Tống Khâm Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Khâm Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Songqinzong Chinghong.jpg
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 19 tháng 1 năm 11269 tháng 1 năm 1127[1]
Tiền nhiệm Tống Huy Tông
Kế nhiệm Tống Cao Tông
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên húy Triệu Đản (趙亶)
Triệu Huyên (趙烜)[2]
Triệu Hoàn (趙桓)[3]
Niên hiệu Tĩnh Khang: 1126-1127
Thụy hiệu Cung văn Thuận đức Nhân hiếu Hoàng đế
(恭文順德仁孝皇帝)
Miếu hiệu Khâm Tông (欽宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Tống Huy Tông
Thân mẫu Hiển Cung hoàng hậu
Sinh 23/5/1100
Mất 1156 hay 1161?
Mãn Châu

Tống Khâm Tông (chữ Hán: 宋欽宗; 23 tháng 5, 1100 - 1156) là vị hoàng đế thứ 9 của Đại Tống cũng và là vị hoàng đế cuối cùng của nhà Bắc Tống. Ông lên ngôi năm 1126 sau khi vua cha là Tống Huy Tông thoái vị vì sợ hãi lực lượng mạnh mẽ của nhà Kim.

Năm 1127, quân Kim đánh vào kinh đô Khai Phong của nhà Tống. Quân Tống thất bại, toàn bộ miền bắc Trung Hoa rơi vào tay nhà Kim. Sau đó, hoàng tộc nhà Bắc Tống còn sót lại đã vượt sông Trường Giang lui xuống phía Nam, thành lập nhà Nam Tống (1127-1279). Em trai thứ chín của ông là hoàng tử Triệu Cấu lên ngôi hoàng đế, tức Tống Cao Tông. Nhà Nam Tống thiết lập kinh đô ở Hàng Châu. Vua Khâm Tông và vua cha Huy Tông trở thành hai vị vua mất nước và phải chịu cảnh sống lưu đày cũng như cái chết nơi đất khách quê người.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Hoàn (赵桓) là con trai cả của Tống Huy Tông Triệu Cát, ông được lập làm thái tử năm 1115. Trong mắt Huy Tông người em thứ ba của Triệu Hoàn là Vận vương Triệu Khải (趙楷) mới là người có khí chất phù hợp với ngôi hoàng đế. Triệu Khải từ nhỏ là đã chứng tỏ mình là người có tài khi dự thi khoa cử và đỗ trạng nguyên. Tuy vậy, Huy Tông không muốn việc phế trưởng lập thứ có thể gây nên hậu quả không tốt sau này, thêm nữa lại có hoạn quan Lương Sư ra sức can gián và bảo vệ nên Triệu Hoàn bảo toàn được ngôi thái tử.

Hoàng đế cuối cùng của Bắc Tống[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa đông năm 1125, Kim diệt Liêu và bắt đầu cuộc tổng tiến công vào Tống. Huy Tông do quá lo sợ trước quân Kim đã nhường ngôi cho Triệu Hoàn và giao lại cho Triệu Hoàn trách nhiệm đánh trả quân xâm lược. Triệu Hoàn lên ngôi lấy niên hiệu là Tĩnh Khang.

Khi mới lên ngôi phải đối diện với tình thế nguy cấp, Triệu Hoàn tỏ ra luôn quan tâm tới vấn đề chính trị, hàng ngày đều đặn lên chầu tiếp kiến quần thần, phê duyệt tấu chương và biểu sớ do tướng sĩ và dân chúng các nơi dâng lên. Trong cuộc sống riêng tư, ông cũng chủ trương sống tiết kiệm, không tiêu xài hoang phí. Nhưng do thiếu kinh nghiệm và không có khả năng về chính trị cũng như mưu lược xâu xa nên ông cũng đành chịu trận trước những cuộc xâm lược liên tiếp của Kim. Năm 1126, Diệu Châu thất thủ, quân Kim vượt sông Hoàng Hà, các đại thần trong triều khuyên ông dời đô về phía nam, Triệu Hoàn nghe theo, chuẩn bị xa giá để dời đô. Riêng có Binh bộ thị lang Lý Cương cương quyết chủ trương cố thủ Biện Kinh (Khai Phong), lúc Triệu Hoàn dời đi Lý Cương chạy theo kêu gọi Cấm vệ quân hô lớn: "Nguyện tử thủ!" để tỏ rõ lòng trung thành. Triệu Hoàn thấy vậy quyết định ở lại. Lý Cương đích thân chỉ huy quân đội, các tướng sĩ hăm hở tác chiến đã đẩy lùi những đợt tấn công đầu tiên của Kim. Quân Kim áp sát Khai Phong với chỉ 6 vạn kị binh, phải đối mặt với các bức tường thành cao không sao vượt qua được, đành phải quay lại phương Bắc. Tuy vậy, nhà Tống đã buộc phải ký hòa ước với nhà Kim, đồng ý chi trả mọi khoản chiến phí rất tốn kém và phải chịu triều cống cho nhà Kim mỗi năm.

