Tống Chân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Chân Tông
宋真宗
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Zhenzong.jpg
Tranh vẽ Tống Chân Tông.
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 10 tháng 5 99723 tháng 3 1022
Tiền nhiệm Tống Thái Tông
Kế nhiệm Tống Nhân Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Chương Hoài hoàng hậu Phan thị
Chương Mục hoàng hậu Quách thị
Chương Hiến Minh Túc hoàng hậu Lưu Nga
Chương Ý hoàng hậu Lý thị
Chương Huệ hoàng hậu Dương thị
Chiêu Tĩnh quý phi Thẩm thị
Hậu duệ
Tên húy Triệu Đức Xương (趙德昌)
Triệu Nguyên Hưu (趙元休)[2]
Triệu Nguyên Khản (趙元侃)[3]
Triệu Hằng (趙恆)[4]
Tước hiệu Hoàng đế
Niên hiệu
Thụy hiệu

Ưng phù Kê cổ Thần công Nhượng đức Văn minh Vũ định Chương Thánh Nguyên Hiếu hoàng đế
膺符稽古神功讓德文明武定章聖

元孝皇帝[5]
Miếu hiệu Chân Tông (真宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa
Thân mẫu Nguyên Đức hoàng hậu Lý thị
Sinh 23 tháng 12 năm 968
Mất 23 tháng 3 năm 1022
Trung Quốc
An táng Vĩnh Định Lăng
Tôn giáo Phật giáo, Đạo giáo

Tống Chân Tông (chữ Hán: 宋真宗; 23 tháng 12, 968 - 23 tháng 3, 1022), là hoàng đế thứ 3 của nhà Tống. Ông trị vì từ năm 997 đến năm 1022. Ông là con trai thứ ba của Tống Thái Tông, lên ngôi sau khi vua cha qua đời năm 997.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm Khai Bảo thứ 1 (968) thời Tống Thái Tổ, tên ban đầu là Triệu Đức Xương (趙德昌), đến năm 983 đổi thành Triệu Nguyên Hưu (趙元休). Năm 986 lại đổi thành Triệu Nguyên Khản (趙元侃). Tới năm 995 khi được tấn phong làm thái tử lại đổi thành Triệu Hằng (趙恆). Tên gọi này cũng là tên kị húy khi ông lên ngôi năm 997. Năm 1022 ông qua đời tại điện Diên Khánh, hoàng cung Biện Kinh, hưởng thọ 55 tuổi, tại vị tổng cộng 26 năm.

Thuở nhỏ Triệu Hằng vống thông minh lanh lợi nên được Thái Tổ và Thái Tông thương mến. Lên 7 tuổi đã thuộc làu kinh thư. Ông hay chơi trò đánh trận giả với các huynh đệ, và thường tự xưng là nguyên soái. Trước khi lên ngôi, ông từng được phong là Hàn vương, Tương vương, Thọ vương. Ông cũng từng làm phủ doãn phủ Khai Phong.

Năm 995, Triệu Hằng được lập làm thái tử, nhưng ông lại đắc tội với hoạn quan Vương Kế Ân. Từ khi Thái Tông lâm bệnh nặng, Vương Kế Ân ngầm câu kết với Lý Xương LinhHồ Đán, đồng thời bày mưu với Lý hoàng hậu nhằm lập con trưởng Triệu Nguyên Tá làm hoàng đế. May có tể tướng Lã Đoan kịp phát hiện ra âm mưu này nên đã phò tá Triệu Hằng lên kế vị ngay trước linh cữu Thái Tông.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ trị vì của Tống Chân Tông đáng chú ý vì sự thống nhất quyền lực và sự tăng cường sức mạnh quân sự. Đất nước phồn thịnh và quân đội của Tống được tăng cường sức mạnh. Tuy nhiên, nó cũng đánh dấu sự sai lệch trong chính sách ngoại giao về phía đế quốc Khiết Đan (tức nhà Liêu) ở phía bắc mà cuối cùng dẫn tới kết quả bị bẽ mặt.

