Tống Thần Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Thần Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Shenzong of Song.jpg
Tranh vẽ Tống Thần Tông.
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 26 tháng 1 10671 tháng 4 1085
Tiền nhiệm Tống Anh Tông
Kế nhiệm Tống Triết Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Khâm Thánh Hiến Túc hoàng hậu Hướng thị
Khâm Thành hoàng hậu Chu thị
Khâm Từ hoàng hậu Trần thị
Hiền phi Lâm thị
Huệ Mục hiền phi Vũ thị
Quý phi Tống thị
Hậu duệ
Tên thật Triệu Trọng Châm (趙仲鍼)
Triệu Húc (趙頊)[1]
Niên hiệu
Thụy hiệu Thể Nguyên Hiển Đạo Pháp Cổ Lập Hiến Đế Đức Vương Công Anh Văn Liệt Vũ Khâm Nhân Thánh Hiếu hoàng đế
(體元顯道法古立憲帝德王功英文烈武欽仁聖孝皇帝)[2]
Miếu hiệu Thần Tông (神宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Anh Tông Triệu Thự
Thân mẫu Tuyên Nhân Thánh Liệt hoàng hậu Cao Thao Thao
Sinh 25 tháng 5, năm 1048
Mất 1 tháng 4, năm 1085
Trung Quốc
An táng Vĩnh Dụ Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Tống Thần Tông (chữ Hán: 宋神宗, 25 tháng 5, 1048 - 1 tháng 4, 1085), tên thật là Triệu Húc (趙頊), là hoàng đế thứ 6 nhà Tống và cũng là hoàng đế thứ 6 của nhà Bắc Tống. Ông lên ngôi năm 1067, sau khi vua cha là Tống Anh Tông mất và trị vì tới khi mất vào năm 1085. Trong 18 năm cai trị của mình, ông đặt hai niên hiệu như sau:

  • Hy Ninh (熙宁, 1068-1077)
  • Nguyên Phong (元丰, 1078-1085)

Thụy hiệu của ông là Thánh Hiếu Hoàng Đế (聖孝皇帝), miếu hiệuThần Tông (神宗). Trong thời trị vì của ông, nhà Tống bị các vương quốc Tây HạLiêu đánh phá, nhà Tống phải cống nạp nhiều vàng bạc, lụa là cho Liêu, sau đó nhà Tống cũng nhanh chóng bị vương quốc Tây Hạ uy hiếp và lại phải cống nạp cho Tây Hạ như đã cống nộp cho nhà Liêu. Năm 1085, Thần Tông băng hà, Triệu Hú (趙煦) lên thay tức là hoàng đế Tống Triết Tông.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Thần Tông ham học từ nhỏ, ông rất thích đọc sách và quan tâm đến việc quốc gia đại sự, đam mê đến quên ăn quên ngủ. Khi thấy đất nước ngày một suy yếu mà triều đình thì lại một mực nhượng bộ để thỏa hiệp với LiêuTây Hạ, Thần Tông luôn có ý định muốn xoay chuyển tình thế.

Thời trị vì của Thần Tông là lúc mâu thuẫn xã hội của Bắc Tống đang diễn ra gay gắt, ba tệ nạ lớn xuất hiện từ đầu thời Tống là quan lại vô dụng, tướng sĩ bất tài và chi tiêu hoang phí diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Về tài chính xuất hiện tình trạng bội chi, đất đai bị thôn tính, làm cho nước nhà điêu đứng, dân chúng lầm than, trộm cướp hoành hành. Thần Tông là một hoàng đế tràn đầy tâm huyết, trong thời gia đầu mới lên trị vì ông rất hăng hái cải cách chính trị. Trước tiên ông hạ chiếu mong được nghe lời can gián từ quần thần, đồng thời quyết tâm tìm một đại thần vừa có tài trí vừa có tâm huyết để làm trợ thủ giúp ông hoành thành sự nghiệp cải cách, và ông đã tìm ra Vương An Thạch.

Vương An Thạch tự là Giới Phủ, hiệu Bán Sơn, người Lâm Xuyên, mọi người thường gọi là Lâm Xuyên tiên sinh. Năm 22 tuổi sau khi đỗ tiến sĩ được bổ nhiệm làm quan địa phương ở Giang Đông, Lưỡng Triết và Hoài Nam. Trong hơn 20 năm nhậm chức ông luôn thấu hiểu nỗi khổ của người dân, hiểu rõ về tình hình xã hội lúc bấy giờ, đó chính là những vốn kinh nghiệm phong phú mà ông tích lũy được để thực hiện công cuộc cải cách sau này.

