Minh Thái Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Thái Tổ
明太祖
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
明太祖.jpg
Tranh vẽ Đại Minh Thái Tổ Cao Hoàng đế.
Hoàng đế nhà Minh
Trị vì 23 tháng 1, 136824 tháng 6, 1398
(&0000000000000030.00000030 năm, &0000000000000163.000000163 ngày)
Tiền nhiệm Sáng lập triều đại
Kế nhiệm Minh Huệ Đế
Thông tin chung
Tên thật Tiểu danh: Chu Trùng Bát (朱 重八)
Đại danh: Hưng Tông (興宗) rồi thành Nguyên Chương (元璋)
Niên hiệu Hồng Vũ (洪武): 2 tháng 3, 1368 - 5 tháng 2, 1399
(&0000000000000030.00000030 năm, &0000000000000340.000000340 ngày)
Thụy hiệu Ngắn gọn: Cao hoàng đế
Đầy đủ: Khai thiên Hành đạo Triệu kỉ Lập cực Đại thánh Chí thần Nhân văn Nghĩa vũ Tuấn đức Thành công Cao hoàng đế
開天行道肇紀立極大聖至神仁文義武俊德成功高皇帝
Miếu hiệu Thái Tổ (太祖)
Triều đại Nhà Minh (明)
Sinh 21 tháng 10, 1328(1328-10-21)
Mất 24 tháng 6, 1398 (69 tuổi)
An táng Hiếu lăng (孝陵)

Minh Thái Tổ (chữ Hán: 明太祖, 21 tháng 10, 132824 tháng 6, 1398), tên thật là Chu Nguyên Chương (朱元璋), còn gọi là Hồng Vũ Đế (洪武帝), Hồng Vũ Quân (洪武君), hay Chu Hồng Vũ (朱洪武), thuở nhỏ tên là Trùng Bát (重八), về sau đổi tên thành Hưng Tông (興宗), tên chữ là Quốc Thụy (國瑞). Ông là vị hoàng đế khai quốc của vương triều nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc, cai trị từ năm 1368 đến 1398. Các sử gia gọi thời kỳ cai trị của ông là "Hồng Vũ chi trị" (洪武之治). Ông được xem như là một trong các hoàng đế vĩ đại nhất của Trung Quốc nhờ các công trạng của mình với đất nước.

Vào giữa thế kỷ 14, cùng với nạn đói, bệnh dịch và các cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra khắp nơi, Chu Nguyên Chương trở thành nhà lãnh đạo của một lực lượng đã chinh phục Trung Hoa và chấm dứt nhà Nguyên, buộc người Mông Cổ phải rút vào thảo nguyên Trung Á. Với việc chiếm được Đại Đô của nhà Nguyên, ông tuyên bố thiên mệnh thuộc về mình và lập ra nhà Minh vào năm 1368. Chỉ tin vào gia đình, ông phân phong đất đai cho các con trai thành các phiên quốc trấn thủ các vùng đầm lầy phía bắc và thung lũng sông Dương Tử. Người con cả của ông, thái tử Chu Tiêu chết sớm, việc này đã khiến ông chọn người cháu nội là Chu Doãn Văn làm người kế vị cùng với việc ban bố Hoàng Minh Tổ Huấn. Nhưng những việc này đều thất bại, khi Chu Doãn Văn quyết định ra tay với các ông chú đã dẫn đến cuộc nổi loạn thành công của Yên Vương Chu Đệ.

Chu Nguyên Chương đặt niên hiệu là Hồng Vũ (洪武). Khi qua đời, ông được truy tôn miếu hiệuThái Tổ (太祖) và thụy hiệuCao Hoàng đế (高皇帝). Tiểu sử của ông được ghi tại Minh sử, quyển 1-3, Thái Tổ bản kỷ. Ông được táng ở Hiếu lăng, Nam Kinh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên quán của Chu Nguyên Chương vốn thuộc huyện Bái, Từ Châu tỉnh Giang Tô, về sau dời về Tứ Châu, rồi lại dời về huyện Chung Ly, Hào Châu tức Phụng Dương. Cả gia đình ông trôi nổi nhiều nơi do sinh kế thúc bách. Cha mẹ ông có 8 người con, nhưng hai người đã chết yểu, còn lại sáu người, bốn trai hai gái. Chu Nguyên Chương là con út, thuở nhỏ gọi là Trùng Bát, ngay cả tên họ chính thức cũng không có, mãi đến sau khi gia nhập nghĩa quân Quách Tử Hưng, mới lấy tên là Chu Nguyên Chương, tên chữ là Quốc Thụy.

Ông xuất thân từ tầng lớp tá điền nghèo khổ, từng giữ dê chăn bò cho địa chủ[1]. Đời Nguyên năm Chí Chính thứ 4 (1344), vùng đất Hoài Bắc phát sinh hạn hánchâu chấu tàn hại cùng với dịch bệnh nên cha mẹ, các anh đều nối tiếp nhau chết cả. Chu Nguyên Chương không biết lấy gì để sống, tới chùa Hoàng Giác làm thầy tu, từng khất thực ba năm tới phía tây của tỉnh An Huy, phía đông tỉnh Hà Nam, trải qua gian khổ tôi luyện[2].

