Tống Huy Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Huy Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Huizong.jpg
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 24 tháng 2 năm 110018 tháng 1 năm 1126[1]
Tiền nhiệm Tống Triết Tông
Kế nhiệm Tống Khâm Tông
Thông tin chung
Tên húy Triệu Cát
Tước hiệu Giáo chủ Đạo Quân Hoàng đế
Đạo Quân Thái thượng Hoàng đế
Thụy hiệu Thể Thần Hợp Đạo Tuấn Liệt Tốn Công Thánh Văn Nhân Đức Hiến Từ Hiển Hiếu Hoàng đế
(體神合道駿烈遜功聖文仁德憲慈顯孝皇帝)[2]
Miếu hiệu Huy Tông (徽宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Tống Thần Tông
Sinh 2 tháng 11 năm 1082
Mất 4 tháng 6 năm 1135
Mãn Châu
An táng Vĩnh Hữu lăng
Nghề nghiệp Nhà thơ, họa sĩ, nhà thư phápnhạc công
Tôn giáo Đạo giáo

Tống Huy Tông (chữ Hán: 宋徽宗, bính âm: Song Huizong, 2 tháng 11, 10824 tháng 6, 1135), là vị hoàng đế thứ tám của triều đại Bắc Tống trong lịch sử Trung Quốc. Ông còn được hậu thế biết đến như một vị hoàng đế nổi tiếng, một tài tử phong lưu và một nhà thơ, nhà nghệ thuật xuất sắc.

Tống Huy Tông tên thật là Triệu Cát (赵佶), nguyên là hoàng tử thứ 11 của Tống Thần Tông (宋神宗), vua thứ 6 triều Bắc Tống, mẫu thân là Trần Mĩ nhân. Dưới thời hoàng huynh Tống Triết Tông (1085 - 1099), Triệu Cát phong tước vị Ninh vương rồi Đoan Vương, giữ chức Đông Giá. Vào năm 1100, Tống Triết Tông (宋哲宗) chết không con nối dõi, Hướng Thái hậu và các đại thần tôn lập Triệu Cát làm vua, xưng hiệu là Tống Huy Tông.

Trong thời gian trị vì của mình, Tống Huy Tông ham danh hám lợi, sinh hoạt xa xỉ, bóc lột của cải trong nhân dân để thỏa mãn những nhu cầu của mình, nhất là việc cống nạp Hoa thạch cương từ những năm Tuyên Hòa. Huy Tông tôn sùng Đạo giáo, trong thời gian trị vì tự xưng là "Giáo chủ Đạo Quân Hoàng đế" hay "Đạo Quân Thái thượng Hoàng đế". Ông cũng là nhà thơ, họa sĩ, nhà thư phápnhạc công có tài. Ông bảo trợ cho nhiều nghệ sĩ tại Triều đình, và trong danh lục bộ sưu tập hoàng gia của ông có tới trên 6.000 bức họa đã được biết đến.[3]. Bên cạnh việc điều hành triều chính với sự ủng hộ cho những người theo phái cải cách, còn là một thủ lĩnh văn hóa với việc dành nhiều thời gian ca tụng nghệ thuật. Ông cũng là người sưu tầm hội họa, thư phápđồ cổ từ các thời đại trước đây của Trung Quốc, cho xây dựng các bộ sưu tập lớn cho mỗi đam mê của mình. Ông cũng tự viết những bài thơ của mình, được biết đến như là một họa sĩ luôn khao khát cống hiến, ông đã tạo ra kiểu thư pháp riêng của mình, quan tâm tới kiến trúc và thiết kế vườn, và thậm chí còn viết các chuyên luận về y học và Đạo giáo.[4] Ông cho tập hợp một nhóm tùy tùng gồm các họa sĩ/nhà thư pháp cung đình trong hàn lâm thư họa viện, trước đó đã được kiểm tra trong các kỳ thi để làm quan tại triều và thực hiện cải cách đối với âm nhạc cung đình.[4] Giống như những người có học thức khác ở thời đại của ông, ông là nhân vật rất đa năng. Tuy nhiên, thời gian trị vì của ông lại không được như vậy bởi các quyết định thiếu chính xác được đề ra đối với chính sách đối ngoại, và sự kết thúc thời kỳ trị vì của ông cũng đánh dấu một thời kỳ đầy thảm họa cho nhà Tống.

Huy Tông bỏ trung dùng gian, để cho tham quan lộng hành dẫn tới khởi nghĩa nông dân trong nước suốt mười mấy năm, trong triều tín nhiệm đám gian thần Thái Kinh, Đồng Quán khiến triều cương bị lũng đoạn, đất nước rối ren và suy yếu. Từ năm 1115, người Nữ Chân ở phương bắc nổi dậy kháng triều Liêu, lập ra triều Kim (1115 - 1234). Huy Tông háo danh háo lợi, bỏ qua mối tình hòa hỏa gần 100 năm, quyết định kết liên minh trên biển, liên Kim diệt Liêu hòng thu phục 16 châu Yên Vân đã bị mất thời Ngũ Đại Thập Quốc. Nhưng quân Tống ra quân thất lợi và bị người Liêu đánh bại, trong khi ở phía bắc nước Kim dần lớn mạnh. Năm 1222, Kim hạ xong Yên Kinh[5] và bắt đầu dòm ngó đến vùng Trung Nguyên. Tháng 10 năm 1125, Kim Thái Tông sai Tà Dã, Niêm Một Hát, Oát Li Bất phân quân hai đường vượt Hoàng Hà, áp sát Biện Kinh[6]. Ngày 18 tháng 11 năm 1126, trước tình thế nguy ngập, Huy Tông quyết định thoái vị ngày 18 tháng 1 năm 1126 để nhường ngôi cho con trai trưởng Triệu Hoàn (tức Hoàng đế Tống Khâm Tông (宋欽宗)). Ông tự xưng hiệu Đạo Quân Thái thượng hoàng đế, sau đó bỏ trốn khỏi Biện Kinh đến khi người Kim rút lui vào giữa năm này thì ông mới về kinh.

