Lý Tĩnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lý Tĩnh, tiếng Trung: 李靖, (571 - 649) tên thật là Dược Sư, người huyện Tam Nguyên Ung Châu (nay là huyện Tam Nguyên, tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc), là tướng lĩnh nhà Đường và về sau từng đảm nhận chức vụ Tướng quốc. Ông có công diệt Đông Đột Quyết, Thổ Dục Hồn, sau được phong làm Vệ Cảnh Vũ công nên còn gọi là Lý Vệ Công. Lý Tĩnh và Lý Thế Tích được coi là hai vị tướng xuất sắc nhất thời Sơ Đường.

Dưới thời nhà Tùy[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Tĩnh sinh năm 571 dưới thời Bắc Chu, trong thế gia Lý thị Lũng Tây. Ông nội ông, Lý Sùng Nghĩa, từng làm thứ sử Ân Châu, tước đến Vĩnh Khang huyện công, cha ông Lý Thuyên từng làm thái thú quận Triệu, tước đến Lâm Phần tương công. Ngay từ nhỏ, ông đã thể hiện là một người tài năng văn võ song toàn, thông hiểu sử sách, đặc biệt có năng khiếu về lý luận quân sự. Ông là cháu gọi với danh tướng nhà Tùy Hàn Cầm Hổ bằng cậu. Hàn Cầm Hổ đánh giá cao tài năng của Lý Tĩnh đến nỗi thường nói rằng: "Có thể đàm đạo cùng ta về binh pháp Tôn, Ngô (Tôn Tử,Ngô Khởi - hai nhà quân sự cổ đại của Trung Quốc), cũng chỉ có Lý Tĩnh thôi". Thời trẻ ông đảm nhận chức Công tào huyện Trường An, sau giữ chức Giá bộ Viên ngoại lang. Tuy đây chỉ là những chức quan nhỏ nhưng nhiều quan lớn trong triều như Lại bộ Thượng thư Ngưu Hoằng, Thượng thư Tả phó xạ Dương Tố đều biết đến tên tuổi Lý Tĩnh và có ý khen ngợi ông.

Năm Đại Nghiệp thứ 13 (617), Lý Tĩnh được bổ nhiệm làm quận thừa Mã Áp (nay thuộc tỉnh Sơn Tây). Lúc này phong trào khởi nghĩa phản Tùy đang lên cao: Hà Bắc có Đậu Kiến Đức, Hà Nam có Trạch Nhượng, Lý Mật, Giang Hoài có Đỗ Phục Uy, Phụ Công Thạch đều hùng cứ một phương, uy hiếp nghiêm trọng đến triều đình nhà Tùy. Lý Uyên khi đó đang là Lưu thủ Thái Nguyên cũng âm thầm chiêu binh mãi mã, chờ ngày khởi sự. Lý Tĩnh phát hiện ra động thái bất thường của Lý Uyên, vội lên đường đến Giang Đô để báo cho Tùy Dạng Đế. Tuy nhiên khi ông đến Trường An thì cả vùng Quan Trung đã đại loạn, đường sá tắc nghẽn và không có cách nào đi đến Giang Đô. Không lâu sau đó, Lý Uyên quả nhiên khởi binh công chiếm Trường An và bắt được Lý Tĩnh. Nhớ thù xưa, Lý Uyên đem Lý Tĩnh ra hành hình, nhưng ông nói: "Đường công khởi nghĩa binh là muốn vì thiên hạ mà trừ bạo loạn, nhưng nay chỉ vì ân oán cá nhân mà chém tráng sĩ thì liệu có thành đại sự được không?". Lý Uyên ấn tượng với lời nói ông, đồng thời Lý Thế Dân - vì thán phục dũng khí của Lý Tĩnh - cũng đứng ra xin hộ nên Lý Tĩnh được tha. Không lâu sau đó Lý Thế Dân mời Lý Tĩnh về phục vụ dưới trướng.

Dưới thời Cao Tổ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 618, sau khi nhận được tin Vũ Văn Hóa Cập gây chính biến, giết chết Tùy Dạng Đế Lí Uyên ép Tùy Cung Đế nhường ngôi để lập ra nhà Đường, tức là Đường Cao Tổ. Lý Tĩnh tiếp tục phục vụ cho triều đại mới và đến năm 619 thì tham gia chiến dịch tấn công nước Trịnh của Vương Thế Sung, lập công trong trận Lạc Dương và trận Hổ Lao nên được phong chức Khai phủ.

Sau đó Lý Uyên đã giao phó cho Lý Tĩnh đánh dẹp Tiêu Tiển (蕭銑), là chắt của vua nhà Lương (502 - 557) là Thế Tổ Nguyên Đế (Tiêu Dịch) (508 - 555) đang cát cứ vùng trung du sông Trường Giang. Sau khi nhận trọng trách, qua tìm hiểu phân tích thế cục tỉ mỉ, Lý Tĩnh đã dâng sớ lên Đường Cao Tổ Lý Uyên với 10 phương lược tiêu diệt Tiêu Tiển. Đường Cao Tổ nhanh chóng phê duyệt phương án tác chiến này và bổ nhiệm Lý Tĩnh làm tổng chỉ huy chiến dịch. Bằng tài năng quân sự, năm 621, nhà Lương của Tiêu Tiển đã bị tiêu diệt.

Dưới thời Thái Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 630, Lý Tĩnh lại được cử làm tổng chỉ huy ra đánh tan quân Đột Quyết của Hiệt Lợi Khả Hãn (頡利可汗) ở biên giới phía Đông Đại Đường.

Tháng 4 năm 635, mặc dù đã ngoài 60 và muốn lui về ở ẩn, nhưng biên cương phía Bắc Đại Đường, quân Thổ Cốc Hồn của Mộ Dung Phục Doãn (慕容伏允) lại xâm lấn, cướp phá, Đường Thái Tông vẫn mời và phong chức ông Đại Tổng quản hành quân Tây Hải đạo, thống soái cả năm đạo binh do các tướng Đạo Tông, Hầu Quân Tập, Lý Đại Lượng, Lý Đạo Ngạn, Cao Tăng Sinh để tiến đánh Thổ Cốc Hồn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Cựu Đường thư, quyển 67

Tân Đường thư, quyển 93

Tự trị thông giám, các quyển số 184, 187, 188, 189, 190, 191, 193, 194, 196, 197, 198 và 199.