Chu Nguyên Chương là người có tính quật cường, từ nhỏ chí khí đã chẳng tầm thường. Do sức ép của cuộc sống nên ông phải xuất gia đi tu, nhưng không muốn làm nhà sư nhỏ bé, vào chùa mới được 15 ngày thì đã làm nhà sư chu du khắp chốn. Trong lúc bôn ba bốn phương, ông đã bí mật tiếp xúc với Bạch Liên giáo đương thời[3], hiểu được tình thế trong thiên hạ, lòng người muốn đổi thay, khí vận triều Nguyên sắp hết. Năm Chí Chính thứ 12 (1352), Chu Nguyên Chương tham gia Hồng Cân quân (quân khăn đỏ) của Quách Tử Hưng, được Tử Hưng tin cậy, nhậm chức Tả phó Nguyên soái nghĩa quân. Năm Chí Chính thứ 16 (1356), Chu Nguyên Chương đánh chiếm Tập Khánh (Nam Kinh ngày nay), được Tiểu Minh vương Hàn Lâm Nhi tiến phong làm Ngô Quốc công. Ông lấy Ứng Thiên (Nam Kinh) làm trung tâm, phát triển rất nhanh. Từ năm 1363 đến 1367, lần lượt tiêu diệt tập đoàn Trần Hữu Lượng ở trung lưu Trường GiangTrương Sĩ Thành ở hạ lưu Trường Giang, bao gồm cả hai bờ nam bắc.

Cuối 1367, ông xuất quân Bắc phạt. Chu Nguyên Chương phong Từ Đạt làm đại tướng quân, Thường Ngộ Xuân làm phó tướng dẫn 25 vạn đại quân bắc phạt, đã nhanh chóng chiếm được Sơn Đông. Tháng giêng năm 1368, Chu Nguyên Chương xưng đế, đặt quốc hiệu là Minh, trở thành vua Minh Thái Tổ. Cùng năm đó, công phá Đại đô (Bắc Kinh), lật đổ ách thống trị của nhà Nguyên, từng bước thực hiện thống nhất đất nước. Năm Hồng Vũ thứ 31 (1398), Minh Thái Tổ bệnh mất, hưởng thọ 70 tuổi, ở ngôi 31 năm, chôn tại Hiếu lăng ở phía nam chân núi Chung Sơn thành phố Nam Kinh.

Thống nhất Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Gia nhập nghĩa quân[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Hoằng Giác nơi Chu Nguyên Chương trú thân chẳng mấy chốc bị phá hủy bởi chiến tranh. Năm 1352, ông tham gia một lực lượng nổi dậy ở địa phương chống lại triều đại Mông-Nguyên. Qua các chiến công trên chiến trường, ông rất nhanh trở thành một vị tướng với lực lượng riêng của mình. Lực lượng của ông gia nhập với quân Hồng Cân, một lực lượng bắt nguồn từ Bạch Liên Giáo, những người thờ Phậtthần Lửa. Cả lực lượng Bạch Liên Giáo và Chu Nguyên Chương đều cố gắng đánh đuổi người Mông Cổ để khôi phục lại Trung Hoa của người Hán.

Đánh bại các đối thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1356, Chu Nguyên Chương đánh hạ được Kim Lăng (Nam Kinh), nơi đây trở thành căn cứ địa của ông và là kinh đô nhà Minh trong suốt thời gian ông trị vì. Chính quyền của ông bắt đầu nổi tiếng và nạn dân khắp nơi bắt đầu đổ về đây, trong 10 năm tiếp theo dân số Nam Kinh tăng gấp 10 lần. Trong khoảng thời gian này, quân Hồng Cân bị chia năm xẻ bảy, Chu Nguyên Chương đứng đầu một nhánh nhỏ (gọi là Minh), còn Trần Hữu Lượng đứng đầu nhánh lớn, kiểm soát vùng trung tâm thũng lũng sông Dương Tử.

Năm 1360, Chu Nguyên Chương và Trần Hữu Lượng cùng đối đầu quyết chiến để giành được quyền kiểm soát toàn bộ lãnh thổ của quân Hồng Cân cũ. Thời khắc quan trọng nhất của cuộc chiến là trận hồ Bà Dương năm 1363. Trận đánh kéo dài 3 ngày, kết thúc với việc hạm đội hơn trăm chiến thuyền của Trần Hữu Lượng bị đốt sạch, lực lượng 60 vạn quân của Trần Hữu Lượng bị đánh tan tác buộc ông phải rút lui và chết trận một tháng sau đó. Trận đánh được xem như một trong hai trận thủy chiến lớn nhất lịch sử Trung Quốc, trận đánh còn lại là trận Xích Bích, cả hai trận đánh đều có điểm tương đồng là lực lượng phía nam yếu thế hơn đã thắng lực lượng phía bắc mạnh hơn và cả hai trận đánh đều có tính chất quyết định lịch sử Trung Quốc lúc đó. Chu Nguyên Chương khải hoàn về Nam Kinh, từ đó không trực tiếp thân chinh nữa mà chỉ đạo các tướng lĩnh từ kinh đô.

