Hậu Tấn Cao Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hậu Tấn Cao Tổ
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế Hậu Tấn
Trị vì 936 - 942
Tiền nhiệm Hậu Đường Mạt Đế
Kế nhiệm Hậu Tấn Xuất Đế
Thông tin chung
Tên húy Thạch Kính Đường
Niên hiệu Thiên Phúc: 11/936-6/942
Thụy hiệu Thánh văn Chương vũ Minh đức Hiếu hoàng đế
Miếu hiệu Cao Tổ
Triều đại Nhà Hậu Tấn
Thân phụ Thạch Thiệu Ung[1]
Thân mẫu Hà thị[1]
Sinh 28/2/892[1] (âm lịch)
Mất 942[2]
An táng Hiển lăng[2]

Hậu Tấn Cao Tổ (892-942), tên thật là Thạch Kính Đường (石敬瑭), trị vì từ tháng 11 âm lịch năm 936 tới tháng 6 âm lịch năm 942 với niên hiệu Thiên Phúc. Ông vốn là người Sa Đà, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Hậu Tấn, vương triều thứ 3 trong 5 vương triều Ngũ đại, thời Ngũ đại Thập quốc. Trước khi lên ngôi, ông từng là con rể vua Hậu Đường Minh Tông Lý Tự Nguyên (926-934).

Tổ tiên của Thạch Kính Đường là người Trung Á, theo người Sa Đà di cư tới Thái Nguyên. Cha đẻ của ông là Thạch Thiệu Ung, mẹ đẻ là Hà thị. Thạch Thiệu Ung theo cha con Lý Khắc Dụng chinh chiến, làm quan tới Minh Châu thứ sử. Thạch Kính Đường từ nhỏ đã được Lý Tự Nguyên (sau này là Hậu Đường Minh Tông) đánh giá cao, cho chỉ huy thân binh và gả con gái cho. Năm Đồng Quang thứ 4 (926) thời Hậu Đường Trang Tông, tại Ngụy Châu xảy ra binh biến, Thạch Kính Đường thúc giục Lý Tự Nguyên đem quân vào Biện Châu, chuyển hướng tấn công vào Lạc Dương, giết Hậu Đường Trang Tông rồi tự mình lên ngôi Hoàng đế, gọi là Hậu Đường Minh Tông. Sau khi Tự Nguyên lên ngôi Thạch Kính Đường đã giữ chức vụ tiết độ sứ tại các trấn Bảo Nghĩa, Tuyên Vũ, Hà Đông.

Năm 934, Hậu Đường Mẫn Đế Lý Tùng Hậu chuyển Thạch Kính Đường tới làm tiết độ sứ Thành Đức. Mẫn Đế thảo phạt Lộ vương Lý Tùng Kha bị thất bại, chạy tới Vệ Châu, cầu viện Thạch Kính Đường, nhưng bộ hạ của Thạch Kính Đường lại giết sạch tùy tòng của Mẫn Đế và giam cầm Mẫn Đế tại Vệ Châu. Cuối cùng Mẫn Đế bị Lý Tùng Kha cử người tới giết chết.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Cựu Ngũ Đại sử viết rằng Thạch Kính Đường là hậu duệ của Đại phu Thạch Thước (石碏) của nước Vệ thời Xuân Thu, và Thừa tướng Thạch Phấn (石奮) của triều Hán. Khi triều Hán suy, Quan-Phụ loạn, tử tôn của Thạch Phấn dời về phía tây, định cư tại Cam châu (甘州, nay thuộc Trương Dịch, Cam Túc). Cũng theo Cựu Ngũ Đại sử, vào giữa niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) thời Đường, tổ bốn đời của Thạch Kính Đường là Thạch Cảnh (石璟) theo thủ lĩnh người Sa Đà Chu Da Chấp Nghị từ Lĩnh Vũ đến quy phụ triều Đường, được giữ chức Âm Sơn phủ bì hiệu dưới quyền Chu Sa Chấp Nghi, do có biên công nên chức quan đến Sóc châu thứ sử, tổ mẫu của ông là Tần thị. Tổ ba đời của Thạch Kính Đường là Thạch Sâm (石郴) mất sớm, tổ mẫu của ông là An thị. Tổ phụ của Thạch Kính Đường là Thạch Dực (石翌), làm đến Chấn Vũ phòng ngự sứ, tổ mẫu của ông là Mễ thị. Phụ thân của Thạch Kính Đường là Thạch Thiệu Ung (石紹雍), tên Sa Đà là Nghiệt Liệt Kê (臬捩雞), giỏi cưỡi ngựa bắn cung, có mưu lược sâu xa, lập được chiến công khi theo Lý Khắc DụngLý Tồn Úc, từng giữ chức thứ sử của Bình châu và Minh châu.[3] Tân Ngũ Đại sử thì viết rằng phụ thân của Thạch Kính Đường là Nghiệt Liệt Kê, có nguồn gốc Tây Di, từ khi Chu Da Chấp Nghi quy Đường thì theo người này đến định cư tại Âm Sơn. Khi Lý Khắc Dụng nổi dậy, Nghiệt Liệt Kê do giỏi cưỡi ngựa bắn cung nên thường theo Lý Khắc Dụng chinh phạt, lập được công lao, chức quan đến Minh châu thứ sử, và rằng không rõ họ Thạch của Thạch Kính Đường có nguồn gốc từ đâu.[4]