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên kế vị, Triệu Hằng tỏ rõ quyết tâm cải cáh chế độ. Trước tiên ông chọn Lã Đoan, Lý ChíLý Hàng làm lực lượng nòng cốt về chính trị, giáng chức Lý Xương Linh đồng thời tuyên bố tất cả bá quan văn võ trong và ngoài triều đều có thể tự do đề đạt ý kiến. Năm 998, Chân Tông lại tiến hành điều chỉnh nhân sự, điều chỉnh đội ngũ quan lại để xóa bỏ triệt để những thói hư tật xấu trong xã hội do tham quan ô lại gây ra. Từ khi lên ngôi ông luôn đặt nhiệm vụ trị nước lên hàng đầu, ông kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động của hoàng thân quốc thích và hoạn quan trong triều.

Đồng thời với cải cách chính trị, Chân Tông còn áp dụng rất nhiều biện pháp khác để phát triển nông nghiệp, như khuyến khích trồng dâu nuôi tằm, giảm thuế khóa, mở rộng đồn điền, khai khẩn đất hoang... Chân Tông cũng là người cho lập ra lò nung gốm sứ được tán dương nhiều nhất trên thế giới tại Cảnh Đức Trấn năm 1004, tại đây người ta tiếp tục sản xuất đồ sứ cho hoàng cung các triều đại sau này của Trung Quốc cho tới tận khi nhà Thanh sụp đổ hơn 900 năm sau. Ông cũng là người cho vận chuyển 30.000 giạ thóc giống ngắn ngày từ Phúc Kiến tới khu vực hạ du sông Trường Giang trong năm 1011-1012, để cải tạo nông nghiệp trong khu vực này.

Nhìn chung trong giai đoạn mới lên kế vị, Chân Tông luôn dốc lòng xây dựng đất nước, lại áp dụng những biện pháp tích cực để thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển nên tình hình xã hội lúc này tương đối ổn định, nhân dân được hưởng an lạc thái bình.

Chân Tông cũng là người nhấn mạnh tầm quan trọng của Đạo giáo tại triều đình. Trong thời gian trị vì của ông cái gọi là "thiên thư", trong đó người ta tán dương gia tộc họ Triệu, được cho là được phát hiện ra. Điều này diễn ra sau khi có công đức từ hoàng tộc tại Thái Sơn. Từ 1013-1015 ông đã ban hành chỉ dụ để tôn thờ Ngọc Hoàng như là vị chúa tể tối cao của Thiên đình[6].

Ông cũng là một thi nhân. Các tác phẩm nổi tiếng còn lại tới nay có Lệ học thiên, Khuyến học thi (khuyến học văn).

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Về việc duy trì mối quan hệ láng giềng, Chân Tông lại kém xa Thái Tổ, thậm chí còn không bằng Thái Tông cha ông, trước các thế lực phương Bắc ông luôn tỏ ra yếu đuối và có những suy nghĩ tiêu cực. Từ khi lên kế vị, ông dường như chưa một lần dám đối diện với sự uy hiếp quân sự của tộc Đảng Hạngnhà Liêu mà luôn chủ yếu áp dụng thế phòng thủ, thông qua một số biện pháp như khai sông lấn biển, khai khẩn ruộng nước... ngoài biên giới để xây dựng hệ thống phòng thủ tiêu cực.

Nước Liêu lúc này đang trong thời kì phồn thịnh, rất muốn dấy binh xâm lược phía Nam. Năm 1004, người Khiết Đan phát động chiến tranh chống nhà Tống, tấn công ồ ạt vào vùng Thiền Châu. Đại đa số đại thần của Tống không muốn giao tranh mà chỉ muốn hòa hoãn; duy chỉ có tể tướng Khấu Chuẩn, người đứng đầu phe thiểu số chủ chiến, là cực lực phản đối, muốn giao tranh. Ông kiên quyết chém đầu những ai chủ trương giảng hòa, đồng thời yêu cầu hoàng đế phải thân chinh đi chinh phạt ở miền Bắc. Chân Tông tuy sợ chinh chiến nhưng thấy việc đàm phán khó có thể thực hiện nên cuối cùng cũng đồng ý tới Thiền Châu (nay là khu vực phụ cận địa cấp thị Bộc Dương, tỉnh Hà Nam, phía bắc Hoàng Hà).