Đào cưu đồ (Chim cưu trên cành đào) của Tống Huy Tông.

Nhưng chỉ vài tháng sau, vào tháng 9 năm 1126, quân Kim một lần nữa nam hạ, cuối cùng chiếm được Biện vào đầu năm 1127, sử xưng Tĩnh Khang chi biến. Ngày 9 tháng 1 năm 1127 sau nhiều ngày của các vụ cướp bóc, hãm hiếp, thảm sát, quân Kim đưa Thượng hoàng, Khâm Tông và phần lớn tông thất cùng một số quan lại về phương bắc. Tuy nhiên, không lâu saumột trong số những người con trai của Huy Tông là Triệu Cấu đã được đưa lên ngôi hoàng đế (Tống Cao Tông) thành lập nhà Nam Tống.

Ngày 20 tháng 3 năm 1127, Kim chủ hạ lệnh phế Thượng hoàng và Khâm Tông làm thứ nhân, sau đó ông bị đưa đến kinh đô nước Kim vào 21 tháng 8 năm 1128, sau đó bị ép phải mặc áo xô gai vào lạy ở miếu Kim Thái Tổ Hoàn Nhan A Cốt Đả rồi bị giải vào triều, bị Kim chủ làm nhục. Kim phong ông làm Hôn Đức công, Khâm Tông là Trọng Hôn hầu, sau đó dời hai đế đến Hàn châu ngày 26 tháng 10 năm đó. Tháng 7 năm 1130, Hôn Đức công bị đưa đến thành Ngũ Quốc[7], lúc này chỉ còn khoảng 140 người tùy tùng được đi theo. Tháng 6 năm 1135, Hôn Đức công qua đời ở thành Ngũ Quốc, thọ 53 tuổi. Tháng 2 năm 1141, nhân Kim - Tống bàn chuyện nghị hòa nên Kim chủ hạ lệnh truy phong Hôn Đức công làm Thiên Thủy quận vương, thăng Trọng Hôn hầu làm Thiên Thủy quận công. Năm 1142, sau hòa ước Thiệu Hưng, Kim cho phép mẫu thân Cao Tông là Vi thái hậu đưa thi hài ông được triều Nam Tống đưa về nước, táng tại Vĩnh Hữu lăng, đất Cối Kê[8].

Trước khi lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Huy Tông chào đời vào ngày 2 tháng 11 năm 1082, tức ngày Đinh Tị, tháng 10 năm Nguyên Phong thứ năm[9] dưới thời phụ thân là Tống Thần Tông Triệu Húc, mẫu thân ông là Trần mĩ nhân, sau mất vào năm 1088, tôn hiệu Khâm Từ hoàng hậu. Vào dịp Tết nguyên đán năm sau (1083), ông được ban tên là Cát, thán 10 ÂL thụ Trấn Ninh quân tiết độ sứ, tước Ninh quốc công. Năm 1085, Thần Tông băng, hoàng huynh của Triệu Cát là Tống Triết Tông Triệu Hú được lập làm vua. Không lâu sau, Triệu Cát được tấn phong Toại Ninh quận vương[9]. Năm Thiệu Thánh thứ ba (1096), phong Bình Giang, Trấn Giang quân tiết độ sứ, tiến tước Đoan vương. Năm 1098, gia Tư không, đổi Chiêu Đức, Chương Tín quân tiết độ sứ[9].

Ngày mùng tám tết âm lịch năm Nguyên Phù thứ ba (1100), Tống Triết Tông qua đời ở điện Phúc Ninh khi mới 24 tuổi[10]. Hướng Thái hậu được tin, triệu quần thần vào cung nghị sự, khóc rằng

Quốc gia bất hạnh, Đại Hành hoàng đế không con, sự việc nên sớm định đoạt.

Khi đó gian tướng Chương Đôn là người nắm quyền trong triều, hắng giọng mà tâu

Theo phép cũ thì nên lập mẫu đệ của tiên đế là Giản vương Tự.

Thái hậu nói

Lão thân không có con, chư vương đều chỉ là con thứ của Thần Tông.

Đôn lại nói

Nếu vậy thì lập con trưởng là Thân vương Tất.

Thái hậu không bằng lòng

Thân vương đau bệnh không thể gánh vác đại sự. Tiên đế thường nói Đoan vương có phúc thọ lại là người nhân hiếu, có thể lập.

Chương Đôn lại bảo

Đoan vương khinh diêu, không thể nào là quân vương thiên hạ.

Nói chưa xong, Tri Xu mật viện Tăng Bố đã tranh lời

Chương Đôn phải nghe theo sự sắp đặt của thái hậu[10].

Thượng thư Tả thừa Thái Biện, Trung thư môn hạ thị lang Hứa Tương đều vâng dạ. Chương Đôn không nói được gì nữa. Hướng Thái hậu triệu Đoan vương vào cung tức vị hoàng đế, xưng là Tống Huy Tông[9]. Quần thần xin thái hậu huấn chính, thái hậu cho rằng vua mới đã trưởng thành không cần buông rèm, Huy Tông phải khóc lóc cầu xin mãi thái hậu mới đồng ý.

Thời kì Kiến Trung Tĩnh Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên ngôi, Huy Tông hạ lệnh xá thiên hạ, thăng trật cho bách quan lên một cấp, thưởng chư quân, sai sứ Tống Uyên sang Liêu báo tang. Tôn Triết Tông hậu Lưu thị là Nguyên Phù hoàng hậu, đế mẫu Quý nghi Trần thị là Khâm Từ hoàng hậu[10]. Lấy Chương Đôn là Đặc tiến, phong Thân quốc công. Lập Thuận Quốc phu nhân Vương thị làm hoàng hậu. Hậu là người Khai Phong, con gái Đức châu thứ sử Vương Tảo.

