Tống Huy Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Huy Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Huizong.jpg
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 24 tháng 2 năm 110018 tháng 1 năm 1126[1]
Tiền nhiệm Tống Triết Tông
Kế nhiệm Tống Khâm Tông
Thông tin chung
Tên húy Triệu Cát
Tước hiệu Giáo chủ Đạo Quân Hoàng đế
Đạo Quân Thái thượng Hoàng đế
Thụy hiệu Thể Thần Hợp Đạo Tuấn Liệt Tốn Công Thánh Văn Nhân Đức Hiến Từ Hiển Hiếu Hoàng đế
(體神合道駿烈遜功聖文仁德憲慈顯孝皇帝)[2]
Miếu hiệu Huy Tông (徽宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Tống Thần Tông
Sinh 2 tháng 11 năm 1082
Mất 4 tháng 6 năm 1135
Mãn Châu
An táng Vĩnh Hữu lăng
Nghề nghiệp Nhà thơ, họa sĩ, nhà thư phápnhạc công
Tôn giáo Đạo giáo

Tống Huy Tông (chữ Hán: 宋徽宗, 2 tháng 11, 10824 tháng 6, 1135) là vị Hoàng đế thứ tám và là một trong những vị hoàng đế nổi tiếng nhất của nhà Tống, với cuộc đời trải qua những điều xa hoa, tinh tếnghệ thuật nhưng kết thúc trong bi kịch.

Tên thật của ông là Triệu Cát (赵佶), là con trai thứ 11 của Tống Thần Tông (宋神宗), được phong tước Đoan Vương, giữ chức Đông Giá. Tháng Hai năm 1100, người anh cùng cha khác mẹ của ông là Hoàng đế Tống Triết Tông (宋哲宗) chết không con nối dõi, và Triệu Cát kế nghiệp vào ngày hôm sau. Ông trị vì từ năm 1100 tới năm 1126.

Huy Tông nổi tiếng vì sự sùng tín Đạo giáo của mình. Ông tự xưng là "Giáo chủ Đạo Quân Hoàng đế" hay "Đạo Quân Thái thượng Hoàng đế". Ông cũng là nhà thơ, họa sĩ, nhà thư phápnhạc công có tài. Ông bảo trợ cho nhiều nghệ sĩ tại Triều đình, và trong danh lục bộ sưu tập hoàng gia của ông có tới trên 6.000 bức họa đã được biết đến.[3]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Huy Tông, bên cạnh việc điều hành triều chính với sự ủng hộ cho những người theo phái cải cách, còn là một thủ lĩnh văn hóa với việc dành nhiều thời gian ca tụng nghệ thuật. Ông cũng là người sưu tầm hội họa, thư phápđồ cổ từ các thời đại trước đây của Trung Quốc, cho xây dựng các bộ sưu tập lớn cho mỗi đam mê của mình. Ông cũng tự viết những bài thơ của mình, được biết đến như là một họa sĩ luôn khao khát cống hiến, ông đã tạo ra kiểu thư pháp riêng của mình, quan tâm tới kiến trúc và thiết kế vườn, và thậm chí còn viết các chuyên luận về y học và Đạo giáo.[4] Ông cho tập hợp một nhóm tùy tùng gồm các họa sĩ/nhà thư pháp cung đình trong hàn lâm thư họa viện, trước đó đã được kiểm tra trong các kỳ thi để làm quan tại triều và thực hiện cải cách đối với âm nhạc cung đình.[4] Giống như những người có học thức khác ở thời đại của ông, ông là nhân vật rất đa năng. Tuy nhiên, thời gian trị vì của ông lại không được như vậy bởi các quyết định thiếu chính xác được đề ra đối với chính sách đối ngoại, và sự kết thúc thời kỳ trị vì của ông cũng đánh dấu một thời kỳ đầy thảm họa cho nhà Tống. Ông đã trọng dụng Sái Kinh, Đồng Quán, Cao Cầu, những người có thể được coi là đã góp phần lớn làm nhà Tống sụp đổ.

Là một nghệ sĩ thực thụ, Huy Tông bỏ bê quân đội và nhà Tống ngày càng trở nên suy yếu hơn. Khi người Nữ ChânMãn Châu thành lập nhà Kim (1115–1234) và tấn công Vương quốc Liêu ở phía bắc nhà Tống vào năm 1120 thì Triều đình nhà Tống đã liên minh với Kim để tấn công nhà Liêu từ phía nam. Điều này đã thành công trong việc tiêu diệt nhà Liêu, một kẻ thù lâu đời của nhà Tống. Tuy nhiên, kẻ thù còn nguy hiểm hơn (tức nhà Kim) thì lúc này đã ở sát biên giới phía bắc nhà Tống. Không hài lòng với sự sáp nhập Liêu cùng việc đánh giá đúng đắn về sự suy yếu của nhà Tống nên nhà Kim nhanh chóng tuyên bố chiến tranh với cựu đồng minh, và vào đầu năm 1126, Quân đội nhà Kim đã vượt Hoàng Hà, tiến sát tới Biện Kinh (Khai Phong), Kinh đô nhà Tống. Quá hoảng sợ, Huy Tông thoái vị ngày 18 tháng 1 năm 1126 để nhường ngôi cho con trai trưởng Triệu Hoàn (tức Hoàng đế Tống Khâm Tông (宋欽宗)).

