Tống Thái Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Thái Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Taizong of Song.jpg
Tranh vẽ Tống Thái Tông.
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 15 tháng 11 9768 tháng 5 997
Tiền nhiệm Tống Thái Tổ
Kế nhiệm Tống Chân Tông
Thông tin chung
Hậu duệ Xem văn bản.
Tên húy Triệu Khuông Nghĩa (趙匡義)
Triệu Quang Nghĩa (趙光義)[1]
Triệu Quýnh (趙炅)[2]
Niên hiệu
Thụy hiệu Chí nhân Ứng đạo Thần công Thánh đức Văn Võ Duệ liệt Đại minh Quảng hiếu hoàng đế
至仁應道神功聖德文武睿烈大明廣孝皇帝[3]
Miếu hiệu Thái Tông
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Triệu Hoằng Ân
Sinh 20 tháng 11 năm 939
Mất 8 tháng 5 năm 997
Trung Quốc
An táng Vĩnh Hy Lăng

Tống Thái Tông (20 tháng 11, 9398 tháng 5, 997) là vị hoàng đế thứ hai của nhà Bắc Tống trong lịch sử Trung Quốc, trị vì từ năm 976 đến khi qua đời. Ông tên thật là Triệu Khuông Nghĩa.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Khuông Nghĩa là con của Triệu Hoằng Ân, quan võ đời Hậu Chu. Anh ruột ông, Triệu Khuông Dẫn là hoàng đế khai quốc (Tống Thái Tổ) của nhà Bắc Tống. Tương truyền thuở còn nhỏ, đạo sĩ trên núi Hoa Sơn là Trần Đoàn khi nhìn thấy mẹ của Triệu Khuông Dẫn dùng quang gánh quẩy cả hai anh em trên vai đã cảm thán nói rằng: "Người ta nói ngày nay không có chân long thiên tử, vậy mà giờ này lại có người dùng quang gánh quẩy hai thiên tử"

Năm 960, khi Triệu Khuông Dẫn lên ngôi, ông đổi tên thành Triệu Quang Nghĩa vì kiêng húy chữ “Khuông” của vua anh[4]. Tới năm 977, sau khi lên ngôi ông lại đổi tên thành Triệu Quýnh. Đây là tên kị húy của ông.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 976, Tống Thái Tổ qua đời, Triệu Quýnh lên thay, tức là vua Tống Thái Tông. Triệu Quang Nghĩa lên kế vị ngai vàng với tư cách là em trai của hoàng đế, trong thế tập phong kiến chính thống thì việc này không được coi là danh chính ngôn thuận, chưa kể trong cuộc chiến tranh thống nhất các nước chư hầu ông cũng không có chiến tích gì đáng kể. Vì thế để củng cố ngôi vị ông buộc phải làm tốt hai việc: hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước và dùng văn đức để trị thiên hạ.

Ông tiếp tục thực hiện sách lược thống nhất "trước nam sau bắc" của Thái Tổ, buộc hai nước Ngô ViệtChương Tuyền phải dâng sớ đầu hàng. Sau khi phần phía nam ổn định, Triệu Quang Nghĩa bắt đầu tập trung binh lực để tiêu diệt chính quyền Bắc Hánnhà Liêu ở miền Bắc.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 979 Tống Thái Tông chia quân làm bốn ngả rồi phát động tiến công nhà Bắc Hán. Ông tiếp thu bài học của Chu Thế Tông phái người chặn quân viện trợ của nhà Liêu. Quân Tống nhanh chóng đánh chiếm được Thái Nguyên, sau đó bao vây bên ngoài thành để cắt đứt nguồn viện trợ. Quân viện trợ của Liêu bị đánh tan tác, tướng nhà Liêu là Da Luật Đức Liệt tử trận. Sau 5 tháng cầm cự gian khổ trong tình thế không có viện trợ, quân Bắc Hán bắt đầu ra hàng, vua Bắc Hán là Lưu Kế Nguyên đành dâng biểu xin đầu hàng. Nhà Bắc Hán diệt vong, cục diện cát cứ của mười nước thời Ngũ Đại Thập Quốc kéo dài mấy chục năm đến đây kết thúc.

Sau khi tiêu diệt Bắc Hán, Triệu Quang Nghĩa muốn giành lại 16 châu U Vân đã bị Thạch Kính Đường nhượng lại cho Liêu. Trên đà thắng lợi, quân Tống tấn công Liêu, không lâu sau đó chiếm được Dịch Châu và Trác Châu, sau đó tiến quân xuống phía Nam áp sát thành Nam Kinh của Liêu, chia quân thành bốn hướng tấn công thành. Nhưng do thời gian chiến đấu kéo dài, tinh thần và sức lực của binh sĩ đều suy giảm, quân Liêu lại chống trả mạnh mẽ nên mọi nỗ lực tấn công đều không thành. Không lâu sau quân viện trợ của Liêu được điều đến, hợp với quân trong thành tấn công từ hai mặt, quân Tống thất bạt thảm hại, Tống Thái Tông cũng suýt bị bắt sống.