Mấy hôm sau, Huy Tông ngự ở Tử Thần điện nhận sự chúc mừng của các quan. Lấy Hàn Trung Ngạn, con trai cố tướng Hàn Kì làm Môn hạ thị lang. Trung Ngạn vào triều yết kiến, trình bày bốn việc: thi nhân trong ngoài, mở đường ngôn luận, bỏ nghi tự, giảm việc dụng binhl thái hậu đồng tình, triều chính dần trở lại trong sáng như thời Nguyên Hựu khi trước. Sau đó ông lại triệu tri Bạc châu Hoàng Lý giữ chức Thượng thư hữu thừa. Phong hoàng huynh Thân vương Triệu Tất là Thái phó, tiến tước Trần vương, hoàng đệ Sân vương Ngô là Vệ vương, giữ chức Thái bảo; Giản vương Tự là Thái vương, Mục vương Tư là Định vương cùng giữ chức Tư đồ[9].

Huy Tông giáng chức tà đảng Thiệu Thánh, đẩy Thái Bình làm Bí thư thiếu giám, đến phủ Thái Nguyên, Lưu Chửng bãi làm Tri Hào châu, ... Tháng 4 ÂL lấy Hàn Trung Ngạn làm Thượng thư Hữu bộc xạ kiêm Trung thư thị lang; Lý Thanh Thần là Môn hạ thị lang, Tương chi Kì là Đồng tri Xu mật viện sự nắm quyền như tể tướng. Hàn Trung Ngạn triệu các đại thần bị lưu đầy trong những năm Thiệu Thánh về triều: Phạm Thuần Nhân được ban thuốc và đưa về Đặng châu, sau được phong Quan Văn điện học sĩ[11], lại triệu Tô Thức đến Thường châu làm Ngọc Cục quan, không lâu sau Tô Thức qua đời Ngày Kỉ Dậu tháng đó, hoàng trưởng tử ra đời. Khi đó Huy Tông chưa có con,đạo sĩ Lưu Hỗn Khang dùng phép rồi nói phía tây bắc kinh thành có khoảng đất trống và thấp, nếu xây lầu cao thì sẽ sinh được nhiều con trai. Huy Tông nghe theo, quả nhiên hoàng hậu sinh được hoàng trưởng tử và một công chúa.

Huy Tông truy táng cho Lương Đảo, Lưu Chí, truy phục quan tước của Tư Mã Quang, Văn Ngạn Bác, Lã Đại Phòng, Vương Khuê ... hơn 30 người. Lại dùng Trần Quán, Châu Hạo là Tả, Hữu chính ngôn. Ngự sử trung thừa An Đôn là kẻ giảo hoạt, tâu rằng dùng lại Châu Hạo thì biết ăn nói sao với tiên đế[12]. Huy Tông nói

Lập hậu là đại sự mà Trung thừa không dám nói gì. Mà sao bây giờ chỉ nói về Hạo. Hà cớ gì không thể dùng

An Đôn thất sắc lui ra. Trần Quán nhân đó hặc tội khiến An Đôn bị đày ra Đàm châu. Thái học Thượng thái sinh Hà Đại Chính dâng sớ nói Mạnh hoàng hậu trước kia vô tội mà bị phế nên xin phục hồi tôn hiệu. Huy Tông nghe theo, đón Mạnh hậu vào cung, phong là Nguyên Hựu hoàng hậu, Lưu thị là Nguyên Phù hoàng hậu. Thượng thư hữu thừa Thái Biện là em của Thái Kinh bị Thai gian hặc tội và bị giáng làm tri Giang Ninh, đồng thời phe cánh của ông này cũng bị bãi quan[10].

Mùa thu, tháng bảy âm lịch, Hướng thái hậu sau sáu tháng thính chánh, hạ chỉ hết buông rèm, từ đó Huy Tông đích thân chấp chính. Tháng 8 năm đó, Chương Đôn do bất cẩn trong lúc đưa tang đã làm linh cữu Triết Tông rơi xuống bùn suốt cả đêm. Đến tháng 9 Thai gián Phong Tắc, Trần Thứ Thăng, Trần Quán ... hặc tội bất kính của Chương Đôn khiến ông này bị đưa ra Việt châu. Trần Quán lại kể tội ác của Chương Đôn năm xưa hãm hại tàn độc các cựu thần Nguyên Hựu khiến Đôn lại bị giáng làm Võ Xương quân tiết độ phó sứ, an trí Đàm châu. Thái Kinh, Thái Biện, An Đôn, Kiển Tự Thần, Lâm Hi đều bị miễn quan. Về sau Nhậm Bá Vũ, Trần Quán, Trần Thứ Thăng liên danh nói Chương Đôn có ý phế Huy Tông để lập Giản vương Tự, Đôn bị đầy đến Lôi châu, sau ôm mà chết ở Mục châu[13].

Tháng 10 năm 1100, dùng Hàn Trung Ngạn làm Tả bộc xạ kiêm Môn hạ thị lang, Tăng Bố làm Hữu bộc xạ kiêm Trung thư thị lang, An Đảo tri Xu mật viện sự, Phạm Thuần Lễ là Thượng thư Hữu thừa]] thay cho Hoàng Lý bị bãi chức[10].