Đào cưu đồ (Chim cưu trên cành đào) của Tống Huy Tông.

Vượt qua các bức tường của thành Khai Phong là nhiệm vụ khó khăn đối với kỵ binh Kim, và điều này cùng với sự kháng cự mãnh liệt của một số tướng lĩnh, quan lại và quân đội nhà Tống, những người chưa hoàn toàn đánh mất nhuệ khí như Huy Tông, nên nhà Kim buộc phải dỡ bỏ việc bao vây Khai Phong và quay trở về phương Bắc. Tuy nhiên, nhà Tống đã buộc phải ký hòa ước với nhà Kim, đồng ý chi trả mọi khoản chiến phí rất tốn kém và phải triều cống cho nhà Kim mỗi năm.

Nhưng ngay cả các điều khoản này cũng không thể cứu vãn nhà Tống. Chỉ vài tháng sau, vào tháng 9 năm 1126, Quân đội nhà Kim lại quay trở lại phương Nam một lần nữa, và lần này họ đã quyết định phải vượt qua các bức tường thành Khai Phong. Sau cuộc vây hãm ác liệt, Quân đội nhà Kim cuối cùng đã vào được thành Khai Phong ngày 9 tháng 1 năm 1127 và nhiều ngày của các vụ cướp bóc, hãm hiếp, thảm sát đã diễn ra. Huy Tông, Khâm Tông, tôn thất cũng như bách quan của Triều đình cùng hậu cung đã bị quân Kim bắt giữ trong Tĩnh Khang chi loạn. Bắc Tống diệt vong. Tuy nhiên, một trong số những người con trai của Huy Tông là Triệu Cấu (Hoàng tử thứ chín) đã kịp chạy trốn về miền Nam, nơi mà sau nhiều năm nỗ lực, ông đã có thể thành lập nhà Nam Tống, trong đó ông là vị Hoàng đế đầu tiên của nhà nước này, tức Tống Cao Tông (宋高宗).

Huy Tông và Khâm Tông bị nhà Kim giáng xuống làm thứ dân vào ngày 20 tháng 3 năm 1127. Sau đó, vào ngày 10 tháng 5 năm 1127, Huy Tông bị lưu đày lên miền Bắc Mãn Châu, nơi ông sống nốt 8 năm cuối đời trong giam cầm. Người đã từng là nhà cai trị hùng mạnh nhất trên thế giới và đã từng sống trong sự sang trọng và nghệ thuật đã chết trong đau khổ và tuyệt vọng tại miền bắc Mãn Châu xa xăm vào tháng 6 năm 1135, ở tuổi 53, sau táng tại Vĩnh Hữu lăng (nay ở đông nam huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang).

Nghệ thuật, thư pháp, âm nhạc, văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

"Thính cầm đồ" (聽琴圖) của Tống Huy Tông

Huy Tông là một họa sĩ, một nhà thơ và một thư pháp gia lớn ở Trung Quốc. Ông cũng chơi được cổ cầm (như được minh họa trong bức tranh 聽琴圖 hay Thính cầm đồ); ông cũng có Vạn cầm đường (萬琴堂) trong cung điện của mình.

Các chủ đề chính trong các bức họa của ông là chimhoa. Trong số các tác phẩm đáng chú ý có Phù dung cẩm kê đồ, Đào cưu đồ, Thụy hạc đồ. Ông cũng sao chép lại các bức họa Quắc quốc phu nhân du xuân đồ (lưu giữ tại Viện Bảo tàng tỉnh Liêu Ninh) và Đảo luyện đồ của Trương Huyên thời Đường. Bản mô phỏng Đảo luyện đồ của Huy Tông cũng là bản sao duy nhất của bức họa này còn tồn tại đến nay. Hiện tại nó được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Nghệ thuật, Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ.

Ông cũng nghĩ ra "Sấu kim thể" hay "Sấu kim thư" (瘦金體/瘦金书), một kiểu viết chữ trong nghệ thuật thư pháp. Tên gọi "Sấu kim thể" là do trên thực tế kiểu viết của Huy Tông thanh mảnh tương tự như sợi vàng, xoắn và đảo ngược.

