Minh Anh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Anh Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
明英宗.jpg
Chân dung của Minh Anh Tông.
Hoàng đế nhà Minh (lần 1)
Tại vị 7 tháng 2, 14351 tháng 9, 1449
(&0000000000000014.00000014 năm, &0000000000000206.000000206 ngày)[1][2]
Tiền nhiệm Minh Tuyên Tông
Kế nhiệm Minh Đại Tông
Hoàng đế nhà Minh (lần 2)
Tại vị 11 tháng 2, 145723 tháng 2, 1464
(&0000000000000007.0000007 năm, &0000000000000012.00000012 ngày)
Tiền nhiệm Minh Đại Tông
Kế nhiệm Minh Hiến Tông
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên đầy đủ Chu Kì Trấn (朱祁鎮)
Niên hiệu Chính Thống (正統) (18 tháng 1, 1436 - 13 tháng 1, 1450
Thiên Thuận (天順) (15 tháng 2, 145726 tháng 1, 1465
Thụy hiệu Duệ hoàng đế (睿皇帝) (ngắn)
Pháp thiên Lập đạo Nhân minh
Thành kính Chiêu văn Hiến vũ
Chí đức Quảng hiếu Duệ hoàng đế
法天立道仁明誠敬昭文憲武至德
廣孝睿皇帝 (đầy đủ)
Miếu hiệu Anh Tông (英宗)
Triều đại Nhà Minh
Thân phụ Minh Tuyên Tông
Thân mẫu Không rõ họ tên (mẹ đẻ)
Tôn phu nhân (mẹ dưỡng)
An táng Dụ lăng

Minh Anh Tông (29/11/142723/2/1464), tên thật là Chu Kì Trấn, là vị Hoàng đế thứ 6 và thứ 8 của nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông trị vì hai lần với niên hiệu Chính Thống từ năm 1435 tới năm 1449 và niên hiệu Thiên Thuận từ năm 1457 tới năm 1464.[3]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Kỳ Trấn là con của Minh Tuyên Tông Chu Chiêm Cơ. Mẹ ông là một cung nữ chưa rõ tên tuổi, có ý kiến cho rằng bà họ Kỷ. Nhưng khi ông ra đời đã được mang cho Tôn quý phi đang đắc sủng nuôi làm con.

Chu Kỳ Trấn ra đời tháng 11 năm 1427. Ngay tháng 2 năm 1428, khi mới 3 tháng tuổi, ông được Minh Nhân Tông lập làm thái tử.

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng giêng năm 1435, Minh Tuyên Tông qua đời. Trong triều có tin đồn Trương thái hậu muốn triệu em Nhân Tông là Tương vương Chu Chiêm Thiện lên nối ngôi. Để tránh dư luận bàn tán, Trương thái hậu sai người rước Chu Kỳ Trấn lúc đó mới 8 tuổi vào cung và chỉ định làm vua mới. Ngày 10 tháng giêng năm 1435, Chu Kỳ Trấn được lập lên nối ngôi, tức là Minh Anh Tông.

Nhà Minh đang phồn thịnh và đang ở đỉnh cao của sự thịnh vượng nhờ sự quản lý có hiệu quả của hoàng đế Tuyên Đức trước đó. Minh Anh Tông lên ngôi có bà nội là thái hoàng thái hậu họ Trương đứng ra nhiếp chính.

Trọng dụng Vương Chấn[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Anh Tông còn nhỏ, Trương thái hoàng thái hậu sai các đại thần vào điện Kinh diên dạy học và lễ nghĩa cho vua. Những người lãnh trách nhiệm này có đại thần Trương Phụ, Dương Sĩ Kỳ, Dương Vinh, Dương Phổ, Trần Trí. Ngoài ra còn có thái giám Vương Chấn quản lý việc trong cung cấm.

Từ khi là thái tử, Chu Kỳ Trấn đã thân với hoạn quan Vương Chấn. Sau khi lên ngôi, ông phong Vương Chấn làm Ty lễ giám đứng đầu các hoạn quan. Do nhà Minh đã bỏ chức thừa tướng từ thời Minh Thái Tổ, quyền hành tập trung hết vào tay vua, tới thời Minh Anh Tông nhờ cậy hết vào Vương Chấn: các tấu chương từ dưới tâu lên Anh Tông đều để Vương Chấn phê duyệt[4]. Vì vậy uy quyền của Vương Chấn ngày càng lớn.

Do sự chuyên quyền của Vương Chấn, Trương thái hoàng thái hậu từng ra tay ngăn chặn, theo di huấn khi còn sống của Minh Thái Tổ không để hoạn quan dự triều chính. Nhưng điều đó chỉ tạm thời cản Vương Chấn. Năm 1442, Trương thái hoàng thái hậu qua đời, từ đó không còn ai ngăn cản sự lộng hành của Vương Chấn.

Nhiều quan lại sợ Vương Chấn nên ra sức lấy lòng Chấn, nhiều người muốn bản tấu được phê đều phải đút lót cho Vương Chấn. Trong số đó không phải tất cả đều mưu đồ cá nhân, cũng có những viên quan như Chu Thầm nhờ đó mà làm lợi cho địa phương mình[5].

Khi giao hết quyền cho Vương Chấn, Minh Anh Tông ở sâu trong cung cấm hưởng lạc. Ông hoàn toàn tin tưởng vào tài năng của Vương Chấn, vì từ nhiều đời trước các hoạn quan vào cung đều không biết chữ, trong số các hoạn quan trong triều khi đó chỉ có Vương Chấn xuất thân từ học trò tự hoạn vào cung[6].