Chiến tranh Tống-Việt năm 981 là một cuộc chiến tranh giữa Đại Tống thời Tống Thái Tông và Đại Cồ Việt thời Lê Đại Hành diễn ra từ tháng 1 đến tháng 4 năm 981 trên lãnh thổ Đại Cồ Việt. Kết quả, quân và dân Đại Cồ Việt đã đánh bại quân đội Đại Tống.

Năm 986 Triệu Quang Nghĩa lại phái quân chinh phạt Liêu, lần này ông không thân chinh ra trận mà cử Tào Bân, Mễ Tín, Điền Trọng Tiến, Phan MỹDương Nghiệp chia quân làm ba ngả tiến công. Lúc đầu tình hình tiến triển rất thuận lợi, tin thắng trận liên tiếp báo về. Nhưng Triệu Quang Nghĩa lại ngang ngạnh cố chấp, luôn kiểm soát chặt chẽ quyền chỉ huy quân đội, làm ảnh hưởng đến việc điều phối binh lực của các tướng lĩnh, nên quân lệnh luôn không được truyền đến kịp thời, cộng thêm sự hợp tác của ba ngả quân không được chặt chẽ, kết quả là quân Tống bị quân Liêu đánh tan tác. Phần lớn binh lính của Dương Nghiệp chết trận, bản thân ông bị quân Liêu bắt sống, sau đó ông tuyệt thực ba ngày rồi chết. Sau cái chết của ông, tình hình biên ải trở nên vô cùng hỗn loạn, tướng lĩnh ở Vân Châu, Ứng Châu và Sóc Châu bỏ thành chạy thoát thân, thế là ba châu lại rơi vào tay quân Liêu. Quân Liêu được thế thừa thắng tấn công ngược lại vào Tống, các vùng Thâm Châu, Đức Châu và Hình Châu bị giày xéo, dân chúng vùng biên giới chịu những tổn thất vô cùng nặng nề.

Sự tự tin mù quáng và ngang ngạnh cố chấp của Triệu Quang Nghĩa cho thấy ông kém xa Thái Tổ về khả năng tác chiến. Sau hai lần Bắc phạt bất thành, ông bắt đầu rơi vào tình thế khó xử: nên chiến hay nên hòa với Liêu. Vì sự chần chừ của ông nên các tướng trấn giữ biên ải cũng chỉ cầm cự qua ngày, từ đó lực lượng tác chiến với quân Liêu giảm dần, tinh thần chiến đấu của quân đội nhà Tống ngày càng sa sút.

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Dụng võ không thành, Thái Tông chuyển sang dụng văn. Là vị hoàng đế đầu tiên từ thời Ngũ đại thập quốc không theo nghiệp võ, ông có nhiều điểm nổi bật trong việc dụng văn trị nước. Ông là người sáng lập, tu bổ và hoàn thiện các quy chế của nhà Tống, đó chính là cơ sở để thiết lập chế độ chính trị, quân sự, văn hóa và kinh tế của nhà Tống.

Thi cử[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Quang Nghĩa cho cho phát triển chế độ thi tuyển nghiêm ngặt và hoàn bị. Các kỳ thi chủ yếu dành cho văn nhân, chỉ cần có tài văn chương và thơ phú thì đều có thể trúng tuyển. Qui mô tuyển chọn được mở rộng, chế độ thi cử nghiêm ngặt, đề thi được niêm phong cẩn thận, phần thi vấn đáp cho đích thân ông chủ trì.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Tông rất chú trọng phát triển văn hóa. Ông cho xây dựng chiêu văn quán, sử quán và Tập Hiền viện, đặt tên là Sùng Văn viện. Hai từ "sùng văn" thể hiện rõ phương châm trị nước của Triệu Quang Nghĩa. Ngoài ra ông còn tập hợp các văn nhân để biên soạn các bộ sách lớn như "Thái bình ngự lãm", "Văn uyển anh hoa", "Thái bình quảng ký",... Những bộ sách này đều là những tư liệu quý báu để người đời sau nghiên cứu về văn hóa lịch sử Trung Quốc cổ đại.