Vào dịp Nguyên đán năm Kiến Trung Tĩnh Quốc nguyên niên (1101), bỗng có một luồng khí đỏ từ đông bắc thổi sang tây nam sáng khắp cung điện hệt như một tia chớp, trong khí đỏ có lẫn khí trắng. Sau đó thì hai màu đỏ trắng hòa nhau, xung quanh cảm nhận được rất nhiều yêu khí. Hữu chính ngôn Nhậm Bá Vũ dâng sớ phân tích thiên tượng, nói sẽ có họa Di Địch khuyên Huy Tông bỏ gian dùng hiền để yên định đất nước. Mấy hôm sau, Hướng Thái hậu qua đời ở điện Từ Ninh, có di chiếu tôn mẹ Huy Tông là Trần thái phi lên làm thái hậu, tôn thụy Khâm Từ. Hướng Thái hậu thọ 56 tuổi, tôn thụy là Khâm Thánh Hiến Túc, táng ở Lăng Vĩnh Dụ[14], hai người em của thái hậu là Hướng Tông Hồi, Hướng Tông Lương đều được gia phong quận vương. Mấy hôm sau, ở miền bắc, Liêu chủ tồ ở hành cung, thọ 70 tuổi, miếu hiệu là Đạo Tông. Yên quốc vương Da Luật Diên Hi kế vị hoàng đế, Da Luật Ô TôDa Luật Nghiễm làm phụ chính. Lúc Đạo Tông mới lên ngôi, cầu lời nói thẳng, khuyến khích nông nghiêng, chấn hưng học giáo, cứu nan giúp khổ, triều chính được khởi sắc. Tuy nhiên về sau trở nên xa xỉ phóng túng, thưởng phạt quá độ, gian tà nổi lên, chư bộ làm phản gây việc binh đao liên miên. Bên trong lại tôn sùng đạo Phật quá mức, khiến quốc khố cạn kiệt. Triều Liêu suy vong kể từ đó. Da Luật Diên Hi lên ngôi hoàng đế, người Liêu thường gọi là Thiên Tộ Đế, tôn phụ thân là Chiêu Hoài thái tử làm Thuận Tông hoàng đế, sai người làm quốc thư xưng em, đến Tống báo tang. Huy Tông sai Tạ Văn Quán, Thượng Quan Quân sang Liêu tế bái.

Nhậm Bá Vũ dâng sớ đàn hặc Tăng Bố. Tăng Bố biết được bèn điều Bá Vũ làm Độ Chi viên ngoại lang[15]. Phạm Thuần Lễ lúc đó là Thượng thư Hữu thừa, bị Tăng Bố ghét. Bố xúi giục phò mã đô úy Vương Sân gièm pha rằng Thuần Lễ bất cẩn, mấy lần đã xúc phạm ngự danh trong khi Liêu sứ có mặt làm trò cười cho người ngoài, vì thế Thuần Lễ bị bãi là tri Dĩnh Xương. Tháng 8 ÂL năm 1101, Tăng Bố lại kiếm cớ đuổi Tả tư viên ngoại lang Trần Quán, Tả tư gián Giang Công Vọng, ngay cả Môn hạ thị lang Lý Thanh Thần cũng bị Bố cách chức, đẩy ra phủ Đại Danh[15]. Tháng 11 ÂL, dùng Lục ĐiềnÔn Ích giữ chức Thượng thư Tả, Hữu thừa.

Lúc bấy giờ Cung phụng quan Đồng Quan là một kẻ giảo hoạt khôn ranh, được Huy Tông sai đến Hàng châu tìm kiếm những đồ cổ và quý. Thái Kinh lúc đó ở Hàng châu được tin bèn ra sức đưa đón, chiều chuộng để lấy lọng, rồi còn đưa nhiều bức bình phong, thư họa gửi cho Đồng Quán mang về kinh. Huy Tông xem xong hết sức ca ngợi, lại có ý dùng Thái Kinh. Kinh lại nghe nói Đạo Lộc tư Từ Tri Thường hay vào cung làm phép trị bệnh của Nguyên Phù hoàng hậu nên cũng hết sức làm quen, tặng Tri Thường và lũ hoạn quan trong cung nhiều vàng bạc, châu báu và gái đẹp, vì thế trong ngoài đều biết đến Thái Kinh. Do vậy Huy Tông quyết định bổ nhiệm Kinh làm tri phủ Định châu[15][16]

Thời kì Sùng Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1102, Huy Tông cải niên hiệu là Sùng Ninh. Dùng Thái Kinh là tri Đại Danh phủ. Tăng BốHàn Trung Ngạn vốn bất hòa, nên Bố tiến cử Kinh làm Hàn lâm học sĩ thừa chỉ để thêm vây cánh[15]. Tháng 5 ÂL năm đó, Thái Kinh gièm pha Hàn Trung Ngạn bị bọn Tăng Bố, Thái Kinh, Đặng Tuân Vũ ... gièm pha và bị bãi tướng. Triều chính lại rơi vào tay tà đảng Thiệu Thánh. Tuân Vũ còn vẽ một bức tranh, chia làm hai bên, một bên là cựu thần Nguyên Phong, Thiệu Thánh có Thái Kinh và 5, 6 người, còn bên phải là cựu thần Nguyên Hựu đến 50, 60 người; vì thế Huy Tông cho phái Nguyên Hựu là tà đảng và càng trọng dụng Thái Kinh. Dùng Đặng Tuân Vũ làm Trung thư xá nhân, Cấp sự trung kiêm Thị giảng, phục chức Thái Biện Lã Gia Vấn, An Đôn, Kiển Tự Nhân. Lại truy phế quan tước của Tư Mã Quang, Lã Công Trứ, Văn Ngạn Bác, Lã Đại Phòng, Phạm Thuần Nhân ... hơn 40 người. Bãi chức Thượng thư Tả thừa Lục Điền, cất nhắc Hứa Tương làm Môn hạ thị lang, Ôn Ích Trung thư thị lang, Thái KinhTriệu Dĩnh Chi là Thượng thư Tả, Hữu thừa. Lúc này Thái Kinh chống đối cả Tăng Bố. Tháng 6 ÂL, người của Kinh là Điện trung thị ngự sử Tiền Duật hặc tội Tăng Bố "lấy gian đảng Nguyên Hựu áp chế trung thần Thiệu Thánh", Huy Tông cách chức Hữu bộc xạ của Tăng Bố, đày ra Nhuận châu. Bố lúc đầu theo Vương An Thạch, sau lại theo Chương Đôn rồi phản Chương Đôn. Khi Huy Tông lên ngôi thì Bố ra sức ủng hộ đường lối Nguyên Hựu để được trọng dụng, người đương thời sỉ vả sự tiểu nhân đó.