Nguy cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Bên ngoài, các tông thất nhà Minh liên tiếp được ban thưởng nhiều ruộng đất và bản thân họ cũng cướp nhiều ruộng của dân nghèo làm tài sản riêng[7]. Vì vậy, nhiều nơi nông dân nổi dậy khởi nghĩa. Năm 1445, Diệp Tông Lưu ở Chiết Giang khởi binh, bị thua một lần lại chạy sang Phúc Kiến khởi binh lần nữa năm 1447. Năm 1448, Đặng Mậu Thất ở huyện Sa, Phúc Kiến nổi lên, liên kết với Diệp Tông Lưu. Triều đình sai Trần Mậu, Lương Dao, Trần Dự dẹp được. Cùng lúc, Hoàng Tiêu Dưỡng ở Quảng Đông khởi nghĩa, đến tận năm 1550 mới bị trấn áp.

Ngoài biên ải phía tây nam nhà Minh cũng không yên ổn. Lộc Xuyên Tuyên úy ty (Vân Nam) gần Miến Điện, thủ lĩnh là cha con Tư Nhiệm Phát, Tư Cơ Phát và Tư Lộc chống triều đình từ năm 1437. Tình hình tạm yên năm 1440 khi Tư Nhiệm Phát có ý quy phục, nhưng Minh Anh Tông lại nghe theo Vương Chấn, muốn tỏ rõ võ công triều đình nên huy động nhiều binh sĩ Tứ Xuyên, Quý Châu và Hồ Quảng tham chiến tiếp, dù đến năm 1448 có thắng vài trận nhưng cuối cùng vẫn phải thừa nhận địa vị cai trị địa phương này của Tư Lộc[8].

Chiến sự liên miên cùng sự tham lam của bộ máy cai trị khiến quân đội càng suy yếu. Minh Thái Tổ từng xây dựng chế độ vệ sở, dùng phép “ngụ binh ư nông” để quân lĩnh tự cày cấy lấy lương thực, nhưng đến lúc này các võ quan cao cấp và các địa chủ lớn tại địa phương chiếm lấy đất của quân sĩ làm của riêng, thu nhập của đồn điền không đủ nuôi binh sĩ[9]. Quân sĩ bỏ trốn rất nhiều, tính đến năm 1448, Bộ Binh báo cáo lên triều đình, tổng số quân sĩ bỏ trốn phải xóa tên lên tới 66 vạn người[9]. Vũ khí trang bị cho quân đội nhà Minh cũng vừa thiếu vừa kém chất lượng, nhiều đồ dùng bị hư hỏng.

Cuộc chiến với tộc Ngõa Lạt[sửa | sửa mã nguồn]

Xung đột ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy Mông Cổ bị Minh Thái Tổ đánh đuổi về thảo nguyên phía bắc nhưng vẫn là lực lượng hùng mạnh, luôn uy hiếp biên cương nhà Minh trong những năm sau đó. Tộc Ngõa Lạt là một chi của Mông Cổ, đến đầu thời Minh đã lớn mạnh hơn so với các bộ tộc Mông Cổ khác. Lúc đó Đại hãn Thoát Thoát và thái sư Dã Tiên muốn tiến xuống phía nam.

Nhân lúc quân Minh sa lầy vào cuộc chiến ở phía tây nam, năm 1442 Dã Tiên mở rộng lãnh địa và ảnh hưởng tới các vùng xung quanh, dần dần mở rộng lãnh thổ từ phía đông tới Triều Tiên, phía tây tới Tân Cương.

Năm 1448, Dã Tiên lại cử đoàn sứ bộ gồm 2.524 người đến Bắc Kinh, nói thăng lên 3.598 người để lĩnh thêm đồ thưởng của nhà Minh. Vương Chấn ra lệnh điều tra số lượng sứ bộ, lại thấy ngựa mang cống của Dã Tiên nhỏ gầy, bèn hạ giá ngựa đi, rồi giảm đồ ban thưởng xuống chỉ còn 1/5[10]. Dã Tiên từng có hứa hẹn thông gia với nhà Minh, thấy triều Minh có ý khất việc đó và làm nhục sứ bộ, bèn nhân cớ đó để khởi binh.

Trận chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè năm 1449, Dã Tiên tập kết binh mã các nơi chuẩn bị tiến xuống phía nam. Tin truyền đến Bắc Kinh, Minh Anh Tông cử sứ đến các Tuyên Phủ, Đại Đồng chỉnh đốn quân bị để đối phó.

Ngày 11 tháng 7, quân Ngõa Lạp của Dã Tiên ồ ạt tấn công Đại Đồng. Tướng Ngô Hạo nhà Minh đụng độ Dã Tiên ở Miêu Nhi Trang bị đại bại và tử trận. Minh Anh Tông điều Tỉnh Nguyên mang 4 vạn quân ra cứu viện, cũng bị tiêu diệt hoàn toàn[11].

Vương Chấn ra sức cổ vũ Anh Tông thân chinh noi theo gương các vua đời trước đánh Mông Cổ như Minh Thái Tổ và Minh Thành Tổ. Minh Anh Tông quen hưởng lạc, chưa có kinh nghiệm gian khổ trận mạc nên nghĩ việc quân sự khá đơn giản và nghe theo lời Vương Chấn[12].