Từ thời Nhân Tông Vương An Thạch đã viết "Thượng hoàng đế ngôn sự thư" nói lên sự khó khăn về tài lực trong thiên hạ, từ chế độ quan lại bại hoại, không coi pháp luật ra gì, tới việc các văn thần vốn không hiểu biết gì về binh nghiệp lại được giao trọng trách trấn giữ biên cương... Ông chủ trương cải cách chế độ tuyển chọn quan lại, chỉ bổ nhiệm những người thực sự có tài làm quan. Tiếp đó ông đưa ra phương án quản lý tài chính, chủ trương phát triển sản xuất, tăng thu nhập để giải quyết các khó khăn về tài chính. Đáng tiếc là Nhân Tông lại thiếu chí tiến thủ nên bản tấu của ông không được Nhân Tông và các đại thần chấp chính coi trọng.

Trước khi kế vị, Thần Tông từng rất tán thành "Ngôn sự thư" của Vương An Thạch, sau khi triệu kiến Vương An Thạch, hoàng đế cũng đánh giá rất cao vốn tri thức của ông ta. Lúc đó cả quân và dân cũng đều đặt nhiều kỳ vọng vào Vương An Thạch, họ mong ông sẽ lên chấp chính để thay đổi hiện trạng tiêu cực này. Năm 1069 Thần Tông bổ nhiệm Vương An Thạch là tham tri chính sự (tức phó tướng) và bắt đầu cho triển khai công cuộc cải cách, thiết lập 3 ti làm cơ quan chỉ đạo công cuộc cải cách chính trị.

Dưới sự đốc thúc của Thần Tông, Vương An Thạch đã đưa ra một chế độ mới, chủ yếu phân thành ba phần, đó là nước giàu, binh mạnh và cải cách chế độ thi cử. Lệnh cải cách vừa ban ra trong ngoài triều lập tức xáo động. Nguyên nhân là do những cải cách này còn nhiều mặt chưa được hoàn thiện, nhưng bên cạnh đó một số nội dung cải cách lại động chạm trực tiếp đến lợi ích của một bộ phần quan lớn, địa chủ và thương nhân, vì vậy hầu hết các biện pháp cải cách đều bị phản đối quyết liệt. Ngay cả một số trung thần cũng lên tiếng phản đối như Tô Triết phản đối chính sách làm dân giàu, Tô Thức phản đối cải cách chế độ thi cử, ngay cả thái hoàng thái hậu, hoàng thái hậu và hoàng hậu cũng đứng về phe những người phản đối.

Dưới áp lực của phe phản đối, Thần Tông từng hai lần cách chức Vương An Thạch để xoa dịu tình hình. Nhưng ông không muốn bỏ dỡ giữa chừng công cuộc cải cách của mình, trong 10 năm từ khi Vương An Thạch bị cách chức đến khi Thần Tông qua đời, một mình ông vẫn tiếp tục thực hiện một bộ phận các phương án cải cách dưới một hình thức mới, trong đó việc cải cách chế độ quan lại và tăng cường chế độ biên chế hộ tịch đối với binh lính trở thành trọng tâm của công cuộc cải cách. Giai đoạn này được lịch sử gọi là "Cải cách Thần Tông"

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ý định thay cũ đổi mới để làm cho dân giàu nước mạnh, Thần Tông còn muốn thay đổi quan hệ thỏa hiệp với LiêuTây Hạ để từng bước thống nhất Trung Quốc.

Năm 1071, ông bổ nhiệm Vương Thiều làm Thao Hà an phủ ti trưởng quan, chuẩn bị phát động cuộc chiến tranh với nhà Tây Hạ. Năm sau ông lại bổ nhiệm Vương Thiều làm tướng quân dẫn quân tấn công bọn quý tộc Thổ Phồn và đã mở rộng lãnh thổ được hơn 1000 dặm, chiêu hàng hơn 30 vạn người. Khi triều đình quyết định thiết lập lộ Hy Hà ở nơi này, Vương Thiều được bổ nhiệm làm kinh lược an phủ sứ. Năm 1073 Vương Thiều dẫn quân đánh chiếm Điệp Châu, Thao Châu, Mân Châu.... Đây là những thắng lợi chưa từng có trong các cuộc chiến tranh với LiêuTây Hạ từ khi thiết lập triều Bắc Tống.