Niên hiệu cuối cùng của ông (Tuyên Hòa) cũng được sử dụng để miêu tả một kiểu hội họa có viền ở dạng cuộn. Trong kiểu này, các đường viền màu đen được thêm vào giữa một số mặt lụa. Ông cũng cho biên soạn "Tuyên Hòa họa phổ", "Tuyên Hòa thư phổ" và "Tuyên Hòa bác cổ lục" là những sách về mĩ thuật có giá trị.

Năm 1114, theo đề nghị của Vua Duệ Tông của Vương quốc Cao Ly, Huy Tông đã gửi tới Kinh đô Khai Thành (개성/開城) cho triều đình nước này một bộ nhạc cụ để sử dụng cho nhạc cung đình. Hai năm sau, vào năm 1116, ông lại gửi một món quà khác lớn hơn cũng là các nhạc cụ (tổng cộng 428 nhạc cụ) cho Triều đình Cao Ly, lần này là các nhạc cụ cho nhã nhạc, mở đầu cho truyền thống aak (아악, nhã nhạc) của quốc gia này[5]

Huy Tông cũng là người say mê trà. Tự tay ông viết cuốn sách Đại Quan trà luận (大观茶论) khoảng những năm 1107-1110 gồm 20 chương, với những miêu tả chi tiết và bậc thầy nhất về các kiểu pha chế và thưởng thức trà cầu kỳ thời nhà Tống.

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Các niên hiệu được sử dụng trong thời kỳ trị vì của Tống Huy Tông là:

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hiển Cung hoàng hậu Vương thị (顯恭皇后 王氏, 1084 - 1108), người Khai Phong, cha là Đức Châu thứ sử Vương Tảo (王藻). Hoàng hậu cần kiệm, tích đức ôn hòa nhưng nhan sắc suy kém, không được sủng ái. Trong cung lúc đó, Trịnh quý phi và Vương thị chuyên sủng.
  2. Hiển Túc hoàng hậu Trịnh thị (顯肅皇后 鄭氏, 1079 - 1131), người Khai Phong, cha được phong tước Thái sư Nhạc Bình quận vương (樂平郡王). Vốn là thị nữ của Khâm Thánh Hướng Thái hậu. Khi Huy Tông còn là Đoan vương, thường thỉnh an Thái hậu, trông thấy Trịnh thị xinh đẹp, ngôn từ thông tuệ bèn để ý. Sau khi Huy Tông đăng vị, sách phong Hiền phi (賢妃), không lâu sau phong làm Quý phi (貴妃). Trịnh Quý phi xinh đẹp xuất chúng, ca múa hoàn mỹ, lại thường hay giúp Huy Tông xử lý tấu chương. Sau khi Vương hoàng hậu băng (1108), Huy Tông sách lập Trịnh Quý phi làm Hoàng hậu.
  3. Hiển Nhân hoàng hậu Vi thị (顯仁皇后 韋氏, 1080 - 1159), tức Vi Hiền phi (韋賢妃), mẹ của Tống Cao Tông. Ban đầu phong Tài nhân (才人), Tiệp dư (婕妤) tiến phong Uyển dung (婉容), nhan sắc kém nên không được sủng ái. Do con trai là Khang vương Triệu Cấu có công cứu giá, phong lên Hiền phi.
  4. Minh Tiết hoàng hậu Lưu thị (明節皇后 劉氏, 1088 - 1121), vốn họ Tửu (酒), là cung nữ hầu hạ Chiêu Hoài Lưu hoàng hậu (昭怀刘皇后). Sau khi Lưu hoàng hậu mất, bà xuất cung nhưng sau đó được Nội thị Dương Tiễn (楊戩) tiến nhập cung trở lại, sách phong Thục phi (淑妃) nhưng xưng làm An phi (安妃). Lưu phi dung mạo tuyệt sắc, tâm ý sâu sắc, rất giỏi hóa trang, ăn vận rất đẹp, rất được Huy Tông sủng ái. Sinh được 3 hoàng tử và 1 công chúa, sau khi mất do tình ý sâu đậm, Huy Tông truy phong làm Hoàng hậu, ông còn làm một bài truy điệu cho bà sau khi qua đời.
  5. Minh Đạt hoàng hậu Lưu thị (明達皇后 劉氏, ? - 1113), xuất thân hàn vi, nhưng dung mạo tuyệt mỹ, được Huy Tông lâm hạnh, từ vị Tài nhân nhanh chóng trở thành Quý phi, chỉ sau Trịnh hoàng hậu. Lưu phi sinh hạ 3 hoàng tử và 2 công chúa.
  6. Ý Túc quý phi Vương thị (懿肅貴妃 王氏,? - 1117), cùng với Hiển Túc hoàng hậu từng là thị nữ của Khâm Thánh Hướng thái hậu, Huy Tông thấy bà có nhan sắc lại hữu lễ nên có cảm tình. Sau khi Huy Tông đăng cơ, phong làm Bình Xương quận quân (平昌郡君), sau tối cao hơn trở thành Quý phi. Sinh được 3 hoàng tử và 5 công chúa.
  7. Quý phi Kiều thị (貴妃喬氏), cùng Vi Hiền phi là thị nữ của Trịnh hoàng hậu, cả 2 đồng cam cộng khổ kết làm tỷ muội. Kiều thị do tư sắc sinh đẹp, được Huy Tông chú ý trước, sau khi sủng hạnh, Kiều thị liền tiến cử Vi thị cùng hưởng hoàng ân. Sau sự biến Tĩnh Khang, bà cùng Vi hiền phi bị người Kim bắt, Vi phi sau được bảo lãnh quay về phương Nam, Kiều thị bị giữ lại, cả 2 đều khóc thảm thiết trước khi chia tay. Không rõ bà chết năm nào.
  8. Thục phi Thôi thị (淑妃崔氏).
  9. Thục nghi Kim Lộng Ngọc (淑儀 金弄玉), sau chính biến Tĩnh Khang, bị người Kim bắt làm tù binh.
  10. Thục dung Trần Kiều Tử (淑容 陳嬌子).
  11. Sung nghi Thân Quan Âm (充儀 申觀音).
  12. Sung viên Tịch Châu Châu (充媛 席珠珠).