Các đại thần như Thượng thư Bộ Binh là Khoáng Dã, Hữu thị lang Bộ Binh là Vu Khiêm, Thượng thư bộ Lại là Vương Trực... thấy Anh Tông định thân chinh, vội vã dâng sớ can ngăn, nhưng Anh Tông nhất định không nghe theo. Ngày rằm tháng 7 năm đó, ông ban chiếu thân chinh, để em là Thành vương Chu Kỳ Ngọc trấn thủ kinh thành, Phò mã đô úy Tiêu Kính phụ chính[13].

Tình hình ngoài mặt trận càng ngày càng bất lợi cho quân Minh. Ngày 16 tháng 7, Anh Tông lên đường ra mặt trận, mang theo 50 vạn tướng sĩ[13][14], đêm hôm đó đại quân đóng ở Ma Gia Lĩnh. Ngày 23 tháng 4 đại quân đến Tuyên Phủ. Những ngày hành quân liên tiếp có mưa gió, mọi người lo lắng, lương thảo không đủ, quân lĩnh đều mệt mỏi. Các quan xin Anh Tông ngừng hành quân vì quân sĩ kém hăng hái. Nhưng Anh Tông giao hết quyền cho Vương Chấn. Chấn một mực muốn đánh, hạ lệnh ba quân bày trận[15].

Ngày 28, Anh Tông tới phía nam thành Dương Hòa. Quân sĩ trông thấy xác chết của quân nhà trong trận đánh trước đó với quân Ngõa Thích, đều hoảng sợ. Ngày 1 tháng 8 thì đại quân đến Đại Đồng. Lúc này Dã Tiên sau trận thắng đã chủ động rút về phía bắc chờ đợi thời cơ. Vương Chân muốn phát lệnh bắc tiến, thái giám thân tín là Quách Kính vội báo với Vương Chấn về tình hình bi đát ngoài mặt trận của quân Minh. Vương Chấn biết tin thật, bắt đầu lo lắng, bèn quyết định rút quân về[16].

Ngày 2 tháng 8, đại quân bắt đầu rút về phía đông. Ban đầu, Vương Chấn định đi theo đường Tử Kinh Quan là đường ngắn để về nhanh. Tuy nhiên, đây cũng là đường qua Úy châu – quê Vương Chấn. Đi được 40 dặm, Vương Chấn chợt thay đổi ý định, sợ số quân lớn 50 vạn người sẽ giẫm nát lúa màu quê nhà, do đó quyết định đổi hướng hành quân từ đường đông nam lên đường đông bắc, đi theo đường cũ từ Tuyên Phủ về kinh. Việc thay đổi lộ trình vừa kéo dài thời gian, vừa gây ra nghi hoặc lớn trong các tướng sĩ[16].

Ngày 7 tháng 8, Anh Tông tới đến Tuyên Phủ. Dã Tiên phát hiện quân Minh đi đường vòng mất thời gian, bèn dẫn quân từ phía bắc đón đường vây đánh. Thượng thư Bộ Binh là Khoáng Dã đề nghị cử tinh binh đi sau cùng chặn hậu, còn xa giá phải nhanh chóng chạy vào cửa ải, nhưng Vương Chấn ra sức phản đối.

Ngày 10 tháng 8, Anh Tông đến đông nam Tuyên Phủ, ngày 12 sắp khởi hành thì nhận được tin báo quân Dã Tiên đã đuổi tới gần. Anh Tông bèn hạ lệnh đóng quân dựng trại một chỗ, cử anh em Ngô Khắc Trung và Ngô Khắc Cần ra chặn hậu. Dã Tiên đánh tới, giết chết anh em họ Ngô.

Chập tối, Anh Tông nghe tin anh em họ Ngô tử trận, bèn cử Chu Dũng, Tiết Phụ mang 4 vạn quân ra đánh, nhưng gặp phục binh ở hẻm núi Diều Nhi, toàn quân bị tiêu diệt.

Ngày 13, Anh Tông cùng đại quân tới pháo đài Thổ Mộc (Thổ Mộc Bảo), phía đông cách thành Hoài Lai 20 dặm. Quần thần kiến nghị kéo đến bảo vệ Hoài Lai, nhưng Vương Chấn cho rằng còn hơn 1000 xe quân dụng chưa tới, hạ lệnh toàn quân đóng lại Thổ Mộc Bảo để chờ đợi. Quân Minh chọn chỗ cao đóng trại, nhưng không tìm được nguồn nước.

Ngày 14 tháng 8, kỵ binh Ngõa Lạt đuổi đến nơi, bao vây chặt quân Minh, cắt đường nước suối phía nam cách đó 15 dặm. Quân Minh bị đói khát, phải kịch chiến suốt đêm ở phụ cận Ma Cốc Khẩu. Quân Minh không tìm được đường ra.

Đang lúc nguy cấp, có sứ giả của Dã Tiên tới xin nghị hòa, làm ra vẻ muốn rút quân. Anh Tông không biết là dối trá, bèn cho học sĩ Tào Nại thảo chiếu nghị hòa, rồi sai sứ sang gặp Dã Tiên. Vương Chấn cho rằng vòng vây đã được mở, vội hạ lệnh cho quân đi đến chỗ có gần nước. Trong lúc quân Minh tranh nhau đi lấy nước mất hàng lối thì quân Ngõa Lạt đột ngột tấn công. Mấy chục vạn quân Minh không kịp trở tay, không có đường chạy trốn, bị tử trận, thây nằm ngổn ngang[17][18].