Việc Chân Tông thân chinh ra trận đã khích lệ tinh thần chiến đấu của đội quân tiên phong, quân Tống ồ ạt phản công quân Liêu và liên tục giành thắng lợi. Nhiệm vụ trước mắt là giành lại Ung Kích, nhưng Chân Tông không đủ dũng khí và quyết tâm và luôn tìm kiếm cơ hội để đình chiến và cầu hòa với Liêu. Quân Liêu thì do vào sâu trong lãnh thổ Tống, lương thực không đủ, tinh thần chiến đấu sa sút nên cử người sang cầu hòa với Tống. Điều này vừa hay lại đúng với tâm nguyện của Chân Tông. Mặc dù về cơ bản đã giành chiến thắng, nhưng năm 1005 triều đình nhà Tống vẫn ký hòa ước Thiền Uyên. Hiệp ước này đã tạo ra hòa bình giữa hai quốc gia trong trên 100 năm, nhưng với một giá mà nhà Tống phải ở vị trí thua sút so với nhà Liêu, với mỗi năm Tống phải nộp cho Liêu 100.000 lạng bạc và 20.000 thếp lụa. Hai nước kết nghĩa làm huynh đệ quốc (nước anh em) với Liêu Thánh Tông Da Luật Long Tự nhận Chân Tông là anh, Chân Tông gọi Tiêu thái hậu nhà Liêu là thúc mẫu. Sự chấp nhận vị trí thua sút có thể coi là tai họa trong chính sách ngoại giao của nhà Tống, trong khi việc cống nộp này, dù chậm chạp, nhưng dần dần làm hao mòn ngân khố quốc gia của Tống.

Hậu chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy mối họa bên ngoài tạm thời được loại bỏ nhưng lúc này mâu thuẫn trong nội bộ triều đình lại càng gay gắt. Sau khi kết thúc chiến tranh không lâu thì Vương ĐánVương Khâm Nhược thuộc phe chủ hòa sàm tấu với Chân Tông rằng Khấu Chuẩn coi thường tính mạng của hoàng đế. Vốn đã không ưa Khấu Chuẩn từ trước, Chân Tông vin vào cớ này cách chức ông. Từ đó mọi quyền hành trong triều đều do hai nịnh thần Vương Đán và Vương Khâm Nhược nắm giữ.

Về sau, Chân Tông rất quan tâm đến việc tế tự, ông chỉ mong được hưởng thái bình chứ không có chí lập nên công trạng gì cho đất nước. Tháng giêng năm 1022, Chân Tông dù đang mang bệnh vẫn đến Đông Hoa môn ngắm đèn lồng, khi trở về ông nằm bất động một tháng sau thì qua đời.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kì đầu cai trị Chân Tông luôn chủ trương tiết kiệm, quan tâm đến triều chính, xã hội ổn định. Sau "hòa ước Thiền Uyên" ông cách chức hiền tài, trọng dụng gian thần, quá tin vào tôn giáo, khiến cho đời sống nhân dân cơ cực, tài chính thất thoát, nền chính trị hủ bại và mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt.

