếu hiệu tăng trưởng ổn định hơn sau thời kỳ nhà Hán (202 TCN-220). Ví dụ, thụy hiệu của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, vị vua lập ra nhà nước Mãn Châu ở miền bắc Trung Hoa và sau đó là nhà Thanh có tất cả 29 ký tự (Thừa thiên Quảng vận Thánh đức Thần công Triệu kỉ Lập cực Nhân hiếu Duệ vũ Đoan nghị Khâm an Hoằng văn Định nghiệp Cao Hoàng đế, 承天廣運聖德神功肇紀立極仁孝睿武端毅欽安弘文定業高皇帝).[11] Thời nhà Đường, miếu hiệu ngắn hơn rất nhiều, nhưng sang thời kỳ nhà Tống, số ký tự mới bắt đầu tăng lên.[11] Mỗi hoàng đế đều có lăng hiệu (陵號) khác nhau dành cho lăng tẩm của mình.[13]

Hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Danh sách vua và hoàng đế Trung Hoa

Bắc Tống, 960-1127[sửa | sửa mã nguồn]

Miếu hiệu (廟號) Thụy hiệu (諡號) Trị vì Niên hiệu (年號)
Thái Tổ (太祖) Khải Vận Lập Cực Anh Vũ Duệ Văn Thần Đức Thánh Công Chí Minh Đại Hiếu Hoàng đế
(啓運立極英武睿文神德聖功至明大孝皇帝)
21 tháng 3, 960 14 tháng 11, 976  

Kiến Long (建隆) 960-963[14]
Càn Đức (乾德) 963-968[15]
Khai Bảo (開寶) 968-976[16]

Thái Tông (文武) Chí nhân Ứng đạo Thần công Thánh đức Văn Võ Duệ liệt Đại minh Quảng hiếu hoàng đế
(至仁應道神功聖德文武睿烈大明廣孝皇帝)
15 tháng 11, 976 8 tháng 5, 997

Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) 976-984[17]
Ung Hi (雍熙) 984-987[18]
Đoan Củng (端拱) 988-989[19]
Thuần Hoá (淳化) 990-994[20]
Chí Đạo (至道) 995-997[21]

Chân Tông (真宗) Ưng phù Kê cổ Thần công Nhượng đức Văn minh Vũ định Chương Thánh Nguyên Hiếu hoàng đế
(膺符稽古神功讓德文明武定章聖元孝皇帝)
10 tháng 5, 997 23 tháng 3, 1022  

Hàm Bình (咸平) 998-1003[22]
Cảnh Đức (景德) 1004-1007[23]
Đại Trung Tường Phù (大中祥符) 1008-1016[24]
Thiên Hi (天禧) 1017–1021[25]
Càn Hưng (乾興) 1022[26]

Nhân Tông (仁宗) Thể Thiên Pháp Đạo Cực Công Toàn Đức Thần Văn Thánh Vũ Duệ Triết Minh Hiếu Hoàng Đế
(體天法道極功全德神文聖武睿哲明孝皇帝)
24 tháng 3, 1022 30 tháng 4, 1063

Thiên Thánh (天聖) 1023-1032[27]
Minh Đạo (明道) 1032-1033[28]
Cảnh Hữu (景祐) 1034-1038[29]
Bảo Nguyên (寶元) 1038-1040[30]
Khang Định (康定) 1040-1041[31]
Khánh Lịch (慶曆) 1041-1048[32]
Hoàng Hữu (皇祐) 1049-1054[33]
Chí Hoà (至和) 1054-1056[34]
Gia Hữu (嘉祐) 1056-1063[35]

Anh Tông (英宗) Thể càn Ứng lịch Long công Thịnh đức Hiến văn Túc vũ Duệ Thánh Tuyên Hiếu hoàng đế
(體乾應歷隆功盛德憲文肅武睿聖宣孝皇帝)
2 tháng 5, 1063 25 tháng 1, 1067  

Trì Bình (治平) 1064-1067[36]

Thần Tông (宗宗) Thể Nguyên Hiển Đạo Pháp Cổ Lập Hiến Đế Đức Vương Công Anh Văn Liệt Vũ Khâm Nhân Thánh Hiếu hoàng đế
(體元顯道法古立憲帝德王功英文烈武欽仁聖孝皇帝)
26 tháng 1, 1067 30 tháng 3, 1085

Hi Ninh (熙寧) 1068-1077[37]
Nguyên Phong (元豐) 1078-1085[38]