Năm 1367, Chu Nguyên Chương đánh bại Trương Sĩ Thành, kẻ vốn chiếm giữ kinh đô nhà TốngHàng Châu. Chiến thắng này giúp chính quyền Chu MInh giành quyền kiểm soát toàn bộ các vùng đất bắc và nam sông Dương Tử. Việc này khiến các thủ lĩnh nghĩa quân nhỏ nhanh chóng đầu hàng. Tháng 1 năm 1368, Chu Nguyên Chương xưng đế, lập ra nhà Minh, lấy niên hiệu là Hồng Vũ, định đô ở Nam Kinh.

Năm 1368, Chu Nguyên Chương hạ lệnh cho Từ Đạt xuất quân bắc phạt đánh đuổi người Mông Cổ. Người Mông Cổ nhanh chóng bị đánh bại và buộc phải bỏ Đại Đô cùng toàn bộ phía bắc Trung Hoa và rút lui vào thảo nguyên vào tháng 9. Năm 1381, quân Minh dưới sự chỉ huy của Mộc Anh đánh chiếm vùng đất cuối cùng của nhà Nguyên là Vân Nam và Trung Hoa hoàn toàn được thống nhất dưới triều đại nhà Minh.

Kế sách[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với chính thể chuyên chế của phong kiến Trung Hoa, quân đội là trụ cột của triều đình. Cho nên hầu hết các vua khai quốc đều lập được nhiều chiến công hiển hách. Cũng có thể nói, chiến tranh đã tôi luyện nên trí dũng và tầm nhận thức của một vĩ nhân. Chu Nguyên Chương vạch ra chiến lược Bắc phạt, đã nói rõ ông là người thông minh tài trí hơn người. Đại tướng quân Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân kiến nghị dùng đại quân đánh thẳng vào kinh đô triều Nguyên ngay từ đầu, Chu Nguyên Chương đã nhận thấy không thích hợp. Ông đã chỉ ra:

Quân Nguyên vốn còn hơn mấy chục vạn, không thể khinh địch. Huống hồ thành trì kinh đô của nhà Nguyên kiên cố, nếu như chỉ có quân tác chiến đi sâu vào, sẽ kẹt lại dưới chân thành, lúc ấy quân Bắc phạt sẽ lọt vào vòng vây, quân Nguyên từ bốn hướng tới cứu viện, há không phải là thất bại cả sao?

Đạo quân đơn độc đánh sâu vào lòng địch thực tế là một điều cấm kỵ của nhà quân sự. Xem xét kỹ tình thế, ông đã vạch ra chiến lược cẩn thận mà tất thắng:

Đầu tiên chiếm Sơn Đông, triệt chỗ phên rậu che chắn; xoay qua chiếm Hà Nam, chặt đứt vây cánh; lấy huyện Đồng Quan để phòng thủ, chặn trước ngạch cửa, hình thế thiên hạ đã lọt vào tay ta. Sau đó xuất quân đánh Kinh đô triều Nguyên lúc ấy lẻ loi không ai cứu viện, không cần đánh ắt cũng chiếm được; giục trống tiến về phía Tây, Vân Trung, Cửu Nguyên cùng với Quan Lũng sẽ bị hạ gọn như cuốn chiếu.

Việc phân tích và bố trí chiến lược kiệt xuất này, hoàn toàn căn cứ theo dự liệu mà phát triển, việc Bắc phạt vì vậy đã thành công.

Nguyên nhân thắng lợi[sửa | sửa mã nguồn]

Bất cứ sự thành công nào của một vĩ nhân, không phải chỉ ngồi đợi ơn ban, mà là nắm lấy vận mệnh của mình. Chu Nguyên Chương đã không có quyền thế, lại không có trình độ văn hóa, ông ta mượn quân đội của Quách Tử Hưng để thâu tóm thiên hạ, sự thành công của ông khái quát lên trong ba điểm chủ yếu:

Hoãn xưng vương[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa quân các lộ phá thành chiếm đất, chưa lập được căn cứ ổn định đã vội xưng vương. Chu Nguyên Chương đã sử dụng lời khuyên của nho sĩ Chu Thăng:

Xây tường cao, trữ lương nhiều, hoãn xưng vương.

Năm 1359, ông đã sớm trở thành một trang hào kiệt ngất ngưởng binh hùng tướng mạnh, nhưng ông vẫn không xưng vương mà nhận sự thụ phong của Tiểu Minh vương Hàn Lâm Nhi chính quyền nhà Tống, làm Tả thừa tướng hành tỉnh Giang Tây, năm 1361 được tấn phong tước Ngô Quốc công. Năm 1363, ông rước Tiểu Minh vương về an trí ở Trừ Châu, mượn tay thiên tử ban lệnh cho chư hầu, nhưng vẫn không xưng vương. Năm 1364, Chu Nguyên Chương tiêu diệt tập đoàn quân sự lớn nhất ở lưu vực Trường Giang của Trần Hữu Lượng, lúc này mới xưng là Anh vương, nhưng vẫn tôn trọng Tiểu Minh vương nhà Tống.