Thái Kinh căm ghét Châu Hạo, kiếm một bản sớ trước kia của Hạo nói: Lưu hoàng hậu đoạt con của Trác thị, giết mẹ cướp con, dối người không dối được trời và bảo Hạo là kẻ điên cuồng. Huy Tông giận lắm, cho rằng Hạo phỉ báng tiên đế và Nguyên Phù hoàng hậu bèn đày Châu Hạo ra an trí ở Vĩnh châu[15]. Hoàng tử chết yểu của Lưu hậu được truy tặng là Hiến Mẫn thái tử.

Tháng 7 ÂL năm 1102, Huy Tông dùng Thái Kinh làm Thượng thư Tả bộc xạ kiêm Trung thư thị lang. Huy Tông triệu kiến Kinh ở điện Diên Hòa, nói

Thần Tông dụng pháp lập chế, tiên đế noi theo, hai lần cải biến, việc nước chưa ổn định. Trẫm muốn nối chí cha anh, không giúp trẫm thế nào đây?

Thái Kinh thì không có tài ăn nói như Vương An Thạch chỉ có thể khấu đầu bái tạ rằng nguyện lấy cái chết để báo đáp. Huy Tông bèn bãi những chính sách thời Nguyên Hựu, dùng phép Thiệu Thánh, dụng Hi Ninh điều lệ cố sự, lập Đô Tỉnh trí giảng nghị ti, dùng bè đảng Ngô Cư Hậu, Vương Hán Chi ... hơn 10 người làm liêu chúc, thực thi cái tân pháp xấu xa của Vương An Thạch. Huy Tông còn ra lệnh cấm con cháu Tư Mã Quang, Lã Công Trứ, Tô Thức ... làm quan ở kinh sư[17]. Dùng Triệu Đĩnh Chi làm Thượng thư Tả Thừa, Trương Thương Anh làm Thượng thư Hữu thừa.

Ở trong cung, Nguyên Phù hoàng hậu căm ghét việc Nguyên Hựu hoàng hậu phục vị nên cùng tên thái giám Hác Tùy bày mưu tính kế. Hác Tùy vốn thân tình với Xương châu phán quan Phùng Hải, nên xúi giục Hải dâng sớ chỉ trích bọn Hàn Trung Ngạn đón phế hậu về cung, lại thêm bọn Thái Kinh, Hứa Tương, Triệu Đĩnh Chi, Trương Thương Anh phụ họa, Huy Tông bất đắc dĩ phải đồng ý. Có chiếu phế Nguyên Hựu hoàng hậu, đưa đến Diêu Hoa cung làm nữ quan. Rồi truy cứu những người liên đới trong việc phục hậu, giáng chức Hàn Trung Ngạn, Tăng Bố, Lý Thanh Thần, Hoàng Lý... 17 người. Phùng Hải được phong Hồng Lư tự chủ bạ[17]. Tháng 10 ÂL, Tri Xu mật viện sự Tương Chi Kì bị bãi chức, dời đến Hàng châu, đưa Thái Biện lên thay chức.

Nghệ thuật, thư pháp, âm nhạc, văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

"Thính cầm đồ" (聽琴圖) của Tống Huy Tông

Huy Tông là một họa sĩ, một nhà thơ và một thư pháp gia lớn ở Trung Quốc. Ông cũng chơi được cổ cầm (như được minh họa trong bức tranh 聽琴圖 hay Thính cầm đồ); ông cũng có Vạn cầm đường (萬琴堂) trong cung điện của mình.

Các chủ đề chính trong các bức họa của ông là chimhoa. Trong số các tác phẩm đáng chú ý có Phù dung cẩm kê đồ, Đào cưu đồ, Thụy hạc đồ. Ông cũng sao chép lại các bức họa Quắc quốc phu nhân du xuân đồ (lưu giữ tại Viện Bảo tàng tỉnh Liêu Ninh) và Đảo luyện đồ của Trương Huyên thời Đường. Bản mô phỏng Đảo luyện đồ của Huy Tông cũng là bản sao duy nhất của bức họa này còn tồn tại đến nay. Hiện tại nó được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Nghệ thuật, Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ.

Ông cũng nghĩ ra "Sấu kim thể" hay "Sấu kim thư" (瘦金體/瘦金书), một kiểu viết chữ trong nghệ thuật thư pháp. Tên gọi "Sấu kim thể" là do trên thực tế kiểu viết của Huy Tông thanh mảnh tương tự như sợi vàng, xoắn và đảo ngược.

Niên hiệu cuối cùng của ông (Tuyên Hòa) cũng được sử dụng để miêu tả một kiểu hội họa có viền ở dạng cuộn. Trong kiểu này, các đường viền màu đen được thêm vào giữa một số mặt lụa. Ông cũng cho biên soạn "Tuyên Hòa họa phổ", "Tuyên Hòa thư phổ" và "Tuyên Hòa bác cổ lục" là những sách về mĩ thuật có giá trị.

Năm 1114, theo đề nghị của Vua Duệ Tông của Vương quốc Cao Ly, Huy Tông đã gửi tới Kinh đô Khai Thành (개성/開城) cho triều đình nước này một bộ nhạc cụ để sử dụng cho nhạc cung đình. Hai năm sau, vào năm 1116, ông lại gửi một món quà khác lớn hơn cũng là các nhạc cụ (tổng cộng 428 nhạc cụ) cho Triều đình Cao Ly, lần này là các nhạc cụ cho nhã nhạc, mở đầu cho truyền thống aak (아악, nhã nhạc) của quốc gia này[18]

Huy Tông cũng là người say mê trà. Tự tay ông viết cuốn sách Đại Quan trà luận (大观茶论) khoảng những năm 1107-1110 gồm 20 chương, với những miêu tả chi tiết và bậc thầy nhất về các kiểu pha chế và thưởng thức trà cầu kỳ thời nhà Tống.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Thoát Thoát nhận xét về Tống Huy Tông trong Tống sử

