Minh Tuyên Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Tuyên Tông
明宣宗
Vua Trung Quốc (chi tiết...)
明宣宗画像.jpg
Tranh vẽ Minh Tuyên Tông
Vua nhà Minh
Trị vì 27 tháng 6, 142531 tháng 1, 1435
(&0000000000000009.0000009 năm, &0000000000000218.000000218 ngày)
Tiền nhiệm Minh Nhân Tông
Kế nhiệm Minh Anh Tông
Thông tin chung
Tên húy Chu Chiêm Cơ (朱瞻基)
Niên hiệu Tuyên Đức (宣德): 8 tháng 2, 142617 tháng 1, 1436
Thụy hiệu Ngắn: Chương hoàng đế (章皇帝)
Đầy đủ: Hiến thiên Sùng đạo Anh minh
Thần thánh Khâm văn Chiêu võ
Khoan nhân Thuần hiếu Chương Hoàng đế
憲天崇道英明神聖欽文昭武寬仁
純孝章皇帝
Miếu hiệu Tuyên Tông (宣宗)
Triều đại Nhà Minh
Thân phụ Minh Nhân Tông
Sinh 25 tháng 2, 1398[1]
Mất 31 tháng 1, 1435 (36 tuổi)
Trung Quốc
An táng Cảnh lăng

Minh Tuyên Tông (chữ Hán: 明宣宗, 25 tháng 2, 139831 tháng 1, 1435), tức Tuyên Đức hoàng đế (宣德皇帝), là vị hoàng đế thứ năm của triều đại nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc, trị vì từ năm 1425 đến 1435. Ông kế vị Hồng Hi Đế, và ở ngôi trong một thời kì thịnh trị của Đại Minh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thật của ông là Chu Chiêm Cơ (朱瞻基), con trai của Minh Nhân Tông. Bản thân Tuyên Tông rất say mê thơ phúvăn học. Ông đã quyết định chọn Bắc Kinh là kinh đô cho đất nước Trung Hoa. Tháng 8 âm lịch năm 1426, chú ông Hán Vương Chu Cao Hú (朱高煦), vốn là người con trai được Minh Thành Tổ Chu Lệ yêu quý do có công cứu giá; nhưng do bất chấp quân pháp nên năm 1417 đã bị đày tới một thái ấp nhỏ ở Lạc An (Quảng Nhiêu, Sơn Đông). Khi Chu Cao Hú làm loạn, Hoàng đế mới Minh Tuyên Tông đã đem 20.000 quân tấn công ông ta tại Lạc An. Chu Cao Hú bị phế làm thứ nhân (thường dân) và chết do bị tra tấn. Sáu trăm quan lại theo Hán Vương cũng bị tử hình và 2.200 người khác bị lưu đày.

Tuyên Tông cũng là người hay tham khảo ý kiến các đại thần như Dương Sĩ Kì, Dương Vinh. Ông cũng là người chủ trương rút quân khỏi Giao Chỉ, do khi đó họ đang bị sa lầy tại đây, với việc sửa đổi chính sách thảo phạt của thời kỳ Vĩnh Lạc (niên hiệu của Minh Thành Tổ) thành chính sách hưu binh dưỡng dân, nhưng một số các đại thần của ông không đồng ý. Sau khi binh lính nhà Minh chịu nhiều tổn thất và thương vong, Tuyên Tông đã cho Liễu Thăng đem quân sang cứu trợ; nhưng đội quân này cũng bị đánh bại, Liễu Thăng, Lương Minh và khoảng 70.000 quân bại vong vào năm 1427. Sau đó Quân đội nhà Minh phải rút lui khỏi quận Giao Chỉ và Tuyên Tông buộc phải công nhận quyền độc lập của người Việt. Tại phía bắc, Tuyên Tông đã đi tuần thú biên giới với 3.000 kị binh vào năm 1428 và đã trừng phạt những kẻ cướp bóc từ Bộ lạc Uriyangkhad Mông Cổ. Người Hán cho phép những người Mông Cổ miền đông theo Arughtai đánh nhau với các bộ lạc Oirat của Toghon ở phía tây. Bắc Kinh hàng năm nhận ngựa từ Arughtai; nhưng ông ta đã bị người Oirat đánh bại vào năm 1431 và bị giết năm 1434 khi Toghon chiếm được miền Đông Mông Cổ. Triều đình nhà Minh sau đó duy trì quan hệ hữu hảo với người Oirat. Quan hệ ngoại giao với Nhật Bản cũng được cải thiện vào năm 1432. Các quan hệ với Triều Tiên cũng tốt, ngoại trừ việc họ không đồng ý với việc phải gửi các thiếu nữ đồng trinh để sung vào hậu cung nhà Minh. Tuyên Tông cũng cho phép Trịnh Hòa thực hiện thêm một chuyến đi biển nữa; nhưng những chuyến viễn thám hàng hải đó đã kết thúc vào năm 1434.