Năm 1075, nghe lời khuyên của tể tướng Vương An Thạch, Tống Thần Tông ráo riết chuẩn bị xâm lược nước Đại Việt phương Nam nhằm tăng nhuệ khí, mở mang bờ cõi để thu thuế và sung thêm quân để đánh LiêuTây Hạ. Tướng Lý Thường Kiệt của Đại Việt biết tin, dùng chiến thuật "tiết phát chế nhân", đưa binh bất ngờ bắc tiến, chiếm được Khâm Châu, Liêm Châu của nhà Tống, bao vây cả Ung Châu - nơi có danh tướng Tô Giám trấn thủ. Các thành trì xung quanh đưa quân đến giải vây thì bị quân Lý Thường Kiệt đánh bại ở Côn Luân. Sau 42 ngày vây thành, Ung Châu thất thủ, Tô Giám bị Lý Thường Kiệt ép phải tự sát chết. Nhân dân nhà Tống lại ra đón tiếp quân Lý Thường Kiệt trong niềm hân hoan. Lý Thường Kiệt sợ bị đánh úp nên đã rút lui về Đại Việt phòng thủ đợi quân Tống sang. Đầu năm 1076 nhà Tống mới biết tin, Tống Thần Tông cho Triệu TiếtQuách Quỳ thống lĩnh 30 vạn quân đánh Đại Việt. Năm 1077, quân Tống giao chiến với quân Lý Thường Kiệt tại phòng tuyến sông Như Nguyệt (nước Đại Việt) bất phân thắng bại, cầm cự lâu ngày. Lý Thường Kiệt muốn cầu hòa nhưng Triệu Tiết không chấp nhận. Lý Thường Kiệt dùng mưu làm bài thơ thần "Nam quốc sơn hà", sai người đọc to ở đền thờ Trương Hát, Trương Hống. Quân Tống ban đêm nghe thấy thì tinh thần rã rời. Lý Thường Kiệt cho quân sang sông đánh bại quân Tống, Triệu Tiết bị giết, Quách Quỳ phải chấp nhận cầu hòa và rút quân. Đây là một sai lầm của Tống Thần Tông khiến dân chúng không ủng hộ nhà Tống.

Năm 1081, mẫu hậu của quốc vương Tây Hạ Lý Bỉnh Thường chuyên quyền, Thần Tông cho rằng đây là thời cơ để tấn công Tây Hạ. Ông điều động 20 vạn quân chia làm 5 ngả tiến đánh thành Linh Châu, nhưng bị quân Tây Hạ phá đê dìm chết, cắt đứt đường lương thảo khiến quân Tống bại trận. Năm sau Tống cho xây dựng thành Vĩnh Lạc ở vùng biên giới làm nơi đóng quân, hòng bao vây Tây Hạ ở Hưng Châu. Không lâu sau đó Tây Hạ điều 30 vạn quân bao vây thành Vĩnh Lạc, thành bị chiếm đóng, tướng lĩnh nhà Tống tử vong vô số, còn bị tổn thất mất 20 vạn nhân công. Sau khi nghe tin Thần Tông khóc nức nở trước mặt quần thần, từ đó ông phải duy trì các cuộc đàm phán hòa bình với Tây Hạ, hàng năm đều phải cống nạp đều đặn.

Năm 1085, thất bại trong chiến lược quân sự ở vùng biên giới tây bắc khiến tinh thần của Thần Tông bị sa sút nghiêm trọng. Bệnh tình ông trở nặng và không lâu sau đó thì qua đời.