Tống trung hiệp chi họa, Chương, Thái là thủ phạm hàng đầu, Triệu Lương Tự là kẻ phụ theo. Lúc Triết Tông băng, Huy Tông chưa lập, Chương Đôn đem cái sự khinh miệt của mình, phản đối ông lên ngôi đế. Liêu Thiên Tộ bị diệt vong, Trương Giác từ Bình châu quy phục, Lương Tự thấy thế cho rằng nếu chấp nhận thì thành ra thất tín với Kim, việc binh đao do vậy nổi lên. Nếu theo kế của hai người đó, Tống không lập Huy Tông, không nhận Trương Giác thì Kim dẫu có mạnh cũng nào có thể lấy lý do gì mà phạt Tống? Thế mới biết biến cố một khi tới, tuy là tiểu nhân mà cũng có lúc nhận ra được, còn quân tử không sao khống chế nổi. Tích nói nguyên do Huy Tông mất nước không phải là vì ngu như Tấn Huệ, tàn bạo như Tôn Hạo; cũng không phải vì có sự soán đoạt như thời Tào, Mã; mà chính là do tư trí chỉ có khôn vặt, dụng tâm không sâu dễ thay đổi, ban đầu bài xích chính sự, gần gũi gian du. Thái Kinh lấy tâm gian xảo mà mê hoặc ông khiến cho cái kiêu xa dâm dật đến. Tin vào nhiều sự hư vô, tiêu dùng lãng phí làm khốn kiệt sức dân. Lại bỏ bê quốc chánh, tuần du không ngớt. Khi Đồng Quan được dùng, việc binh rối ren khiến họa lớn càng mau đến. Để rồi nước bị mất, thân bị nhục chẳng khác nào Thạch Tấn Trọng Quý khi xưa. Tích nói lúc Tây Chu mới tân tạo, Triệu công từng khuyên Vũ Vương không thể lấy vô ích hại điều có ích, không thể lấy vật lạ mà bỏ đi thứ hữu dụng. Thời đó tà đảng Hi Phong, Thiệu Thánh còn nhiều, ra sức kích động; Huy Tông lại còn tin nhiệm bọn chúng dẫn đến kết cục thậm tệ. Từ xưa quân vương thích thưởng ngoạn mà đến thân vong, túng dục đến nỗi thất bại thì chính Huy Tông có thể xem là một trong số đó.

Thoát Thoát còn bình luận thêm: Tống Huy Tông mọi sự đều có khả năng, chỉ riêng việc làm vua thì vô năng.

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Các niên hiệu được sử dụng trong thời kỳ trị vì của Tống Huy Tông là:

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hiển Cung hoàng hậu Vương thị (顯恭皇后 王氏, 1084 - 1108), người Khai Phong, cha là Đức Châu thứ sử Vương Tảo (王藻). Hoàng hậu cần kiệm, tích đức ôn hòa nhưng nhan sắc suy kém, không được sủng ái. Trong cung lúc đó, Trịnh quý phi và Vương thị chuyên sủng.
  2. Hiển Túc hoàng hậu Trịnh thị (顯肅皇后 鄭氏, 1079 - 1137), người Khai Phong, cha được phong tước Thái sư Nhạc Bình quận vương (樂平郡王). Vốn là thị nữ của Khâm Thánh Hướng Thái hậu. Khi Huy Tông còn là Đoan vương, thường thỉnh an Thái hậu, trông thấy Trịnh thị xinh đẹp, ngôn từ thông tuệ bèn để ý. Sau khi Huy Tông đăng vị, sách phong Hiền phi (賢妃), không lâu sau phong làm Quý phi (貴妃). Trịnh Quý phi xinh đẹp xuất chúng, ca múa hoàn mỹ, lại thường hay giúp Huy Tông xử lý tấu chương. Sau khi Vương hoàng hậu băng (1108), Huy Tông sách lập Trịnh Quý phi làm Hoàng hậu.
  3. Hiển Nhân hoàng hậu Vi thị (顯仁皇后 韋氏, 1080 - 1159), tức Vi Hiền phi (韋賢妃), mẹ của Tống Cao Tông. Ban đầu phong Tài nhân (才人), Tiệp dư (婕妤) tiến phong Uyển dung (婉容), nhan sắc kém nên không được sủng ái. Do con trai là Khang vương Triệu Cấu có công cứu giá, phong lên Hiền phi.
  4. Minh Tiết hoàng hậu Lưu thị (明節皇后 劉氏, 1088 - 1121), vốn họ Tửu (酒), là cung nữ hầu hạ Chiêu Hoài Lưu hoàng hậu (昭怀刘皇后). Sau khi Lưu hoàng hậu mất, bà xuất cung nhưng sau đó được Nội thị Dương Tiễn (楊戩) tiến nhập cung trở lại, sách phong Thục phi (淑妃) nhưng xưng làm An phi (安妃). Lưu phi dung mạo tuyệt sắc, tâm ý sâu sắc, rất giỏi hóa trang, ăn vận rất đẹp, rất được Huy Tông sủng ái. Sinh được 3 hoàng tử và 1 công chúa, sau khi mất do tình ý sâu đậm, Huy Tông truy phong làm Hoàng hậu, ông còn làm một bài truy điệu cho bà sau khi qua đời.
  5. Minh Đạt hoàng hậu Lưu thị (明達皇后 劉氏, ? - 1113), xuất thân hàn vi, nhưng dung mạo tuyệt mỹ, được Huy Tông lâm hạnh, từ vị Tài nhân nhanh chóng trở thành Tiệp dư, Tu dung rồi Quý phi, chỉ sau Trịnh hoàng hậu. Lưu phi sinh hạ 3 hoàng tử và 2 công chúa.
  6. Ý Túc quý phi Vương thị (懿肅貴妃 王氏,? - 1117), cùng với Hiển Túc hoàng hậu từng là thị nữ của Khâm Thánh Hướng thái hậu, Huy Tông thấy bà có nhan sắc lại hữu lễ nên có cảm tình. Sau khi Huy Tông đăng cơ, phong làm Bình Xương quận quân (平昌郡君), sau tối cao hơn trở thành Quý phi. Sinh được 3 hoàng tử và 5 công chúa.
  7. Quý phi Kiều thị (貴妃喬氏), cùng Vi Hiền phi là thị nữ của Trịnh hoàng hậu, cả 2 đồng cam cộng khổ kết làm tỷ muội. Kiều thị do tư sắc sinh đẹp, được Huy Tông chú ý trước, sau khi sủng hạnh, Kiều thị liền tiến cử Vi thị cùng hưởng hoàng ân. Sau sự biến Tĩnh Khang, bà cùng Vi hiền phi bị người Kim bắt, Vi phi sau được bảo lãnh quay về phương Nam, Kiều thị bị giữ lại, cả 2 đều khóc thảm thiết trước khi chia tay. Không rõ bà chết năm nào.
  8. Thục phi Thôi thị (淑妃崔氏).
  9. Thục nghi Kim Lộng Ngọc (淑儀 金弄玉), sau chính biến Tĩnh Khang, bị người Kim bắt làm tù binh.
  10. Thục dung Trần Kiều Tử (淑容 陳嬌子).
  11. Sung nghi Thân Quan Âm (充儀 申觀音).
  12. Sung viên Tịch Châu Châu (充媛 席珠珠).