Đợi thời cơ tránh mũi nhọn quân Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Trước kia, khi thực lực của Chu Nguyên Chương chưa lớn mạnh, ông luôn tránh chạm trán với quân chủ lực nhà Nguyên. Ông đã từng đánh bại quân Nguyên ở huyện Lục Hợp (tỉnh An Huy), nhưng đương thời lực lượng của ông rất yếu, không thể đánh nhau với quân chủ lực nhà Nguyên, thế là nộp lại chiến lợi phẩm thu được, hướng dẫn quân Nguyên đi tấn công quân Trương Sĩ Thành, ông luôn giữ mối giao hảo với nhà Nguyên, uyển chuyển tránh né các cánh quân hùng mạnh, sách lược này được vận dụng rất thành công.

Nắm chắc thời cơ để thôn tính dần Giang Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Nguyên Chương lợi dụng các cánh quân lớn phản Nguyên ở các lộ làm yểm trợ, không để mất thời cơ phát triển ở vùng trung lưu Trường Giang. Ông mượn vây cánh của Đại Tống, cam chịu phận dưới của Tiểu Minh vương, không xuất đầu lộ diện, mà âm thầm tích lũy phát triển lương thực, mở rộng địa bàn. Ông chọn Tập Khánh làm trung tâm, phía Bắc có Lưu Phúc Thông chống trả quân Nguyên, phía Đông lại có Từ Thọ Huy che chắn. Chu Nguyên Chương lợi dụng thời cơ này để phát triển vùng Giang Nam trước, đánh chiếm những vùng bỏ trống. Trong lúc quân Nguyên đang bận truy quét quân Lưu Phúc ThôngTừ Thọ Huy thì Chu Nguyên Chương cũng đã thống nhất được Giang Nam.

Thiết lập sự cường thịnh của triều Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Khi nhà Minh mới thành lập, do hậu quả của chính sách cai trị của triều Nguyên và gần 20 năm chiến tranh, nền kinh tế Trung Quốc bị phá hoại nghiêm trọng, đời sống nhân dân rất khốn khổ.

Trước tình hình ấy, mặc dầu từ lâu không còn là đại biểu của giai cấp nông dân nữa, nhưng Thái Tổ vẫn thông cảm được các nổi khổ của nhân dân đồng thời cũng hiểu rõ sức mạnh của quần chúng. Vì vậy ông nói:

Thiên hạ mới định, tài lực trăm họ còn khó khăn, giống như con chim mới tập bay, không thể nhổ lông nó, như cây mới trồng không thể lay gốc nó mà phải nâng niu nuôi dưỡng.

Quán triệt tư tưởng đó, Thái Tổ đã thi hành những chính sách sau đây[4]:

  • Trả tự do cho những người bị biến thành nô tì trong thời gian loạn lạc, đồng thời cấm cưỡng bức hoặc mua bán dân tự do làm nô tì.
  • Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp như kêu gọi nhân dân khai khẩn đất hoang, cho họ có quyền sở hữu vĩnh viễn và không đánh thuế; kêu gọi dân lưu tán trở về quê quán, cấp cho họ ruộng hoang đồng thời cấp bò cày, nông cụ, thóc giống, lương thực để gíup họ vượt qua những khó khăn ban đầu. Triều đình còn chú ý đến vấn đề thủy lợi, giảm nhẹ thuế khóa, cứu tế cho dân những nơi bị mất mùa.
  • Bỏ những hình phạt tàn khốc thời Nguyên như thích chữ vào mặt, cắt mũi, chặt chân, thiến v.v... đồng thời dùng nguyên tắc khoan hồng trong xét xử.
  • Nghiêm trị những quan lại tham nhũng bằng các cực hình như chém bêu đầu, tùng xẻo, giết cả họ v.v... Nhờ những chính sách nói trên, trong vòng 30 năm đầu đời Minh, kinh tế được khôi phục nhanh chóng và bước đầu phát triển, tình hình chính trị được ổn định, đời sống nhân dân bước đầu được cải thiện.