Hộ vệ tướng quân Phàn Trung trong lúc hỗn loạn nổi giận cầm gậy đánh chết Vương Chấn. Sau đó Phàn Trung ra trận nhưng không chống nổi quân Ngõa Lạt và bị tử trận. Cùng bị giết với mấy chục vạn quân Minh có trên 50 quan văn võ là: Trương Phụ, Trần Doanh, Vương Tá (Thượng thư Bộ Hộ), Khoáng Dã (Thượng thư Bộ Binh), Tào Nại, Đình Tư, Vương Vĩnh Hòa, Đặng Khởi.

Bị bắt[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Anh Tông biết không còn khả năng trốn chạy, bèn xuống ngựa chọn chỗ ngồi nhìn về hướng nam, chỉ còn 1 viên hoạn quan bên cạnh. Một kị binh Ngõa Lạt đuổi đến, muốn lấy bộ áo giáp quý giá trên người ông, nhưng ông cự tuyệt. Người lĩnh Ngõa Lạt định giết ông thì anh người đó phi ngựa tới ngăn lại vì trông thấy phong cách bất thường của ông. Hai anh em người lính dẫn Minh Anh Tông đến gặp em Dã Tiên là Trại San vương.

Vừa gặp Trại San vương, Anh Tông cất tiếng hỏi thân thế. Trại San vương nghe khẩu khí ông rất kinh ngạc, vội báo cho Dã Tiên. Dã Tiên bèn sai hai thủ hạ là Cáp Ba quốc sư và Cáp Giả Lý Bình Chương từng đi sứ nhà Minh đến nhận mặt. Sau khi xác định rõ là vua nhà Minh, Dã Tiên rất mừng, cho rằng đã có cơ hội tiến vào trung nguyên như các vua nhà Nguyên trước đây[19].

Dã Tiên muốn lấy Anh Tông làm con tin, bèn mang ông tới giao cho doanh trại của Bá Nhan Thiếp Mục Nhi phải bảo vệ.

Tù binh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 8, Dã Tiên mang Anh Tông đến phía nam thành Tuyên Phủ, bắt ông đứng ra dụ quân Minh trong thành phải mở cửa. Tướng giữ thành là Quách Đăng không chịu vì hiểu ý đồ cốt vơ vét của cải trong thành của Dã Tiên chứ không có ý định giết Anh Tông[20]. Dã Tiên đành mang ông trở về doanh trại cũ trong sa mạc, huy động thêm lực lượng để mở chiến dịch mới đánh trung nguyên.

Được tin Anh Tông bị bắt, triều đình nhà MinhBắc Kinh gấp gáp đối phó, lập em ông là Thành vương Chu Kỳ Ngọc lên làm vua mới, tức là Minh Đại Tông, lấy niên hiệu là Cảnh Thái và vọng tôn ông làm thái thượng hoàng. Tôn thái hậu và hoàng hậu thu gom rất nhiều vàng bạc châu báu lên xe để chuẩn bị xin đánh đổi lấy Anh Tông[21].

Trong số những người bị bắt cùng Anh Tông, có hoạn quan Hỉ Ninh đầu hàng Dã Tiên, mang tình hình Trung Nguyên nói với Dã Tiên. Cuối tháng 9 năm 1449, Dã Tiên tập hợp xong lực lượng các bộ tộc, kéo xuống phía nam tấn công Bắc Kinh. Ngày 1 tháng 10 quân Mông Cổ đến Đại Đồng. Đến chân thành, Dã Tiên tuyên bố ý định mang Anh Tông về để khiến nội bộ nhà Minh thù hận giết nhau. Anh Tông biết Dã Tiên sẽ không giết mình. Nhân lúc có tri phủ Hoắc huyện từ hang nước vào lén dâng ngỗng và rượu, Anh Tông sai đi nói với Quách Đăng hết sức giữ thành Đại Đồng.

Quả nhiên khi Dã Tiên đến chân thành, Quách Đăng một lần nữa không chịu mở thành. Dã Tiên bèn tiến về Bắc Kinh. Quách Đăng phi báo về triều. Ngày 1 tháng 10, Dã Tiên tiến đến Lư Cầu Kiều. Minh Anh Tông viết thư sai người gửi cho Tôn thái hậu và vua em Cảnh Thái thông báo tình hình, đề nghị cố sức phòng thủ.

Ngày 13 tháng 10, quân Ngõa Lạt đánh thành. Quân Minh dưới sự chỉ huy của Thượng thư Bộ Binh mới là Vu Khiêm đã kháng cự mãnh liệt. Dã Tiên cố sức đánh không nổi, lại sợ viện binh quân Minh các nơi kéo đến chặn đường về, nên ngày 15 tháng 10 nhổ trại lui về phía bắc.

Qua lần công kích Bắc Kinh bất thành, Dã Tiên nhận ra ý định dùng Anh Tông tiến vào trung nguyên để khôi phục nhà Nguyên sẽ không thành công, mặt khác hai nước còn gián đoạn hoạt động buôn bán, tổn hại kinh tế không nhỏ. Vì vậy Dã Tiên bắt đầu có ý định trả lại Anh Tông[22].