Theo thống kê của "Khai Phong phủ trạng", số vợ và thê thiếp có sắc phong của Huy Tông là 143 người.

  • Con cái:

Ông có 32 người con trai, trong đó có 25 người sống tới tuổi trưởng thành.

Theo Tống sử cùng Tĩnh Khang bại sử tiên chứng (trong các phần Khai Phong phủ trạng, Tống phu kí, Thân ngâm ngữ, Thanh cung dịch ngữ) thì ông có 34 người con gái với 21 người sống tới tuổi trưởng thành. Cũng theo Tĩnh Khang bại sử tiên chứng thì sau này các bà vợ của ông còn sinh thêm 6 con trai và 8 con gái nữa. Như thế, tổng cộng ông có 80 người con.

  1. Khâm Tông hoàng đế Triệu Hoàn (趙桓), mẹ là Hiển Cung hoàng hậu.
  2. Duyện vương Triệu Sanh (趙檉), mất sớm.
  3. Vận vương Triệu Khải (趙楷, 1101 - 1131), mẹ là Ý Túc quý phi.
  4. Kinh vương Triệu Tiếp (趙楫), mất sớm.
  5. Túc vương Triệu Xu (趙樞).
  6. Cảnh vương Triệu Kỉ (趙杞).
  7. Tế vương Triệu Hủ (趙栩).
  8. Ích vương Triệu Vực (趙棫), mẹ là Minh Đạt hoàng hậu.
  9. Khang vương Triệu Cấu (趙構), sau là Tống Cao Tông. Mẹ là Vi Hiền phi, sau truy phong Hiển Nhân hoàng hậu.
  10. Bân vương Triệu Tài (趙材), mất sớm.
  11. Kỳ vương Triệu Mô (趙模), mẹ là Minh Đạt hoàng hậu.
  12. Sân vương Triệu Thực (趙植), mẹ là Ý Túc quý phi.
  13. Nghi vương Triệu Phác (趙樸).
  14. Từ vương Triệu Lệ (趙棣).
  15. Vận vương Triệu Củng (趙栱).
  16. Tín vương Triệu Trăn (趙榛), mẹ là Minh Đạt hoàng hậu.
  17. Hán vương Triệu Xuân (趙椿), mất sớm.
  18. Trần quốc công Triệu Ky (趙機), mẹ là Ý Túc quý phi.
  19. Tương quốc công Triệu Đĩnh (趙梃).
  20. Doanh quốc công Triệu Việt
  21. Gia quốc công Triệu Y
  22. Ôn quốc công Triệu Đống
  23. Nghi quốc công Triệu Đồng
  24. Xương quốc công Triệu Bính
  25. Nhuận quốc công Triệu Tung
  26. Hàn quốc công Triệu Tương
  27. Triệu Cực, mẹ là Tiểu Vương tiệp dư, chào đời lúc Huy Tông bị giải về phương bắc
  28. Triệu Trụ, mẹ là Uyển dung Diêm Bảo Sắt, chào đời ở nước Kim
  29. Triệu Đàn, mẹ là Chiêu viện Trịnh Mị Nương, chào đời ở nước Kim
  • Con gái: Năm Chính Hòa thứ ba, Huy Tông đổi xưng công chúa là đế cơ. Sử sách ghi nhận Tống Huy Tông có 34 người con gái
  1. Gia Đức đế cơ Triệu Ngọc Bàn (1100 - 1141), năm Kiến Trung Tĩnh Quốc nguyên niên phong Đức Khánh công chúa, sau đổi là Gia Phúc công chúa, sau đổi hiệu là Đế cơ rồi tái phong Gia Đức. Ban đầu lấy Tả Vệ tướng quân Tằng Di, sau loạn Tĩnh Khang bị nạp làm thiếp của Kim Tống vương Hoàn Nhan Tông Bàn (Bồ Lư Hổ). Khi Tông Bàn bị giết, Đế cơ bị sung vào cung, sau mất vào năm 1141, truy phong phu nhân.
  2. Vinh Đức đế cơ Triệu Kim Nô (1103 - ?), mẹ là Hiển Cung hoàng hậu Vương thị. Ban đầu phong Vĩnh Khánh công chúa, sau đổi là Vinh Phúc, sau đổi hiệu đế cơ, tái phong Vinh Đức. Ban đầu lấy Tả vệ tướng quân Tào Thịnh, sau loạn Tĩnh Khang làm thiếp của Kim Hoàn Nhan Xương. Xương bị giết, Đế cơ nhập cung hầu hạ Kim chủ Đản.
  3. An Đức đế cơ Triệu Kim La (1106 - 1127), ban đầu phong Thục Khánh công chúa, cải phong An Phúc. Sau đổi hiệu đế cơ, tái phong An Đức. Ban đầu lấy Tả vệ tướng quân Bang Quang, lúc loạn Tĩnh Khang bị tên súc sinh là Đô thống Hoàn Nhan Đồ Mẫu làm nhục. Ngày 26 tháng 12 ÂL năm đó bị giết chết ở trại Hoàn Nhan Đồ Mẫu.
  4. Mậu Đức đế cơ Triệu Phúc Kim (1106 - 1128)
  5. Thành Đức đế cơ Triệu Hô Nhân (1110 - ?)
  6. Tuân Đức đế cơ Triệu Phú Kim (1110 - ?)
  7. Hiển Đức đế cơ Triệu Xảo Vân (1111 - ?)
  8. Thuận Đức đế cơ Triệu Anh Lạc, mẹ là Ý Túc quý phi (1111 - 1127)
  9. Nghi Phúc đế cơ Triệu Viên Châu (1111 - ?)
  10. Nhu Phúc đế cơ Triệu Hoàn Hoàn (1111 - 1142?), mẹ là Ý Túc quý phi. Lúc loạn Tĩnh Khang bị quân Kim bắt được, đưa sang Kim, bị Kim chủ Ngô Khất Mãi làm nhục, sau đưa về làm vợ Cái Thiên đại vương Hoàn Nhan Tông Hiền. Sau không rõ tung tích. Vào năm 1130, có một người xưng là Đế cơ chạy trốn về nam, Cao Tông thương tình khổ sở lâu ngày nên rất hậu đãi, vẫn phong là đế cơ. Năm 1142, Vi thái hậu về nước nói Nhu Phúc đế cơ đã bệnh mất ở Kim và Nhu Phúc này là giả, kết quả Cao Tông giết chết Nhu Phúc. Tùy Viên tùy bútThiết phẫn tục lục cho đế cơ này là thật. Vi thái hậu trước do cùng đế cơ thờ chung một chồng là Hoàn Nhan Tông Hiền, lúc về nước sợ sự việc bị lộ bèn giết đế cơ mà diệt khẩu.
  11. Bảo Phúc đế cơ Triệu Tiên Lang (1112 - 1127)
  12. Nhan Phúc đế cơ Triệu Hương Vân (1112 - 1127)
  13. Huệ Phúc đế cơ Triệu Châu Châu (1112 - ?)
  14. Vĩnh Phúc đế cơ Triệu Phật Bảo (1112 - ?)
  15. Hiền Phúc đế cơ Triệu Kim Nhân (1112 - 1127)
  16. Ninh Phúc đế cơ Triệu Xuyên Châu (1114 - ?)
  17. Hòa Phúc đế cơ Triệu Kim Châu (1116 - ?)
  18. Lệnh Phúc đế cơ Triệu Kim Ấn (1118 - ?)
  19. Hoa Phúc đế cơ Triệu Tái Nguyệt (1119 - ?)
  20. Khánh Phúc đế cơ Triệu Kim Cô (1121 - ?)
  21. Thuần Phúc đế cơ Triệu Kim Linh (1124 - ?)
  22. Thục Thúc đế cơ
  23. Thọ Thục đế cơ
  24. An Thục đế cơ
  25. Sùng Đức đế cơ
  26. Khang Thục đế cơ
  27. Vinh Thục đế cơ
  28. Bảo Thục đế cơ
  29. Điệu Mục đế cơ
  30. Hi Phúc đế cơ
  31. Đôn Phúc đế cơ
  32. Thân Phúc đế cơ
  33. Cung Phúc đế cơ Triệu Tiểu Kim (1126 - ?), lúc loạn Tĩnh Khang mới một tuổi, không bị đưa lên bắc
  34. Toàn Phúc đế cơ: Sinh ở Kim, lấy Tây Hạ Lý Đôn Phục
  35. Triệu thị, sinh ở Kim và mất sớm