Tập trung quyền lực[sửa | sửa mã nguồn]

Quan chế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quan chế nhà Minh

Để cho vương triều Minh của họ Chu kế tục lâu dài, Hồng Vũ Đế trước mắt tăng cường chế độ trung ương tập quyền. Năm Hồng Vũ thứ 9 (1376) bãi bỏ Hành trung thư tỉnh, thiết lập Bố chính sứ ty, Đề hình Án át sứ ty, Đô chỉ huy sứ ty phân ra để quản lý hành chính tư pháp, quân sự. Năm Hồng Vũ thứ 13 (1380) hủy bỏ chức Trung thư tỉnh ở trung ương, bãi bỏ chế độ Tể tướng, phân quyền cho sáu bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công. Thiết lập Đô sát viện giám sát trăm quan, lập Cẩm y vệ là những cơ cấu đặc vụ có nhiệm vụ khống chế thần dân. nhưng sau tể tướng Hồ Duy Dung làm phản, ông ban lệnh hành quyết, đồng thời bãi bỏ chức Tể ướng Trung Quốc, ông cho rằng tể tướng có quyền lực gần bằng hoàng đế, nên có thể tạo phản bất cứ lúc nào.

Sát hại công thần[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như Lưu Bang nhà Hán, Hồng Vũ Đế đã gây ra nhiều vụ án văn chương và gây ra nhiều án liên lụy đến nhiều người nhằm diệt trừ hậu họa cho con cháu.[5] Thái Tổ nhận thấy Thái tử nhu nhược, khó mà điều khiển nổi những công thần bướng bỉnh không thuần, trước khi ông qua đời còn giúp cho con cháu diệt trừ tận gốc. Tống Liêm là thầy của Thái tử, từ những năm đầu đã theo làm tham mưu cho Thái Tổ vào sinh ra tử chốn quân trường, lập được nhiều công to, làm quan đến chức Học sĩ Thừa chỉ tri chế cáo. Thái Tổ cũng viện cớ để giết ông ta, Thái tử thấy thầy bị kết án chém, rơi lệ cầu xin cho thầy. Để dạy bảo Thái tử, ông cho mang một cây roi lớn có đầy gai nhọn quẳng xuống đất, bảo Thái tử nhặt lên. Thái tử có vẻ lúng túng, nhà vua liền dạy rằng:

Cây roi có gai ngươi không nhặt, vậy để ta róc hết cái gai nhọn thay ngươi nhé?

Thái tử thông minh hiểu được ý của cha, nhưng cũng không cho là đúng, liền khuyên giải vua cha một cách khéo léo rằng:

Trên mà có vua Nghiêu Thuấn, thì dưới sẽ có dân Nghiêu Thuấn.

Ngụ ý là làm vua không được tàn bạo. Thái Tổ rất giận dữ, liền tóm lấy ghế quẳng về hướng thái tử.

Việc này cho thấy Hồng Vũ Đế sau khi đã ngồi trên ngai rồng đã xem công thần là những gai nhọn cần phải loại bỏ. Thống nhất thiên hạ rồi, không thể dùng võ tướng nữa, ông đã tính kỹ cho con cháu. Dùng quan văn để trị thiên hạ, Thái Tổ vẫn không an tâm, cho nên quyền lực từ trung ương đến địa phương hầu hết đều tập trung trong tay Hoàng đế, phát triển chế độ Trung ương tập quyền đến đỉnh cao, trở thành một trong những vị vua có quyền lực nhất trong lịch sử Trung Quốc[6].

Hồng Vũ Đế tạo nên những vụ án lớn, văn thần võ tướng, tất cả đều bị càn quét triệt để. Năm Hồng Vũ thứ 13 (1380), Thừa tướng Hồ Duy Dung bị kết tội mưu phản, làm liên lụy đến hơn 3 vạn người vô tội. Năm Hồng Vũ thứ 26 (1393), Lam Ngọc cũng chịu chung số phận như vậy cùng với 2 vạn người. Minh Thái Tổ đã cuốn một loạt "gai góc" đến hơn 6, 7 vạn người. Ông còn để cho cơ quan đặc vụ Cẩm y vệ hoạt động công khai, từ sau bức rèm the lại nhảy lên tiền đài.[7]

Những năm cuối đời, Hồng Vũ Đế còn ban bố điều lệ Hoàng Minh tổ huấn, yêu cầu con cháu cùng các công thần phải tuân thủ "phép tắc của tổ tông", quy định đời sau kẻ nào sửa đổi điều tổ tông đặt ra thì giết không tha. Ông đã giữ chính sách bế quan tỏa cảng, trở thành "tổ huấn", dĩ nhiên là "tổ huấn" đó đã được giữ khư khư một cách tiêu cực, làm cho nền chính trị của vương triều Minh bị ảnh hưởng một cách lâu dài.

Hậu thế[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi qua đời, Minh Thái Tổ được chôn cất ở Minh Hiếu lăng.

Minh Thái Tổ đã vì giang sơn muôn đời của Đại Minh mà khổ tâm sắp đặt, trừ hậu họa cho con cháu, ban bố tổ huấn, nhưng sự việc cuối cùng lại không theo như ý muốn. Sau khi ông qua đời, mộ phần chưa ráo, thì chú cháu tranh đoạt quyền lực lẫn nhau, "tổ huấn" của ông đã bị người con thứ tư của ông là Chu Đệ phá hoại, chính là Thành Tổ sau này. Thành Tổ chiếm ngôi hoàng đế, dời đô từ Nam Kinh về Yên Kinh, dù trước đó Thái Tổ từng dặn dò con cháu phải đề phòng các rợ tộc phương Bắc xâm chiếm, không được đóng đô ở gần phương Bắc mà phải ở phương Nam.