Mùa đông năm đó, Anh Tông bị đưa lên ngựa trở về sa mạc, bên cạnh có 3 viên thủ hạ của Dã Tiên: Viên Bân, Hồ Ly và Cáp Minh thường ngủ cùng ông. Lâu ngày, quan hệ giữa ông và họ trở nên khá thân thiết. Dã Tiên đối đãi với Anh Tông rất hậu: 2 ngày cho 1 còn cừu, 5 ngày cho 1 con dê, 7 ngày cho 1 con bò; còn sữa bò sữa cừu không thiếu. Dã Tiên còn muốn gả em gái cho Anh Tông, nhưng ông tìm cách từ chối[22].

Sau nhiều lần dùng Minh Anh Tông làm chiêu bài để lừa và ép triều đình nhà Minh các điều kiện về đất đai không thành, sang năm 1450, Dã Tiên sai người báo với triều đình nhà Minh ý định trả lại Anh Tông về Bắc Kinh. Nhà Minh xảy ra tranh luận gay gắt về vấn đề đón ông về. Vua em Cảnh Thái không muốn nhường lại ngôi vị nên lấy lý do Dã Tiên nhiều lần gian dối trong việc nghị hòa để phản đối[23]. Sau khi bàn bạc với các đại thần, Cảnh Thái quyết định sẽ đón Anh Tông trở về ở ngôi thượng hoàng, vì ngôi vua của Cảnh Thái đã định[24].

Ngày 1 tháng 7 năm 1450, sứ bộ nhà Minh do Lý Thực đứng đầu lên đường đưa thư, nhưng nội dung chỉ nói tới nghị hòa không nói tới việc đón thượng hoàng Anh Tông. Ngày 11 tháng 7, Lý Thực tới chỗ Dã Tiên. Dã Tiên để Lý Thực gặp Anh Tông. Anh Tông thông qua thư từ của sứ bộ, biết vua em Cảnh Thái không muốn đón mình về, bèn nhờ Lý Thực báo với vua em, mình sẽ lui về trông coi lăng tẩm tổ tông hoặc làm dân thường, không trở lại ngôi báu nữa; mặt khác ông cảnh báo vua Cảnh Thái, nếu còn để ông làm tù binh, Dã Tiên còn tiếp tục quấy rối biên cương phía bắc[25].

Anh Tông quy trách nhiệm bại trận cho Vương Chấn và tỏ ý căm hận hoạn quan Ninh Hỉ phản bội. Vì vậy ông đề nghị Dã Tiên để Ninh Hỉ cùng trở về với sứ bộ nhà Minh thương nghị với triều đình Cảnh Thái. Theo mưu kế do Anh Tông dặn trong mật thư, tướng Cao Bân đi tới Tuyên Phủ hợp tác với quân Minh trong thành, bắt giữ Hỉ Ninh mang xé xác[26].

Trong khi Lý Thực chưa về tới Bắc Kinh, Khả hãn Thoát Thoát cũng không thích sự chuyên quyền của Dã Tiên, bèn sai sứ đến giảng hòa với vua Cảnh Thái. Cảnh Thái sai Dương Thiện đi đáp lễ nhưng vẫn không đả động việc đón Anh Tông trở về. Nhưng Dương Thiện nuôi ý định đón Anh Tông, bèn tự mình bỏ ra rất nhiều tiền riêng mang nhiều lễ vật cho Dã Tiên và cố thuyết phục Dã Tiên. Kết quả Dã Tiên quyết định trao trả Anh Tông về.

Ngày 2 tháng 8 năm 1450, Minh Anh Tông lên đường trở về Trung Quốc sau 1 năm làm tù binh. Dã Tiên mang quân theo đưa tiễn nửa ngày đường. Khi chia tay, Dã Tiên lấy một bộ quần áo chiến và 1 bộ cung tên tặng ông. Còn Bá Nhan Thiếp Mộc Nhi tiếp tục đưa tiễn ông 2 ngày đường.

Anh Tông trở về qua Thổ Mộc Bảo, cúng tế các tướng sĩ tử trận trước kia. Ngày rằm tháng 8, ông trở về tới Bắc Kinh. Khi qua An Định Môn, vua em Đại Tông cùng văn võ bá quan ra đón, rồi đưa ông về ở trong Nam cung.

Thái thượng hoàng bị giam lỏng[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Anh Tông bị vua em khống chế ở Diên An cung, còn gọi là Nam cung hay Tiểu Nam Thành, nhỏ bé hơn nhiều so với Tử Cấm Thành cũ mà ông từng ở khi làm vua. Ông bị Đại Tông cử người canh giữ nghiêm ngặt.

Ngày 11 tháng 11 là ngày sinh thứ 23 của ông, Minh Đại Tông đã từ chối kiến nghị của một số quan lại Bộ Lễ về việc cử hành long trọng mừng sinh nhật ông. Cuối năm đó, Thượng thư Bộ Lễ là Hồ Hoàng lại đề nghị tới Tết nguyên đán để mọi người tới chúc mừng thái thượng hoàng, nhưng Đại Tông cũng cự tuyệt. Sang những năm sau, năm nào Bộ Lễ cũng đề nghị cử hành lễ chúc mừng ông khi tới dịp nhưng không được vua em chấp thuận[27].