Triệu Quang Nghĩa cũng là người khởi đầu cho thói quen tiếp thu bài học kinh nghiệm trị nước trong lịch sử cho các hoàng đế triều Tống. Ông quy định mỗi ngày phải tự đọc ba cuốn "Thái bình ngự lãm", có những lúc do bận việc chính sự không thể hoàn thành nhiệm vụ đọc sách đúng hẹn, ông tận dụng nốt những lúc rảnh rỗi để đọc bù. Các đại thần khuyên không nên vắt kiệt sức, ông nói: "Đọc sách là việc hữu ích, ta cảm thấy không mệt mỏi". Thái Tông luôn quan tâm đến việc triều chính, thậm chí mất ăn mất ngủ để tuyển chọn nhân tài. Ông yêu thích thư pháp và có quan điểm không khắt khe về tôn giáo, nhưng nói chung ông tôn sùng Đạo giáo hơn Phật giáo.

Thanh trừng phe phái[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên ngôi Triệu Quang Nghĩa rất lo lắng đất nước sẽ lâm vào cảnh loạn lạc, nên lúc nào ông cũng đề phòng không để các võ tướng chuyên quyền lộng hành. Nhưng điều làm ông quan tâm hơn cả chính là người trong nhà. Trong cuộc chiến lần thứ nhất với Liêu, Thái Tông và lực lượng nòng cốt bị ly tán, quần thần thấy đất nước không thể một ngày không có chủ nên có ý định lập con của Thái Tổ là Triệu Đức Chiêu làm hoàng đế. Sau này Thái Tông biết chuyện, coi đó là điều mạo phạm đến ông nên buộc Đức Chiêu phải tự sát. Hai năm sau, em trai của Triệu Đức Chiêu là Triệu Đức Phương cũng chết không minh bạch. Người em của Thái Tông là Triệu Đình Mỹ bị quy tội mưu phản, hai lần giáng chức và cuối cùng uất ức mà chết.

Phân hóa giàu nghèo[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới triều đại của Triệu Quang Nghĩa, tuy đất nước trở nên giàu mạnh, kinh tế phát triển, nhưng sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp trong xã hội lại càng rõ rệt, mâu thuẫn giai cấp cũng gay gắt hơn. Năm 993, cuộc khởi nghĩa do Lý Thuận cầm đầu đã bùng nổ ở Tứ Xuyên nhưng sau đó đã bị đàn áp đẫm máu.

Chọn người kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu Triệu Quang Nghĩa muốn lập con cả là Triệu Quang Tá, nhưng Tá lại vì cái chết của người chú là Triệu Đình Mỹ mà tinh thần có vấn đề, hay chém giết người vô cớ nên ông bị phế làm thường dân. Năm 995 Triệu Quang Nghĩa lập người con thứ ba là Triệu Nguyên Khản làm thái tử, tức Tống Chân Tông Triệu Hằng sau này.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là người có công thống nhất Trung Nguyên, khuyến khích khai hoang và xây dựng các công trình thủy lợi. Về mặt đối nội thì dốc lòng giải quyết công việc chính trị, quan tâm đến đời sống của nhân dân, hoàn thiện chế độ thi cử và cho biên soạn nhiều sách vở. Nhưng hai lần chinh phạt Liêu của ông đều thất bại, và từ triều đại của ông thì phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp trong xã hội bắt đầu rõ rệt.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Trai[sửa | sửa mã nguồn]

Gái[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đằng quốc công chúa, chết non, mẹ là Nguyên Đức hoàng hậu Lý thị.
  • Từ quốc đại trưởng công chúa, lấy tả vệ tướng quân Ngô Nguyên Ỷ.
  • Bân quốc đại trưởng công chúa, Thái Bình Hưng Quốc năm thứ 7 xuất gia làm ni cô, hiệu Viên Minh đại sư.
  • Dương quốc đại trưởng công chúa, lấy tả vệ tướng quân Sài Tông Khanh.
  • Ung quốc đại trưởng công chúa, lấy hữu vệ tướng quân Vương Di Vĩnh.
  • Vệ quốc đại trưởng công chúa.
  • Kinh quốc đại trưởng công chúa, lấy phò mã đô úy Sâm Tuân Úc.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiêu Lê (2000), Những ông vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, NXB Đà Nẵng
  • Thương Thánh, Chính sử Trung Quốc qua các triều đại, 350 vị hoàng đế nổi tiếng, NXB Văn Hóa - Thông Tin

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Khuông đổi thành Quang năm 960 do năm này anh trai ông là Triệu Khuông Dận lên ngôi với chữ Khuông là kị húy.
  2. ^ Đổi thành Quýnh năm 977 khi ông lên ngôi. Đây là tên kị húy.
  3. ^ Thụy hiệu đặt cuối cùng vào năm 1017.
  4. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 498-499