Triết Tông (哲宗) Nguyên Kế Đạo Hiển Đức Định Công Khâm Văn Duệ Vũ Tề Thánh Chiêu Hiếu Hoàng đế
(憲元繼道顯德定功欽文睿武齊聖昭孝皇帝)
1 tháng 4, 1085 23 tháng 2, 1100  

Nguyên Hữu (元祐) 1086-1094[39]
Thiệu Thánh (紹聖) 1094-1098[40]
Nguyên Phù (元符) 1098-1100[41]

Huy Tông (徽宗) Thể Thần Hợp Đạo Tuấn Liệt Tốn Công Thánh Văn Nhân Đức Hiến Từ Hiển Hiếu Hoàng đế
(體神合道駿烈遜功聖文仁德憲慈顯孝皇帝)
24 tháng 2, 1100 18 tháng 1, 1126

Kiến Trung Tĩnh Quốc (建中靖國) 1101[42]
Sùng Ninh (崇寧) 1102-1106[43]
Đại Quán (大觀) 1107-1110[44]
Chính Hoà (政和) 1111-1118[45]
Trọng Hoà (重和) 1118-1119[46]
Tuyên Hoà (宣和) 1119-1125[47]

Khâm Tông (欽宗) Cung văn Thuận đức Nhân hiếu Hoàng đế
(恭文順德仁孝皇帝)
19 tháng 1, 1126 9 tháng 1, 1127  

Tĩnh Khang (靖康) 1125-1127[48]

Nam Tống, 1127-1279[sửa | sửa mã nguồn]

Miếu hiệu (廟號) Thụy hiệu (諡號) Trị vì Niên hiệu (年號)
Cao Tông (高宗) Thụ mệnh Trung hưng Toàn công Chí đức Thánh Thần vũ văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế
(受命中兴全功至德圣神武文昭仁宪孝皇帝)
12 tháng 6, 1127 24 tháng 7, 1162  

Tĩnh Viêm (靖炎) 1127-1130[49][50]
Thiệu Hưng (紹興) 1131-1162[51]

Hiếu Tông (孝宗) Thiệu Thống Đồng Đạo Quan Đức Chiêu Công Triết Văn Thần Vũ Minh Thánh Thành Hiếu hoàng đế
(紹統同道冠德昭功哲文神武明聖成孝皇帝)
24 tháng 7, 1162 18 tháng 2, 1189

Long Hưng (隆興) 1163-1164[52]
Càn Đạo (乾道) 1165-1173[53]
Thuần Hi (淳熙) 1174-1189[54]

Quang Tông (光宗) Tuần Đạo Hiến Nhân Minh Công Mậu Đức Ôn Văn Thuận Vũ Thánh Triết Từ Hiếu Hoàng đế
(循道憲仁明功茂德溫文順武聖哲慈孝皇帝)
18 tháng 2, 1189 5 tháng 7, 1194  

Thiệu Hi (紹熙) 1190-1194[55]

Ninh Tông (恭孝) Pháp thiên Bị đạo Thuần đức Mậu công Nhân văn Triết vũ Thánh duệ Cung Hiếu hoàng đế
(法天備道純德茂功仁文哲武聖睿恭孝皇帝)
24 tháng 7, 1194 17 tháng 9, 1224

Khánh Nguyên (慶元) 1195-1200[56]
Gia Thái (嘉泰) 1201-1204[57]
Khai Hi (開禧) 1205-1207[58]
Gia Định (嘉定) 1208-1224[59]

Lý Tông (理宗) Kiến đạo Bị đức Thái công phục hưng Liệt văn Nhân võ Thánh minh An Yên Hiếu hoàng đế
(建道備德大功復興烈文仁武聖明安孝皇帝)
17 tháng 9, 1224 16 tháng 11, 1264  

Bảo Khánh (寶慶) 1225-1227[60]
Thiệu Định (紹定) 1228-1233[61]
Đoan Bình (端平) 1234-1236[62]
Gia Hi (嘉熙) 1237-1240[63]
Thuần Hữu (淳祐) 1241-1252[64]
Bảo Hữu (寶祐) 1253-1258[65]
Khai Khánh (開慶) 1259[66]
Cảnh Định (景定) 1260-1264[67]

Độ Tông (度宗) Đoan văn Minh vũ Cảnh Hiếu hoàng đế
(端文明武景孝皇帝)
66 tháng 11, 1264 12 tháng 8, 1274

Hàm Thuần (咸淳) 1265-1274[68]

Cung Tông (恭宗) Hiếu cung Ý Thánh hoàng đế
(孝恭懿圣皇帝)
12 tháng 8, 1274 4 tháng 2, 1276  

Đức Hữu (德祐) 1275-1276[69]