Sang năm 1452, con Anh Tông là thái tử Chu Kiến Thâm bị phế truất, thay vào đó là Chu Kiến Tế - con trai vua Đại Tông. Tuy nhiên năm sau, Chu Kiến Tế chết yểu. Ngự sử Chung Đồng dâng sớ đề nghị phục hồi ngôi thái tử cho Chu Kiến Thâm, nhưng Đại Tông không nghe, giận dữ sai đánh đòn gậy khiến Chung Đồng bị chết.

Minh Anh Tông bị canh giữ chặt chẽ. Hoạn quan Nguyễn Lãng và Vương Dao từng nhận đồ dùng do ông tặng mang ra ngoài, liền bị Đại Tông bắt giam, kết quả cả 2 cùng chết. Đến năm 1455, Đại Tông theo kiến nghị của hoạn quan Cao Bình, sai chặt hết cây cối của cung Diên An để đề phòng những người lén lút vượt tường cao qua lại với ông.

Cuộc sống hằng ngày của ông cũng rất vất vả, chỉ còn lại số rất ít các thị vệ, thức ăn chỉ được đưa qua lỗ nhỏ, vừa ít vừa kém chất. Hoàng hậu Tiền thị phải làm việc ngày đêm, làm ra được một số đồ thêu mang bán để đổi lấy đồ ăn thức uống, bên nhà mẹ Tiền hoàng hậu cũng phải tiếp tế thêm[28].

Trở lại ngôi vua[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12 năm 1456, Minh Đại Tông bị bệnh nặng. Tết nguyên đán 1457, Đại Tông không thể tự cử hành các lễ đầu năm, phải sai đại thần Thạch Hanh làm thay. Thạch Hanh đoán chắc Đại Tông sẽ không qua khỏi, liền bàn với Dương Thiện, Tào Cát Tường chuẩn bị Anh Tông trở lại ngôi vua.

Thạch Hanh sai người báo cho Anh Tông biết, rồi tâu lên Tôn thái hậu. Đêm 16 tháng giêng năm 1457, Anh Tông đáp lại với Thạch Hanh và Từ Hữu Trinh nhất trí với đề nghị của họ.

Minh Đại Tông dự định sáng ngày 17 tháng giêng sẽ lâm triều. Canh ba sáng 17 tháng giêng, Thạch Hanh cùng Hữu đô ngự sử La Thông dẫn quân tiến về thành Nam. Canh tư, hơn 1000 quân dưới quyền Từ Hữu Trinh tiến vào thành, đánh tan quân canh giữ Anh Tông, đưa ông lên xe.

Sáng hôm đó khi trăm quan vào triều đợi vua từ canh 5, nhưng khi lên điện thì thấy Anh Tông xuất hiện, tuyên bố trở lại ngôi vua. Ngay hôm sau, ông hạ lệnh bắt những người thân tín với vua em Đại Tông như Vu Khiêm, Vương Văn, rồi 4 ngày sau, tức là ngày 21 tháng giêng đổi niên hiệu Cảnh Thái thứ 8 thành Thiên Thuận nguyên niên. Năm đó ông 31 tuổi. Sự kiện này được gọi là “Đoạt môn chi biến” (Binh biến đoạt môn) hay “Nam Cung phục tịch”.

Cai trị lần hai[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh trừng phe cánh cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi trở lại ngôi vua, Minh Anh Tông phế truất Đại Tông đang bệnh nặng làm Thành vương như cũ, cho ra ở Tây cung. Chỉ mấy ngày sau Thành vương Chu Kỳ Ngọc qua đời. Có ý kiến cho rằng Thành vương bị Anh Tông sai người sát hại[29].

Sau đó ông hạ lệnh khôi phục chức tước, danh dự cho hoạn quan Vương Chấn, lập con là Chu Kiến Thâm trở lại ngôi thái tử. Những người có công làm binh biến được phong thưởng lớn có tới 3000 người. Nhiều người thăng tiến thời Cảnh Thái đều bị giáng chức hàng loạt[30].

Từ Hữu Trinh và Thạch Hanh trở thành công thần, muốn trừ bỏ Vu Khiêm và Vương Văn, bèn quy cho Vu Khiêm và Vương Văn tội muốn lập Tương vương Chu Chiêm Thiện (chú của Anh Tông và Đại Tông) làm vua. Kết quả hai người bị Minh Anh Tông kết án tử hình. Mọi người trong thiên hạ đều nói Vu Khiêm có công đánh lui quân Ngõa Thích bị chết oan. Việc sát hại Vu Khiêm của Minh Anh Tông bị đánh giá là sai lầm lớn nhất của ông trong lần làm vua thứ 2[31].

Từ khi Vu Khiêm bị sát hại, việc quân sự bị bỏ bễ, Anh Tông lo buồn và hối hận vì việc này[32]. Minh Anh Tông giao việc triều chính cho Từ Hữu Trinh. Những người tham gia binh biến sau khi được đắc sủng chỉ chú trọng làm việc riêng tư, cuối cùng nảy sinh những việc tranh chấp quyền lực giữa những người này.

Thanh trừng phe cánh mới[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Hữu Trinh muốn độc quyền nắm triều đình, nên mâu thuẫn với Tào Cát TườngThạch Hanh. Hai bên chia bè cánh tố cáo lẫn nhau, kết quả Hữu Trinh bị biếm đi làm quan ở Quảng Đông rồi Vân Nam. Quyền thế trong triều rơi vào tay hoạn quan Tào Cát Tường nắm quyền trong cung và tướng Thạch Hanh nắm quyền bên ngoài, cùng những người họ hàng, thân tín của họ.