Một số quan lại nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Chương Hoài hoàng hậu Phan thị (章怀皇后 潘氏, 968 - 989), người Đại Danh, con gái của Phan Mỹ (潘美).
  2. Chương Mục hoàng hậu Quách thị (章穆皇后 郭氏, 975 - 1007), con gái của Quách Thủ Văn (郭守文). 
  3. Chương Hiến Minh Túc hoàng hậu (章献明肃皇后, 968–1033), tên là Lưu Nga (刘娥), người Ích Châu, con gái của Lưu Thông (刘通), trước được sắc phong làm Mỹ nhân, sau thăng vị Tu nghi, Đức phi, Quý phi rồi thành Hoàng hậu.
  4. Chương Ý hoàng hậu Lý thị (章懿皇后 李氏, 987–1032), con gái Lý Nhân Đức (李延嗣), là cung nữ của Lưu hoàng hậu. Phong vị Uyển nghi (婉仪), thời Nhân Tông phong làm Thuận dung (顺容), rồi Thần phi (宸妃). Sau này mới truy phong làm Hoàng hậu.
  5. Chương Huệ hoàng hậu Dương thị (章惠皇后 楊氏, 984–1036), con gái Dương Tri Nghiễm (杨知俨). Thân thiết với Lưu hoàng hậu, tước vị vốn là Dương Thục phi (楊淑妃). Cùng Lưu hoàng hậu bảo dưỡng Tống Nhân Tông, sau tôn phong Hoàng thái phi (皇太妃). Khi Lưu thái hậu tạ thế, tôn làm Bảo Khánh hoàng thái hậu (保慶皇太后).
  6. Chiêu Tĩnh quý phi Thẩm thị (昭静贵妃沈氏, 994 – 1076), con gái Thẩm Kế Tông (沈继宗), cháu gái Tể tướng Thẩm Luân (沈伦). Từ vị Tài nhân (才人), lên Mỹ nhân (美人), Tiệp dư (婕妤), Sung viên (充媛) rồi Đức phi (德妃). Bà tính hiền hậu, khoan dung, không xa hoa lãng phí, Chân Tông quý mến kính trọng. Thời Nhân Tông tôn làm Quý phi (贵妃), đến khi qua đời truy tôn làm Chiêu Tĩnh quý phi (昭静贵妃).
  7. Đỗ Quý phi (貴妃杜氏, ? - 1046), tên là Quỳnh Chân (琼真), xuất gia có tên là Ngộ Chân đại sư (悟真大师). Từ vị Tiệp dư, tiến phong Sung dung (充容) rồi Hiền phi (贤妃). Sau khi qua đời mới truy tặng làm Quý phi (贵妃).
  8. Tào Hiền phi (曹贤妃, ? - 1026), tước vị là Tu viên (修媛), cô ruột của Tống Nhân Tông Tào hoàng hậu.
  9. Trần Quý phi (陳貴妃).
  10. Trần Hiền phi (陳贤妃, ? - 996).
  11. Đái Thuận dung (戴順容).
  12. Từ mỹ nhân (徐美人).
  13. Trần tài nhân (陳才人).
  • Con cái:
  1. Ôn vương Triệu Đề (赵禔). Chết non.
  2. Điện Hữu thái tử Triệu Hữu (赵祐). Chết khi 10 tuổi. Mẹ là Chương Mục hoàng hậu.
  3. Xương vương Triệu Kỳ (赵祇). Chết non.
  4. Tín vương Triệu Chỉ (赵祉).
  5. Khâm vương Triệu Kỳ (赵祈). Chết non.
  6. Nhân Tông Triệu Trinh (赵祯). Mẹ đẻ là cung nhân Lý thị, sau truy phong là Chương Ý hoàng hậu. Ông được nhận nuôi bởi Chương Hiến hoàng hậu và Chương Huệ hoàng hậu.
  7. Huệ quốc công chúa. Chết non.
  8. Thăng quốc đại trưởng công chúa Triệu Diệu Nguyên. Sau theo đạo, hiệu Thanh Hư Linh Chiếu đại sư. Em gái cùng mẹ với Tống Nhân Tông.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thương Thánh, Chính sử Trung Quốc qua các triều đại, 350 vị hoàng đế nổi tiếng, NXB Văn Hóa - Thông Tin

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chết khi 10 tuổi.
  2. ^ Tên của ông được đổi thành Nguyên Hưu năm 983.
  3. ^ Tên của ông được đổi thành Nguyên Khản năm 986.
  4. ^ Tên của ông được đổi thành Hằng năm 995 khi được tấn phong thái tử. Tên này thành kỵ húy khi ông lên ngôi vua năm 997.
  5. ^ Đây là thụy hiệu cuối cùng đặt năm 1047.
  6. ^ Jonathan D. Spence. God's Chinese Son. New York, 1996, tr.42