Theo thống kê của "Khai Phong phủ trạng", số vợ và thê thiếp có sắc phong của Huy Tông là 143 người.

  • Con cái:

Ông có 32 người con trai, trong đó có 25 người sống tới tuổi trưởng thành.

Theo Tống sử cùng Tĩnh Khang bại sử tiên chứng (trong các phần Khai Phong phủ trạng, Tống phu kí, Thân ngâm ngữ, Thanh cung dịch ngữ) thì ông có 34 người con gái với 21 người sống tới tuổi trưởng thành. Cũng theo Tĩnh Khang bại sử tiên chứng thì sau này các bà vợ của ông còn sinh thêm 6 con trai và 8 con gái nữa. Như thế, tổng cộng ông có 80 người con.

  1. Khâm Tông hoàng đế Triệu Hoàn (趙桓), mẹ là Hiển Cung hoàng hậu.
  2. Duyện vương Triệu Sanh (趙檉), mất sớm.
  3. Vận vương Triệu Khải (趙楷, 1101 - 1131), mẹ là Ý Túc quý phi.
  4. Kinh vương Triệu Tiếp (趙楫), mất sớm.
  5. Túc vương Triệu Xu (趙樞).
  6. Cảnh vương Triệu Kỉ (趙杞).
  7. Tế vương Triệu Hủ (趙栩).
  8. Ích vương Triệu Vực (趙棫), mẹ là Minh Đạt hoàng hậu.
  9. Khang vương Triệu Cấu (趙構), sau là Tống Cao Tông. Mẹ là Vi Hiền phi, sau truy phong Hiển Nhân hoàng hậu.
  10. Bân vương Triệu Tài (趙材), mất sớm.
  11. Kỳ vương Triệu Mô (趙模), mẹ là Minh Đạt hoàng hậu.
  12. Sân vương Triệu Thực (趙植), mẹ là Ý Túc quý phi.
  13. Nghi vương Triệu Phác (趙樸).
  14. Từ vương Triệu Lệ (趙棣).
  15. Vận vương Triệu Củng (趙栱).
  16. Tín vương Triệu Trăn (趙榛), mẹ là Minh Đạt hoàng hậu.
  17. Hán vương Triệu Xuân (趙椿), mất sớm.
  18. Trần quốc công Triệu Ky (趙機), mẹ là Ý Túc quý phi.
  19. Tương quốc công Triệu Đĩnh (趙梃).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thoái vị, nhường ngôi cho con. Được tôn làm Thái thượng hoàng. Ngày 20 tháng 3 năm 1127 bị nhà Kim giáng làm dân thường.
  2. ^ Đặt năm 1143.
  3. ^ Ebrey, Cambridge, 149.
  4. ^ a ă Ebrey, 165.
  5. ^ www.worldmusiccentre.com

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ebrey Patricia Buckley (1999). The Cambridge Illustrated History of China. Cambridge: Nhà in Đại học Cambridge. ISBN 0-521-66991-X (bìa giấy).
  • Ebrey Walthall và Palais (2006). East Asia: A Cultural, Social, and Political History. Boston: Houghton and Mifflin.