Minh Thái Tổ giết hại công thần, không còn ai để giao việc, tự mình chọn trưởng tôn Chu Doãn Văn làm người kế vị nhưng đã bị chết trong binh lửa. Ông còn dựng bảng sắt cấm chỉ hoạn quan can dự chính sự, mà đến đời Thành Tổ có đến 24 nha môn lọt vào tay hoạn quan, hoạn quan đã nắm giữ cơ quan đặc vụ, triều Minh đã trở thành triều đại mà hoạn quan gây họa kịch liệt nhất.

Minh Thái Tổ đặt cánh quân hùng mạnh trấn giữ Liêu Đông, dặn dò con cháu trấn thủ biên cương phía bắc, nhưng sau này triều Minh lại bị một dân tộc thiểu số ngoài quan ải tiến vào lật đổ là người Nữ Chân.

Vai trò lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Thái Tổ tay không dựng nghiệp lớn, đánh đuổi được người Mông Cổ, giành lại quyền tự chủ của người Hán. Bản thân không có một tấc đất nương thân, nhưng qua tự lực phấn đấu mà khai sáng được giang sơn Đại Minh gần 300 năm, vì vậy trong dân gian lưu truyền nhiều giai thoại lạ lùng về ông, chính là thuật lại một cách tôn kính về sự nghiệp và mức độ thông minh tài trí của ông. Ông lập nghiệp ở phía nam sông Trường Giang mà xuất quân bắc phạt đánh đuổi người Mông Cổ, lấy được thiên hạ là lần duy nhất mà một lực lượng phía nam có thể thống nhất được toàn bộ quốc gia. Các triều đại trước ông như Tần, Hán, Tấn, Tùy, Đường, Tống, Nguyên và sau ông như người con Chu Đệ từ Bắc Kinh đánh xuống phía nam và nhà Thanh đều xuất thân từ phía bắc. Trước và sau ông không ai có thể làm được như thế.

Trong chùa Long Hưng huyện Phụng Dương tỉnh An Huy có một cặp đối khái quát khá thần tình cả cuộc đời mà Thái Tổ nếm trải [cần dẫn nguồn]:

Sinh trên đất Bái, học hành đất Tứ, lớn lên châu Hào, khí Thiên tử một đúc từ quận Phượng;

Lúc đầu làm sư, tiếp theo làm vương, cuối cùng xưng đế, dáng thánh nhân chiêm ngưỡng tại chùa Long.

Tuy vậy, sự lạc hậu của Trung Quốc so với phương Tây bắt đầu từ đời Minh.[5] Sự lạc hậu này thì có nhiều nguyên nhân, trong đó có biện pháp thống trị chuyên chế bảo thủ của Thái Tổ, đặc biệt là thể chế chính trị tập quyền cao độ, quyền lực về kinh tế nằm dưới cực quyền chính trị, mà các chế độ về cửa ải bến sông, chế độ cấm buôn bán trên biển, chế độ hộ làm nghề thủ công, chế độ lưu thông hàng hóa... là nguyên nhân chủ yếu kìm hãm sự phát triển của kinh tế. Ngoài ra, cách chọn nhân tài bằng lối văn bát cổ (một thể văn dùng trong các kỳ thi thời phong kiến, chỉ chuộng phô trương hình thức, ít chuộng giá trị đích thực của nội dung) và chủ trương văn hóa chuyên chế của triều Minh cũng là nguyên nhân chủ yếu để tạo nên sự đình trệ của xã hội Trung Quốc[8]. Công và tội của Thái Tổ đối với lịch sử đều đáng được suy ngẫm.

Miếu và thuỵ hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hồng Vũ thứ 31, tháng 6, năm Giáp Thìn: Khâm minh Khải vận Tuấn đức Thành công Thống thiên Đại hiếu Cao hoàng đế, miếu hiệu Thái Tổ (欽明啟運俊德成功統天大孝高皇帝) [9]
  • Vĩnh Lạc nguyên niên, ngày 11 tháng 6, năm Đinh Tị: Thánh thần Văn vũ Khâm minh Khải vận Tuấn đức Thành công Thống thiên Đại hiếu Cao hoàng đế (聖神文武欽明啟運俊德成功統天大孝高皇帝) [10]
  • Gia Tĩnh thứ 17, tháng 11: Khai thiên Hành đạo Triệu kỉ Lập cực Đại thánh Chí thần Nhân văn Nghĩa vũ Tuấn đức Thành công Cao hoàng đế (開天行道肇紀立極大聖至神仁文義武俊德成功高皇帝) [10]