Thạch Kính Đường là đệ nhị tử của Nghiệt Liệt Kê, sinh ngày 28 tháng 2 năm Cảnh Phúc thứ 1 (30 tháng 3 năm 892), tức năm Nhâm Tý, tại lý Phần Dương thuộc Thái Nguyên, mẫu thân của ông là Hà thị.[3] (Sau khi xưng đế, Thạch Kính Đường tôn thứ mẫu là Lưu thị làm thái phi, rồi hoàng thái hậu.)[5] Khi còn trẻ tuổi, Thạch Kính Đường có tính trầm đạm, ít nói cười, đọc binh pháp, xem trọng cách hành sự của Lý Mục, Chu Á Phu.[3]

Phụng sự Tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi triều Đường sụp đổ vào năm 907, lãnh địa mà Lý Khắc Dụng cát cứ trở thành nước Tấn, và sau khi Lý Khắc Dụng mất vào năm 908, Lý Tồn Úc kế vị Tấn vương, tiếp tục kình địch với nước thay thế triều Đường là Hậu Lương tại Trung Nguyên.[6] Lý Tồn Úc bổ nhiệm dưỡng tử của phụ thân là Lý Tự Nguyên làm Đại châu (代州, nay thuộc Sóc Châu, Sơn Tây) thứ sử. Trong thời gian Lý Tự Nguyên giữ chức thứ sử tại Đại châu, người này xem trọng tài năng của Thạch Kính Đường và gả ái nữ làm thê của Thạch Kính Đường. Lý Tồn Úc biết Thạch Kính Đường giỏi bắn cung nên thăng làm hầu cận, Lý Tự Nguyên thỉnh cho Thạch Kính Đường theo đại quân đi chinh phạt và được chấp thuận. Sau này, khi Lý Tự Nguyên theo Lý Tồn Úc chinh hành, cho Thạch Kính Đường lĩnh thân kị, hiệu là "tam thảo quân", làm tâm phúc cho mình.[3]


Thành lập nhà Hậu Tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Mạt Đế Lý Tùng Kha lên ngôi, Thạch Kính Đường được giao chức vụ tiết độ sử Hà Đông, nhưng sau đó Lý Tùng Kha lại nghi ngờ Thạch Kính Đường có dã tâm làm phản, vì thế Thạch Kính Đường buộc phải lập mưu kế để tự vệ. Lấy lý do bệnh tật, ông dâng biểu xin điều ông ra ngoài phiên trấn, mục đích để nghe ngóng thái độ của triều đình.

Tháng 5 năm Thanh Thái thứ 3 (936) Mạt Đế đổi ông làm tiết độ sứ Thiên Bình quân, sau lại giáng chỉ thúc giục ông lên đường ngay. Thạch Kính Đường tin chắc rằng Mạt Đế đã nghi ngờ ông, nhân đó dấy binh làm phản. Hậu Đường phái binh thảo phạt, Thạch Kính Đường bị bao vây, hướng Khiết Đan cầu viện. Tháng 9, quân Khiết Đan tiến xuống phía nam, đánh bại quân Đường. Tháng 11, Thạch Kính Đường nhận sắc phong của Khiết Đan làm hoàng đế Đại Tấn, sử gọi là Hậu Tấn. Ông nhận vua Khiết Đan Da Luật Đức Quang làm cha, tự xưng là Nhân hoàng đế, sau đó nhằm Lạc Dương tiến quân. Ngày 26 tháng 11 nhuận (tức ngày 11 tháng 1 năm 937 theo lịch Julius) Mạt Đế tại kinh đô tự vẫn. Hậu Đường diệt vong.

Trị vì và suy yếu[sửa | sửa mã nguồn]

Do sự giúp đỡ của Khiết Đan, Thạch Kính Đường đã cắt đất của 16 châu Yên, Vân (Hà Bắc, Sơn Tây) cho họ. Mặt khác, ông cung kính tôn vua Liêu làm "cha".

Việc làm cung kính ngoại bang và nhất là cắt đất phía bắc của Thạch Kính Đường bị các nhà sử học Trung Quốc phê phán mạnh mẽ, coi là thủ phạm bán nước dẫn đến việc xâm lấn, chiếm đóng của các ngoại tộc nối tiếp nhau (Khiết Đan, Đảng Hạng, Nữ Chân, Mông Cổ) ở phía bắc Trung Quốc suốt hơn 400 năm (từ thời Hậu Tấn tới nhà Minh) mà các chính quyền cai trị Trung Nguyên của Trung Quốc không thể nào khôi phục lại được.

Sự trị vì của ông một phần làm suy yếu và là một trong các nguyên nhân sụp đổ của nhà Hậu Tấn thời Hậu Tấn Xuất Đế.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vợ:
    • Lý hoàng hậu
    • Đỗ quý phi
    • Lê hiền phi
    • Trịnh Tài nhân
    • Trịnh Chiêu nghi (em của Trịnh Tài nhân)
  • Con trai:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Cựu Ngũ đại sử, quyển 75
  2. ^ a ă Cựu Ngũ đại sử, quyển 80
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên CNDS75
  4. ^ Tân Ngũ Đại sử, quyển 8.
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên TTTG283
  6. ^ Tư trị thông giám, quyển 266.
  7. ^ a ă â b c d đ Cựu Ngũ đại sử, quyển 87
  8. ^ Căn cứ theo Ngự định lịch đại kỉ sự niên biểu.
Hậu Tấn Cao Tổ
Sinh:   năm 936 Mất:   năm 942
Tước hiệu
Tiền vị:
Hậu Đường Mạt Đế
Hoàng đế Trung Hoa (Hoa Bắc)
936-942
Kế vị
Hậu Tấn Xuất Đế
Tiền vị:
Không
(sáng lập triều đại)
Hoàng đế Hậu Tấn
936-942