Các danh tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Khâm Thánh Hiến Túc hoàng hậu Hướng thị (欽聖憲肅皇后 向氏, 1042 - 1102), cháu gái Tể tướng Hướng Mẫn Trung (向敏中). Đến khi Tống Triết Tông qua đời, ủng hộ lập Đoan vương Triệu Cát (趙佶) lên nối ngôi.
  2. Khâm Thành hoàng hậu Chu thị (欽成皇后 朱氏, 1052 - 1102), vốn hộ Thôi (崔), cha là Thôi Kiệt (崔杰). Sau mẹ là Lý thị cải giá lấy Chu Sĩ An (朱士安) mới mang họ Chu. Từ vị Tài nhân (才人) tấn phong Đức phi (德妃). Khi Triết Tông hoàng đế đăng cơ, tấn phong Thánh Thụy hoàng thái phi (聖瑞皇太妃), sau tôn lên Hoàng thái hậu (皇太后). Mẹ của Tống Triết Tông.
  3. Khâm Từ hoàng hậu Trần thị (欽慈皇后 陳氏, 1057 - 1089), phong vị Mỹ nhân (美人), sau khi Thần Tông hoàng đế băng, quá đau buồn mà sanh bệnh qua đời. Triết Tông truy tôn là Quý nghi (貴儀), Hoàng thái phi (皇太妃) rồi Hoàng hậu. Mẹ của Tống Huy Tông.
  4. Hiền phi Lâm thị (1052 - 1090), tên là Lâm Trinh (林贞), người huyện Nam Kiến, cháu gái của Tam ti sử Lâm Đặc (林特). Bà nhập cung lúc còn nhỏ, do Phùng Hiền phi của Tống Nhân Tông bảo trợ và nuôi dưỡng. Sau được Thần Tông hoàng đế lâm hạnh, sách phong Vĩnh Gia quận quân (永嘉郡君), rồi Mỹ nhân (美人), Tiệp dư (婕妤).
  5. Huệ Mục hiền phi Vũ thị (惠穆賢妃武氏).
  6. Quý phi Tống thị (貴妃宋氏).
  7. Quý phi Hình thị (貴妃邢氏).
  8. Thục phi Trương thị (淑妃張氏).
  9. Hiền phi Phùng thị (賢妃馮氏).
  10. Hiền phi Dương thị (賢妃楊氏).
  11. Tiệp dư Chu thị (婕妤朱氏).
  12. Tiệp dư Tiền thị (婕妤錢氏).
  13. Tiệp dư Quách thị (婕妤郭氏).
  14. Chiêu nghi Câu thị (昭儀勾氏).
  • Con cái: Tống Thần Tông có 14 con trai và 10 con gái.
  1. Thành vương Triệu Dật (趙佾), mẹ là Tống Quý phi.
  2. Huệ vương Triệu Cận (趙僅), mẹ là Hình Quý phi.
  3. Đường Ai Hiến vương Triệu Tuấn (趙俊), mẹ là Tống Quý phi.
  4. Bao vương Triệu Thân (趙伸).
  5. Ký vương Triệu Giản (趙僩), mẹ là Hình Quý phi.
  6. Quân quốc công →Duyên An quận vương →hoàng thái tử → Tống Triết Tông Triệu Hú (趙煦), mẹ là Khâm Thành hoàng hậu.
  7. Dự Điệu Huệ vương Triệu Giá (趙價), mẹ là Hình Quý phi.
  8. Từ Xung Huệ vương Triệu Thích (趙倜), mẹ là Hình Quý phi.
  9. Nghi quốc công →Đại Ninh quận vương →Thân vương →Từ Châu mục, Yên vương→Ngô Vinh Mục vương Triệu Tất (趙佖), mẹ là Huệ Mục hiền phi.
  10. Nghi vương Triệu Vĩ (趙偉), chết sớm. Mẹ là Quách Tiệp dư.
  11. Ninh quốc công →Toại Ninh quận vương →Đoan vương → Tống Huy Tông Triệu Cát (趙佶), mẹ là Khâm Từ hoàng hậu
  12. Thành quốc công →Hàm Ninh quận vương →Sân vương →Vệ vương →Ngụy vương →Yên vương Triệu Hu (趙俁), mẹ là Lâm Hiền phi.
  13. Hòa quốc công →Phổ Ninh quận vương →Giản vương →Ký Châu mục, Hàn vương→Sở Vinh Hiến vương Triệu Tự (趙似), mẹ là Khâm Thành hoàng hậu.
  14. Kỳ quốc công →Vĩnh Ninh quận vương →Mục vương →Định vương →Đặng vương →Việt vương Triệu Ty (趙偲), mẹ là Lâm Hiền phi.
  15. Chu quốc trưởng công chúa (周國長公主), mẹ là Khâm Thánh Hiến Túc hoàng hậu.
  16. Sở quốc công chúa (楚國公主), mẹ Trương thục phi.
  17. Đường quốc trưởng công chúa (唐国长公主).
  18. Đàm quốc hiền hiếu trưởng công chúa (潭国贤孝长公主), mẹ là Tống Quý phi.
  19. Vận quốc công chúa (郓國公主).
  20. Lộ quốc công chúa (潞國公主), mẹ là Chu đức phi.
  21. Hình quốc công chúa (邢國公主), mẹ là Lâm Hiền phi.
  22. Bân quốc công chúa (邠國公主).
  23. Cổn quốc công chúa (衮國公主).
  24. Từ quốc trưởng công chúa (徐国长公主), mẹ là Khâm Thành hoàng hậu.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thương Thánh, Chính sử Trung Quốc qua các triều đại, 350 vị hoàng đế nổi tiếng, NXB Văn Hóa - Thông Tin

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên của ông được đổi thành Húc năm 1063 khi phụ thân ông lên ngôi. Tên này thành kỵ húy khi ông lên ngôi vua năm 1067.
  2. ^ Đây là thụy hiệu cuối cùng đặt năm 1113.