Các tể tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Các danh tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Nhân Tổ Thuần hoàng đế Chu Thế Trân (仁祖淳皇帝朱世珍, 1281 - 1344).
  • Thân mẫu: Thuần hoàng hậu Trần thị (淳皇后陳氏, 1286 - 1344).
  • Anh chị em:
  1. Nam Xương Vương Chu Hưng Long [朱興隆]. Con trai là Chu Văn Chính.
  2. Hu Di Vương Chu Hưng Thịnh [朱興盛].
  3. Lâm Hoài Vương Chu Hưng Tổ [朱興祖].
  4. Tào Quốc công chúa (曹国公主), tên Chu Phật Nữ, lấy Lý Trinh, mẹ của Lý Văn Trung).
  5. Thái Nguyên công chúa (太原公主), lấy Vương Thất Nhất).
  • Hậu phi:
  1. Hiếu Từ Cao hoàng hậu Mã thị[11] (孝慈高皇后马氏, 1332 - 1382).
  2. Thành Mục quý phi Tôn thị (成穆貴妃孫氏, 1343-1374). Sách phong Quý phi năm Hồng Vũ thứ 1.
  3. Thục phi Lý thị (淑妃李氏), sách phong Quý phi năm Hồng Vũ thứ 17 (1384).
  4. Ninh phi Quách thị (寧妃郭氏). Cai quản 6 cung sau khi Lý thục phi mất.
  5. Quách Huệ phi (郭惠妃).
  6. Trang Tĩnh An Vinh huệ phi Thôi thị (莊靖安荣惠妃 崔氏).
  7. Giang quý phi (江贵妃).
  8. Triệu quý phi (赵贵妃).
  9. Chiêu Kính Sung phi Hồ thị (昭敬充妃 胡氏).
  10. Trịnh an phi (郑安妃).
  11. Đạt định phi (达定妃).
  12. Hồ thuận phi (胡顺妃).
  13. Nhậm thuận phi (任顺妃).
  14. Lý hiền phi (李贤妃).
  15. Lưu huệ phi (刘惠妃).
  16. Cát lệ phi (葛丽妃).
  17. Hoà Quý Phi (碽妃).[12]
  18. Hàn phi (韩妃).
  19. Dư phi (余妃).
  20. Dương phi (杨妃).
  21. Chu phi (周妃).
  22. Trương mĩ nhân (张美人).
  23. Cáo thị (郜氏).

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự Họ tên Tước Sinh mất Mẹ đẻ Ghi chú
1 Chu Tiêu Ý Văn thái tử 10/10/1355-17/5/1392 Hiếu Từ Cao hoàng hậu Lấy con gái của Thường Ngộ Xuân làm thái tử phi; sau lại lấy con gái của Lã Bản làm thái tử phi. Lã phi sinh ra con trai là Chu Doãn Văn, được lập làm hoàng thái tôn, sau này lên làm vua, tức Minh Huệ Tông.
2 Chu Sảng Tần Mẫn vương 3/12/1356-9/4/1395 Hiếu Từ Cao hoàng hậu, có thuyết cho là con của Thục phi
3 Chu Yên Tấn Cung vương 18/12/1358-22/4/1398 Hiếu Từ Cao hoàng hậu, có thuyết cho là con của Lý thục phi Là con trai trưởng của hoàng đế Chu Nguyên Chương với Lý thục phi nương nương.
4 Chu Đệ Yên vương 2/5/1360-12/8/1424 Hiếu Từ Cao hoàng hậu, có thuyết là con của Hoà Quý Phi Sau Tĩnh Nan chi dịch lên làm vua, tức Minh Thành Tổ.
5 Chu Túc Chu Định vương, ban đầu phong là Ngô vương 8/10/1361-2/9/1425 Hiếu Từ Cao hoàng hậu, có thuyết cho là con của Hoà Quý Phi
6 Chu Trinh Sở Chiêu vương 5/4/1364-22/3/1424 Hồ Sung phi
7 Chu Phù Tề vương 1364-1428 Đạt Định phi bị chết oan
8 Chu Tử Đàm vương  ?-1390 Đạt Định phi Tự sát trong niên hiệu Hồng Vũ. Lấy con gái của Vu Hiển.
9 Chu Kỷ Triệu vương 10/1369-16/1/1371  ? Chết non
10 Chu Đàn Lỗ Hoang vương 15/3/1370-1389 Quách Ninh phi Lấy con gái của Thang Hòa.
11 Chu Xuân Thục Hiến vương 1371-1423 Quách Huệ phi Lấy con gái của Lam Ngọc.
12 Chu Bách Tương Hiến vương 1371-1399 Hồ Thuận phi Tự sát trong niên hiệu Kiến Văn.
13 Chu Quế Đại Giản vương, ban đầu phong là Dự vương 25/8/1374-29/12/1446 Quách Huệ phi Lấy con gái thứ của Từ Đạt.
14 Chu Anh Túc Trang vương, ban đầu phong là Hán vương 1376-1419 Cáo thị
15 Chu Thực Liêu Giản vương, ban đầu phong là Vệ vương  ?-1424 Hàn phi
16 Chu Chiên Khánh Tĩnh vương 6/2/1378-23/8/1438 Dư phi Lấy con gái của Tôn Đạt
17 Chu Quyền Ninh Hiến vương 1378-1448 Dương phi
18 Chu Biền Dân Trang vương 10/4/1379-10/5/1450
19 Chu Huệ Cốc vương 30/4/1379-1428 Quách Huệ phi Bị phế làm dân thường trong niên hiệu Vĩnh Lạc.
20 Chu Tùng Hàn Hiến vương 26/6/1380-19/11/1407 Chu phi
21 Chu Mô Trầm Giản vương 1/9/1380-1431 Triệu quý phi
22 Chu Doanh An Huệ vương 18/10/1383-9/10/1417 Lấy con gái út của Từ Đạt.
23 Chu Kính Đường Định vương 11/10/1386-8/9/1415 Lý Hiền phi
24 Chu Đống Dĩnh Tĩnh vương 21/6/1388-14/11/1414 Lưu Huệ phi Lấy con gái của Quách Anh.
25 Chu Di Y Lệ vương 9/7/1388-8/10/1414 Cát Lệ phi
26 Chu Nam 4/1/1394-1394 , không phong vương.