Hội đồng cơ mật gồm các thái giám đã tăng cường củng cố quyền lực tập trung hóa bằng cách kiểm soát chính sách bí mật, và ảnh hưởng của họ còn tiếp tục gia tăng. Năm 1428, một viên ngự sử khét tiếng là Lưu Quan đã bị xử tội đày đi khổ sai và được thay thế bằng Cố Tá (chết 1446), một người liêm khiết đã bãi nhiệm 43 thành viên của các đô sát viện Bắc Kinh và Nam Kinh vì bất tài. Một số quan lại làm trong các đô sát viện bị hạ cấp, bỏ tù hay đi đày, nhưng không có ai bị xử tử. Những người thay thế phải trải qua thời gian thử thách do các đô sát viện thực hiện việc kiểm tra toàn bộ thể chế hành chính của nhà Minh, bao gồm cả trong quân đội. Cùng năm, Tuyên Tông đã cải cách các quy tắc quản lý chế độ cưỡng bách quân dịch, chế độ xử lý những kẻ đào tẩu. Quân đội mang tính cha truyền con nối vẫn tiếp tục tỏ ra là không hiệu quả với tinh thần bạc nhược. Các bất công lớn trong gánh nặng thuế má đã làm cho phần lớn nông dân phải bỏ trang trại ra đi trong vòng 40 năm trước đó. Năm 1430, Tuyên Tông ra sắc lệnh giảm thuế trên tất cả các loại ruộng đất và gửi các quan lại đi kinh lý để sắp xếp lại công việc hành chính tại các tỉnh, thực hiện chính sách kiểm soát dân sự đối với quân sự. Họ đã cố gắng để loại bỏ những điều trái với quy tắc và sự tham nhũng của những người thu thuế. Tuyên Tông cũng thường ra lệnh xử lại các vụ án để cho phép hàng ngàn người dân vô tội có thể được giải phóng.

Vua Tuyên Tông trị vì được 10 năm thì bệnh mất; thời gian trị vì tuy ngắn, nhưng thời kỳ đó được coi là thời kỳ vàng son của nhà Minh.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Cung Nhượng Chương hoàng hậu Hồ Thiện Tường (恭让章皇后 胡善祥, ? - 1443), bị phế truất, sau Minh Anh Tông truy phong thụy hiệu.
  2. Hiếu Cung Chương hoàng hậu Tôn thị (孝恭章皇后 孙氏, 1399 - 1462), người Sơn Đông, trước phong vị Quý phi (貴妃), sau khi Hồ hoàng hậu bị phế thì phong làm Hoàng hậu kế vị.
  3. Vinh Tư hiền phi Ngô thị (榮思賢妃吴氏, ? - 1462), người Đan Đồ, sau nhà Nam Minh tôn làm Hiếu Dực Ôn Huệ Thục Thận Từ Nhân Khuông Thiên Tích Thánh Chương Hoàng hậu (孝翼溫惠淑慎慈仁匡天錫聖章皇后).
  4. Tần phi, Quách Ái (郭爱), Hiền nhi hữu văn (賢而有文), vào cung không lâu thì bị tuẫn táng.
  5. Đoan Tĩnh quý phi Hà thị (端静贵妃何氏), tuẫn táng.
  6. Thuần Tĩnh hiền phi Triệu thị (纯静贤妃赵氏), tuẫn táng.
  7. Trinh Thuận huệ phi Ngô thị (贞顺惠妃吴氏), tuẫn táng.
  8. Trang Tĩnh thục phi Tiêu thị (莊静淑妃焦氏), tuẫn táng.
  9. Trang Thuận kính phi Tào thị (莊顺敬妃曹氏), tuẫn táng.
  10. Trinh Huệ thuận phi Từ thị (贞惠顺妃徐氏), tuẫn táng.
  11. Cung Định lệ phi Viên thị (恭定丽妃袁氏), tuẫn táng.
  12. Trinh Tĩnh thục phi Chư thị (贞静恭妃诸氏), tuẫn táng.
  13. Cung Thuận sung phi Lý thị (恭顺充妃李氏), tuẫn táng.
  14. Túc Hi thành phi Hà thị (肃僖成妃何氏), tuẫn táng.
  • Con trai:
  1. Chu Kì Trấn [朱祁镇], con trưởng, sau này là Minh Anh Tông, mẹ là Hiếu Cung Chương hoàng hậu Tôn thị [2].
  2. Chu Kì Ngọc [朱祁鈺], con thứ, sau này là Minh Đại Tông, mẹ là Hiền phi Ngô thị.
  • Con gái:
  1. Thuận Đức công chúa (順德公主, 1420 - 1433), năm Chính Thống thứ 2 (1437) lấy Thạch Cảnh (石璟). Mẹ là Cung Nhượng Chương hoàng hậu.
  2. Thường Đức công chúa (常德公主, 1424 - 1470), mẹ là Cung Nhượng Chương hoàng hậu. Năm Chính Thống thứ 5 (1440) lấy Tiết Hoàn (薛桓).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ngày tháng lấy theo lịch Julius.
  2. ^ (ghi chú: Minh sử cho rằng mẹ đẻ của ông này là một cung nhân)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • The Cambridge History of China, Quyển 7, trang 285 tới 304.