Có hai người không bị bắt lên miền bắc, tiếp tục sống dưới thời Nam Tống. Khi mất truy phong thụy hiệu

  1. Sùng Quốc công chúa
  2. Xung Ý đế cơ

Trong phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật Tống Huy Tông Triệu Cát xuất hiện trong một số bộ phim điện ảnh Trung QuốcHồng Kông

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thoái vị, nhường ngôi cho con. Được tôn làm Thái thượng hoàng. Ngày 20 tháng 3 năm 1127 bị nhà Kim giáng làm dân thường.
  2. ^ Đặt năm 1143.
  3. ^ Ebrey, Cambridge, 149.
  4. ^ a ă Ebrey, 165.
  5. ^ Thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc hiện nay
  6. ^ Kinh đô triều Bắc Tống, nay thuộc Khai Phong, Hà Nam, Trung Quốc
  7. ^ Nay thuộc huyện Y Lan, tỉnh Bắc Long Giang, Trung Quốc
  8. ^ Đông nam Thiệu Hưng, Chiết Giang, Trung Quốc
  9. ^ a ă â b c Tống sử, quyển 19.
  10. ^ a ă â b c Tục tư trị thông giám, quyển 86.
  11. ^ Phạm Thuần Nhân mất đầu năm 1101 ở tuổi 75
  12. ^ Châu Hạo trước đó đã cực lực khuyên ngăn Triết Tông phế hậu và bị do đó bị lưu đày
  13. ^ Tống sử, quyển 471
  14. ^ Tống sử, quyển 243.
  15. ^ a ă â b c Tục tư trị thông giám, quyển 87.
  16. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 472.
  17. ^ a ă Tục tư trị thông giám, quyển 88.
  18. ^ www.worldmusiccentre.com

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ebrey Patricia Buckley (1999). The Cambridge Illustrated History of China. Cambridge: Nhà in Đại học Cambridge. ISBN 0-521-66991-X (bìa giấy).
  • Ebrey Walthall và Palais (2006). East Asia: A Cultural, Social, and Political History. Boston: Houghton and Mifflin.