Sự chuyên quyền của hai người khiến Anh Tông khó chịu. Thạch Hanh cho cháu là Thạch Bưu tuyển mộ huấn luyện binh mã ở Đại Đồng, bị Tổng binh Đại Đồng là Lý Văn (vốn có mâu thuẫn với Thạch Hanh) tố cáo với Anh Tông. Tháng 3 năm 1459, Anh Tông bèn triệu Thạch Bân về kinh, nhưng đến tháng 7 Thạch Bưu mới về, dắt theo 50 người do Dương Bân đứng đầu. Những người này làm theo lời Thạch Bưu, đồng loạt tiến cử Thạch Hanh đi trấn thủ Đại Đồng. Anh Tông thêm nghi ngờ việc kéo bè cánh của họ Thạch, bèn bắt giam Thạch Bưu thẩm vấn.

Các quan trong triều thấy Thạch Bưu bị bắt, biết Anh Tông có ý trừ họ Thạch, nên đồng loạt dâng sớ kể tội Thạch Hanh, trong đó có cả những người từng cùng phe với họ Thạch. Anh Tông bèn hạ lệnh bắt giam Thạch Hanh. Thạch Hanh bị giam đến ngày 16 tháng 2 thì chết trong ngục, mấy ngày sau thì Thạch Bưu cũng bị xử tử.

Họ Thạch bị diệt, chú cháu Tào Cát Tường và Tào Khâm cũng sợ hãi sẽ bị trừ bỏ. Tào Cát Tường quyết định dùng đảo chính quân sự, nên rất biệt đãi quân sĩ bộ hạ. Hai chú cháu dự định khởi sự rạng sáng ngày 2 tháng 7 năm 1461. Sau khi bàn bạc xong, một thủ hạ viên tướng Mã Lượng người Mông Cổ sợ thất bại bèn chạy tới hoàng cung trình báo. Hai tướng gác hoàng cung là Ngô Cẩn, Tôn Đường vội báo cho Anh Tông biết. Anh Tông ngay đêm đó triệu tập và bắt giữ Tào Cát Tường, rồi sai đóng chặt các cửa thành.

Tào Khâm thấy Mã Lượng bỏ trốn, vội vã khởi sự, ngay sáng hôm đó giết chết 2 tướng Lộc Cảo và Khấu Thâm. Tướng Tôn Đường cùng Thượng thư Bộ Công là Triệu Vinh tập hợp được hơn 2000 binh mã tới bảo vệ hoàng cung. Tào Khâm đánh không nổi phải bỏ chạy về nhà. Hai tướng phát binh đuổi theo. Tào Khâm đâm đầu xuống giếng tự vẫn.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Anh Tông dẹp xong lực lượng quyền thần họ Thạch và họ Tào, chính trường nhà Minh tương đối yên ổn.

Trung tuần tháng chạp năm Thiên Thuận thứ 7, tức là đầu năm 1464 dương lịch, Minh Anh Tông mắc bệnh nặng không thể ra coi triều được.

Sang đầu năm Thiên Thuận thứ 8 (1464), ông không còn tự mình xử lý công việc được nữa, nên lệnh cho thái tử Kiến Thâm lên điện Văn Hoa nhiếp chính.

Ngày 16 tháng chạp, bệnh quá nặng, Anh Tông tự liệu không thể qua khỏi, bèn triệu thái tử và văn võ bá quan đến bên giường dặn dò. Ông dặn thái tử mấy việc:

  • Tiền hoàng hậu chung hoạn nạn với ông nhưng không có con, thái tử phải tận hiếu để Tiền hậu không xung đột với mẹ thái tử là Chu quý phi
  • Bãi bỏ chế độ tuẫn táng phi tần (phi tần bị chôn sống) theo ông sau khi ông qua đời[33].

Sau đó Anh Tông mất vào ngày 17 tháng giêng năm 1464, đúng 7 năm sau ngày ông trở lại ngôi vua[34], thọ 38 tuổi. Thái tử Chu Kiến Thâm lên nối ngôi, tức là Minh Hiến Tông.

Tháng 2 năm đó, ông được tôn thụy hiệu là Pháp Thiên Lập Đạo Nhân Minh Thành Kính Chiên Văn Hiến Vũ Chí Đức Quang Hiếu Duệ hoàng đế, miếu hiệu là Anh Tông. Theo cách đặt tên thụy, “Duệ” là có thể làm thánh, “Anh” là nổi trội hơn người.

Tháng 5 năm đó, ông được chôn ở Dụ Lăng (裕陵) trong Minh thập tam lăng.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Song thân[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Cha: Minh Tuyên Tông
  2. Mẹ: Tôn quý phi

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hiếu Trang Duệ hoàng hậu (?-1468) họ Tiền, không con. Bà là con Đô chỉ huy thiên sự Tiền Quý. Trong thời gian Anh Tông bị cầm tù ở Mông Cổ, bà từng bán hết tài sản riêng, cầu Trời Phật phù hộ cho Anh Tông. Do khóc nhiều và đau khổ, bà bị bệnh, liệt một chân và bị mù[35]. Bà mất năm 1468 thời Minh Hiến Tông.
  2. Hiếu Túc Duệ hoàng hậu (?-1504) họ Chu, mẹ Hiến Tông. Bà là con gái Cẩm y vệ thiên hộ Chu Nang. Bà mất năm 1504 thời vua cháu Minh Hiếu Tông.
  3. Thần phi họ Vạn
  4. Huệ phi họ Vương
  5. Thục phi họ Cao
  6. Đức phi họ Vi
  7. An phi họ Dương
  8. Phi họ Lưu