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

TT Tước phong Sinh mất Năm kết hôn Mẹ đẻ Chồng Ghi chú
1 Lâm An công chúa 1360-17/8/1421 1376 Hiếu Từ Cao Hoàng Hậu Lý Kì (con trai Lý Thiện Trường
2 Ninh Quốc công chúa 1364-7/9/1434 1378 Hiếu Từ Cao hoàng hậu Mai Ân (cháu ruột của Mai Tư Tổ)
3 Sùng Ninh công chúa  ? 21/12/1384 Hòa quý phi Ngưu Thành
4 An Khánh công chúa  ? 23/12/1381 Hiếu Từ Cao hoàng hậu Âu Dương Luân
5 Nhữ Ninh công chúa  ? 11/6/1382 Lục Hiền (con trai Lục Trọng Hanh
6 Hoài Khánh công chúa  ?-15/7/1425 11/9/1382 Thành Mục quý phi Tôn thị Vương Trinh Lượng (con trai Vương Ninh)
7 Đại Danh công chúa 1368-30/3/1426 2/9/1382 Lý Kiên Có 1 con trai là Lý Trang.
8 Phúc Thanh công chúa  ?-28/2/1417 26/4/1385 An phi Trịnh thị Trương Lân (con trai Trương Long)
9 Thọ Xuân công chúa 1370-1/8/1388 9/4/1386 Phó Trung (con trai Phó Hữu Đức)
10 Thập công chúa  ? Không Chết non
11 Nam Khang công chúa 1373-15/11/1438 1387 Hồ Quan (con trai Hồ Đại Hải)
12 Vĩnh Gia Trinh Ý công chúa 1376-12/10/1455 23/11/1389 Huệ phi Quách thị Quách Trấn (con trai Quách Anh
13 Thập tam công chúa  ? Không Chết non
14 Hàm Sơn công chúa 1381-18/10/1462 11/9/1394 Cao Lệ phi Hàn thị Doãn Thanh
15 Nhữ Dương công chúa  ? 23/8/1394 Huệ phi Quách thị Tạ Đạt
16 Bảo Khánh công chúa 1394-1433 1413 Trương mĩ nhân Triệu Huy

Tiểu thuyết hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Thái Tổ được tiểu thuyết hoá trở thành một nhân vật trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long Ký của Kim Dung.

Trong truyện này ông là một giáo chúng của Minh giáo, có quen biết sâu sắc với giáo chủ Trương Vô Kỵ và tham gia khởi nghĩa chống quân Mông Cổ. Khi khởi nghĩa sắp thắng lợi ông lập mưu lừa Trương Vô Kỵ từ bỏ ngôi vị giáo chủ, ép giáo chủ tiếp theo là Dương Tiêu từ chức, giết thủ lãnh, lừa bạn bè. Cuối cùng khi khởi nghĩa thành công, Minh Thái Tổ tự mình lên ngôi hoàng đế, phản bội Minh giáo. Tên gọi "triều Minh" là để gợi nhớ tới xuất thân Minh giáo của ông.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiêu Lê (2000), Những ông vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, tập 3, NXB Đà Nẵng
  • Nguyễn Hiến Lê (1997) Sử Trung Quốc, Chương VII: Nhà Minh (1368 - 1644)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 216
  2. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 217
  3. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 219
  4. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 260 - 271
  5. ^ a ă Nguyễn Hiến Lê (1997) Sử Trung Quốc, Chương VII: Nhà Minh (1368 - 1644)
  6. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 241
  7. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 250-251
  8. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 278
  9. ^ 朱鷺 建文書法儗 前编
  10. ^ a ă 明史 卷五十一 志第二十七 禮五吉禮五 加上諡號
  11. ^ Đại Minh anh liệt gọi là Mã Ngọc Hoàn trong khi dã sử gọi là Mã Tú Anh.
  12. ^ Do Cao Ly tiến cống. Có sử gia coi là mẹ đẻ của Minh Thành Tổ.