Đoan Tông (端宗) Dụ văn Chiêu vũ Mẫn Hiếu hoàng đế
(裕文昭武愍孝皇帝)
14 tháng 6, 1276 8 tháng 5, 1278

Cảnh Viêm (景炎) 1276-1278[70]

Hoài Tông (怀宗) Cung văn Ninh võ Ai hiếu hoàng đế
(恭文宁武哀孝皇帝)
10 tháng 3, 1278 19 tháng 3, 1279  

Tường Hưng (祥興) 1278-1279[71]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mote (1999), các trang. 98–99.
  2. ^ a ă Bol (2001), trang. 112.
  3. ^ Hennessey (1984), các trang. 42, 51.
  4. ^ Ebrey et al. (2006), các trang. 165–167.
  5. ^ Gernet (1962), trang. 22.
  6. ^ Coblin (2002), trang. 533.
  7. ^ Tilman (1995), trang. 29; Mostern (2008), trang. 241.
  8. ^ Rossabi (1988), các trang. 8, 53.
  9. ^ Rossabi (1988), các trang. 93–94.
  10. ^ Wilkinson (1998), trang. 106; Mote (1999), trang. 98.
  11. ^ a ă â b Wilkinson (1998), trang. 106.
  12. ^ Wilkinson (1998), các trang. 106–107.
  13. ^ Wilkinson (1998), trang. 107.
  14. ^ Bá Dương (1977), các trang. 873–876.
  15. ^ Bá Dương (1977), các trang. 876–878.
  16. ^ Bá Dương (1977), các trang. 878–881.
  17. ^ Bá Dương (1977), các trang. 881–883.
  18. ^ Bá Dương (1977), các trang. 883–885.
  19. ^ Bá Dương (1977), các trang. 885–886.
  20. ^ Bá Dương (1977), các trang. 886–887.
  21. ^ Bá Dương (1977), trang. 887.
  22. ^ Bá Dương (1977), các trang. 887–891.
  23. ^ Bá Dương (1977), các trang. 891–892.
  24. ^ Bá Dương (1977), các trang. 892–894.
  25. ^ Bá Dương (1977), các trang. 894–895.
  26. ^ Bá Dương (1977), trang. 895.
  27. ^ Bá Dương (1977), các trang. 895–896.
  28. ^ Bá Dương (1977), các trang. 896–897.
  29. ^ Bá Dương (1977), các trang. 897–898.
  30. ^ Bá Dương (1977), các trang. 898.
  31. ^ Bá Dương (1977), các trang. 898–899.
  32. ^ Bá Dương (1977), các trang. 899–903.
  33. ^ Bá Dương (1977), các trang. 903–904.
  34. ^ Bá Dương (1977), trang. 905.
  35. ^ Bá Dương, các trang. 905–907.
  36. ^ Bá Dương (1977), các trang. 908–909.
  37. ^ Bá Dương (1977), các trang. 909–914.
  38. ^ Bá Dương (1977), các trang. 914–918.
  39. ^ Bá Dương (1977), các trang. 918–921.
  40. ^ Bá Dương (1977), các trang. 921–923.
  41. ^ Bá Dương (1977), các trang. 923–924.
  42. ^ Bá Dương (1977), trang. 927.
  43. ^ Bá Dương (1977), các trang. 927–928.
  44. ^ Bá Dương (1977), các trang. 928–929.
  45. ^ Bá Dương (1977), các trang. 929–931.
  46. ^ Bá Dương (1977), trang. 931.
  47. ^ Bá Dương (1977), các trang. 932–935.
  48. ^ Bá Dương (1977), các trang. 937–938.
  49. ^ Bá Dương (1977), các trang. 938–942.
  50. ^ Triệu Cấu - tức là Cao Tông lên ngôi vào 1127, nhưng bị các tướng Miêu Phó và Lưu Chính Ngạn phế truất 25 ngày từ 26 tháng 3 tới 20 tháng 4 1129. Khi phục vị, bị người Nữ Chân truy đuổi và không kiểm soát được toàn bộ miền Hoa Nam cho tới cuối thập niên 1130. Xem Bá Dương (1977), các trang. 941–942.
  51. ^ Bo (1977), các trang. 944–961.
  52. ^ Bá Dương (1977), các trang. 961–962.
  53. ^ Bá Dương (1977), các trang. 963–965.
  54. ^ Bá Dương (1977), các trang. 965–969.
  55. ^ Bá Dương (1977), các trang. 970–972.
  56. ^ Bá Dương (1977), các trang. 972–973.
  57. ^ Bá Dương (1977), các trang. 977–978.
  58. ^ Bá Dương (1977), các trang. 979–981.
  59. ^ Bá Dương (1977), các trang. 981–988.
  60. ^ Bá Dương (1977), các trang. 989–990.
  61. ^ Bá Dương (1977), các trang. 991–994.
  62. ^ Bá Dương (1977), các trang. 995–996.
  63. ^ Bá Dương (1977), các trang. 996–997.
  64. ^ Bá Dương (1977), các trang. 998–1002.
  65. ^ Bá Dương (1977), các trang. 1003–1004.
  66. ^ Bá Dương (1977), trang. 1005.
  67. ^ Bá Dương (1977), các trang. 1006–1008.
  68. ^ Bá Dương (1977), các trang. 1008–1011.