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Chu Kiến Thâm, con trưởng, sau là Minh Hiến Tông, mẹ là Hiếu Túc Duệ Hoàng hậu
  2. Chu Kiến Thanh, Đức Trang vương, mẹ là Thần phi
  3. Chu Kiến Thực, chết sớm, mẹ là Thần phi
  4. Chu Kiến Thuần, Hứa Điệu vương, mẹ là Huệ phi
  5. Chu Kiến Chú, Tú Hoài vương, mẹ là Thục phi
  6. Chu Kiến Trạch, Sùng Giản vương, mẹ là Hiếu Túc Duệ hoàng hậu
  7. Chu Kiến Tuấn, Cát Giản vương, mẹ là Thần phi
  8. Chu Kiến Trị, Hãn Mục vương, mẹ là Thần phi
  9. Chu Kiến Phái, Huy Trang vương, mẹ là Đức phi

Gái[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Công chúa Trùng Khánh, mẹ là Hiếu Túc Duệ hoàng hậu. Sau lấy Chu Cảnh.
  2. Công chúa Gia Thiện, mẹ là Huệ phi. Năm Thành Hóa thứ 2 (1466) lấy Vương Tăng, Binh bộ thượng thư. Chết năm Hoằng Trị thứ 12 (1499).
  3. Công chúa Thuần An, lấy Thái Chấn
  4. Công chúa Sùng Đức, mẹ là An phi. Năm Thành Hóa thứ 2 lấy Dương Vĩ (cháu Dương Thiện). Chết năm Hoằng Trị thứ 2 (1489).
  5. Công chúa Quảng Đức, mẹ là Thần phi. Năm Thành Hóa thứ 8 (1472) lấy Phàn Khải. Chết tháng 8 năm Thành Hóa thứ 20 (1484).
  6. Công chúa Nghi Hưng, mẹ là Đức phi. Năm Thành Hóa thứ 9 (1473) lấy Mã Thành. Chết năm Chính Đức thứ 9 (1514).
  7. Công chúa Long Khánh, mẹ là Thục phi. Năm Thành Hóa thứ 9 (1473) lấy Du Thái. Chết năm Thành Hóa thứ 15 (1479).
  8. Công chúa Gia Tường, mẹ là phi họ Lưu. Năm Thành Hóa thứ 13 (1477) lấy Hoàng Dung. Chết năm 1485.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Anh Tông không được sử sách đánh giá cao. Thời đại ông sống là giai đoạn chuyển tiếp từ thịnh sang suy của nhà Minh, ông không có biện pháp hiệu quả nào để ngăn chặn tình hình xấu đi. Minh Anh Tông tin dùng gian thần khiến nền chính trị suy đồi.

Sang lần làm vua thứ 2, ông có được một vài thành tựu: ngăn chặn quyền thần, bãi bỏ chế độ tuẫn táng cung phi theo vua đã hình thành từ các triều đại trước[33][36]. Việc bãi bỏ chế độ tuẫn táng của ông được xem là đáng lưu lại thịnh đức cho đời sau[33].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • An Tác Chương (1996), Chuyện những kẻ bạo tàn trong lịch sử, NXB Văn hóa thông tin
  • Vương Thiên Hữu chủ biên (2004), Mười sáu hoàng đế triều Minh, NXB Văn hóa thông tin
  • Cát Kiếm Hùng chủ biên (2006), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 3, NXB Văn hóa thông tin
  • Hồ Hán Sinh (2002), Bí mật lăng tẩm triều Minh, NXB Văn hóa thông tin
  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
  • Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Quốc, NXB Giáo dục

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lưu ý: Ngày tháng ở đây được lấy theo lịch Julius.
  2. ^ Bị quân Mông Cổ bắt, được em trai là Cảnh Thái Đế phong làm Thái thượng hoàng, và giữ chức này cho tới năm 1457.
  3. ^ Leo K. Shin (2006). The Making of the Chinese State: Ethnicity and Expansion on the Ming Borderlands. Ấn bản Đại học Cambridge. ISBN 0-521-85354-0. 
  4. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 80
  5. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 308
  6. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 302
  7. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 310
  8. ^ Tư Nhiệm Phát thua chạy sang Miến Điện rồi bị giết, Tư Cơ Phát bị thua trận thì Tư Lộc lại được dựng lên, nhà Minh không thể tiêu diệt được
  9. ^ a ă Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 316
  10. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 89
  11. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 320
  12. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 321
  13. ^ a ă An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 90
  14. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 322
  15. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 323
  16. ^ a ă Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 324
  17. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 326
  18. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 93
  19. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 328
  20. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 329
  21. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 95
  22. ^ a ă Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 331
  23. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 129
  24. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 333
  25. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 334
  26. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 335
  27. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 338
  28. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 340
  29. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 438
  30. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 346
  31. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 344
  32. ^ .Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 344. Sau này con Anh Tông là Minh Hiến Tông lên ngôi đã minh oan cho Vu Khiêm
  33. ^ a ă â Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 359
  34. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 361
  35. ^ Hồ Hán Sinh, sách đã dẫn, tr 301
  36. ^ Hồ Hán Sinh, sách đã dẫn, tr 300