Nhưng ngay cả các điều khoản này cũng không thể cứu vãn nhà Tống. Chỉ nửa năm sau, vào tháng 9 năm 1126, Quân đội nhà Kim lại quay trở lại phương Nam một lần nữa, và lần này họ đã quyết định phải vượt qua các bức tường thành Khai Phong. Sau cuộc vây hãm ác liệt, cộng thêm việc Lý Cương đã bị những người phái chủ hoà như tể tướng Lý Bang Ngạn điều đi khỏi Khai Phong, quân đội nhà Kim cuối cùng đã vào được thành Khai Phong ngày 9 tháng 1 năm 1127 và bắt đầu thực hiện các vụ cướp bóc, hãm hiếp, thảm sát trong nhiều ngày. Huy Tông, Khâm Tông, cùng các tôn thất cũng như bách quan của Triều đình cùng hậu cung đã bị quân Kim bắt giữ trong Tĩnh Khang chi loạn. Bắc Tống diệt vong.

Triệu Hoàn cùng cha là Huy Tông Triệu Cát bị giải đến nước Kim và được phong tước hầu để chịu sỉ nhục. Không lâu sau đó ông bị điều đến Hàn Châu, rồi Ngũ Quốc và cuối cùng là Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay), tại mỗi nơi ông đều phải sống trong sự giày vò về tinh thần. Năm 1161 Kim Hải Lăng Vương Hoàn Ngạn Lượng bổ nhiệm ông làm tiểu đội trưởng tiểu đội kỵ binh, không lâu sau đó ông ngã ngựa và chết. Thi hài ông được Kim Thái Tông đem chôn ở huyện Củng, sau này Kim Thế Tông dời phần mộ ông về khu lăng mộ của các hoàng đế Bắc Tống thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn trị vị ngắn ngủi Khâm Tông tỏ ra là người chịu khó siêng năng, sống cần kiệm. Tuy vậy ông tỏ ra yếu đuối trong cuộc chiến chống Kim và phải trả giá bằng việc mất nước và cái chết nơi đất khách quê người.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vợ:
    • Nhân Hoài hoàng hậu Chu thị (仁懷皇后 朱氏, 1102 - 1127), người Biện Kinh, con gái của Chí vũ khang quân Tiết độ sứ Chu Bá Tài (朱伯材). Khi Khâm Tông còn là Thái tử thì Chu thị đã được lập làm Thái tử phi. Năm 1125, Khâm Tông lên ngôi, phong Chu thị làm Hoàng hậu, truy phong Chu Bá Tài làm Ân Bình quận vương (恩平郡王).
    • Chu Thận Đức phi (朱慎德妃), em gái của Nhân Hoài hoàng hậu.
    • Tài nhân Trịnh Khánh Vân (才人鄭慶雲).
    • Tài nhân Hàn Tĩnh Quan (才人韓靜观).
    • Tài nhân Lưu Nguyệt Nga (才人劉月娥).
    • Tài nhân Lô Thuận Thục (才人盧順淑).
    • Tài nhân Hà Phụng Linh (才人何鳳齡).
    • Tài nhân Địch Ngọc Huy (才人狄玉輝).
    • Phu nhân Thích Tiểu Ngọc (夫人戚小玉)
    • Phu nhân Trịnh Nguyệt Cung (夫人鄭月宮).
    • Phu nhân Tưởng Trường Kim (夫人蔣長金).
    • Phu nhân Bào Xuân Diệp (夫人鮑春蝶).

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thương Thánh, Chính sử Trung Quốc qua các triều đại, 350 vị hoàng đế nổi tiếng, NXB Văn Hóa - Thông Tin

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Quân đội nhà Kim tiến vào Khai Phong ngày 9 tháng 1 năm 1127, coi như kết thúc triều đại của ông.
  2. ^ Đổi thành Huyên tháng 2 năm 1102.
  3. ^ Đổi thành Hoàn tháng 12 năm 1102. Tên này là tên kị húy khi lên ngôi năm 1126.