  69. ^ Bá Dương (1977), các trang. 1012–1013.
  70. ^ Bá Dương (1977), các trang. 1013–1015.
  71. ^ Bá Dương (1977), các trang. 1015–1016.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bielenstein, Hans. (1980). The Bureaucracy of Han Times. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0521225108.
  • Bá Dương (1977). Trung Quốc lịch sử niên biểu (中國歷史年表). Taipei: Sing-Kuang Book Company Ltd.
  • Bol, Peter K. "Whither the Emperor? Emperor Huizong, the New Policies, and the Tang-Song Transition," Journal of Song and Yuan Studies, Vol. 31 (2001), pp. 103–134.
  • Coblin, W. South "Migration History and Dialect Development in the Lower Yangtze Watershed," Bulletin of the School of Oriental and African Studies, Vol. 65, Number 3 (2002), pp. 529–543.
  • de Crespigny, Rafe. (2007). A Biographical Dictionary of Later Han to the Three Kingdoms (23–220 AD). Leiden: Koninklijke Brill. ISBN 9004156054.
  • Ebrey, Patricia Buckley (1999). The Cambridge Illustrated History of China. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0-521-66991-X (paperback).
  • Ebrey, Patricia; Walthall, Anne; Palais, James. (2006). East Asia: A Cultural, Social, and Political History. Boston: Houghton Mifflin Company. ISBN 0618133844.
  • Gernet, Jacques. (1962). Daily Life in China on the Eve of the Mongol Invasion, 1250–1276. Stanford: Stanford University Press. ISBN 0-8047-0720-0.
  • Hartwell, Robert M. "Demographic, Political, and Social Transformations of China, 750–1550," Harvard Journal of Asiatic Studies (Volume 42, Number 2, 1982): 365–442.
  • Hennessey, William O. "Classical Sources and Vernacular Resources in "Xuanhe Yishi": The Presence of Priority and the Priority of Presence," Chinese Literature: Essays, Articles, Reviews (CLEAR), Vol. 6, No. 1/2 (Jul., 1984), pp. 33–52.
  • Hucker, Charles O. (1975). China's Imperial Past: An Introduction to Chinese History and Culture. Stanford: Stanford University Press. ISBN 0804708878.
  • Hymes, Robert P. (1986). Statesmen and Gentlemen: The Elite of Fu-Chou, Chiang-Hsi, in Northern and Southern Sung. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0521306310.
  • Mostern, Ruth. (2008). "From Battlefields to Counties: War, Border, and State Power in Southern Song Huainan," in Battlefronts Real and Imagined: War, Border, and Identity in the Chinese Middle Period, 227–252. Edited by Don J. Wyatt. New York: Palgrave MacMillan. ISBN 9781403960849.
  • Mote, Frederick W. (1999). Imperial China: 900–1800. Cambridge: Harvard University Press. ISBN 0674012127.
  • Needham, Joseph. (1972). Science and Civilization in China: Volume 1, Introductory Orientations. London: Syndics of the Cambridge University Press. ISBN 052105799X.
  • Rossabi, Morris. (1988). Khubilai Khan: His Life and Times. Berkeley, Los Angeles, London: University of California Press. ISBN 0-520-6740-1.
  • Tillman, Hoyt C. and Stephen H. West (1995). China Under Jurchen Rule: Essays on Chin Intellectual and Cultural History. Albany: State University of New York Press. ISBN 0791422739.
  • Wang, Yu-ch'uan. "An Outline of The Central Government of The Former Han Dynasty," Harvard Journal of Asiatic Studies, Vol. 12, No. 1/2 (Jun., 1949), pp. 134–187.
  • Wilkinson, Endymion. (1998). Chinese History: A Manual. Cambridge and London: Harvard University Asia Center of the Harvard University Press. ISBN 0674123378.
  • Yuan, Zheng. "Local Government Schools in Sung China: A Reassessment," History of Education Quarterly (Volume 34, Number 2; Summer 1994): 193–213.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]