Minh Thần Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Thần Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
明神宗.jpg
Hoàng đế nhà Minh
Trị vì 19/7/157218/8/1620
(&0000000000000048.00000048 năm, &0000000000000030.00000030 ngày)
Tiền nhiệm Minh Mục Tông
Nhiếp chính Cao Củng, Cao Nghi (1572)
Trương Cư Chính (1572-1582)
Kế nhiệm Minh Quang Tông
Thông tin chung
Tên húy Chu Dực Quân
Niên hiệu Vạn Lịch (萬曆 / 万历): 2/2/157327/8/1620
(&0000000000000047.00000047 năm, &0000000000000207.000000207 ngày) [1][2]
Thụy hiệu Ngắn: Hiển hoàng đế
Đầy đủ: Phạm thiên Hợp đạo Triết túc Đôn giản Quang văn Chương vũ An nhân Chỉ hiếu Hiển hoàng đế
範天合道哲肅敦簡光文章武安仁止孝顯皇帝
Miếu hiệu Thần Tông (神宗)
Triều đại Nhà Minh (明)
Thân phụ Minh Mục Tông
Sinh 4/9/1563
Mất 18 tháng 8, 1620 (56 tuổi)

Minh Thần Tông (chữ Hán: 明神宗, 4 tháng 9 năm 156318 tháng 8 năm 1620) là Hoàng đế thứ 14 của nhà Minh. Ông là con trai thứ ba của Minh Mục Tông, trị vì trong 48 năm, lâu dài nhất trong các vị hoàng đế nhà Minh và triều đại của ông cũng chứng kiến sự suy tàn dần dần của nhà Minh.

Thuở nhỏ khi mới lên ngôi, ông được Từ Thánh Lý thái hậu và Thái sư Trương Cư Chính nhiếp chính, tuy nhiên trong thời gian này ông luôn lo sợ bị mẹ phế bỏ để đưa người em trai lên thay mỗi khi phạm lỗi. Sau cái chết của Trương Cư Chính, Vạn Lịch bắt đầu tự mình chấp chính, sức mạnh của đế quốc vẫn tiếp tục phát triển, nhưng sau 18 năm ông bắt đầu chán nản và lao vào cuộc sống trụy lạc xa hoa, hoang dâm vô độ trong 20 năm cuối đời, thậm chí từ chối lên triều để điều hành công việc của đất nước. Lối sống này giống như của ông nội ông, Minh Thế Tông Gia Tĩnh hoàng đế, người đã từ bỏ trách nhiệm với đất nước để đi luyện đan dược trường sinh. Chính lối sống đó đã hủy hoại hệ thống cai trị của nhà Minh và đặt gánh nặng lên quốc khố và đời sống kinh tế của người dân, khi các cuộc nổi loạn của nông dân bắt đầu diễn ra và dẫn đến sự suy vong của nhà Minh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lúc sinh là Chu Dực Quân (朱翊鈞), là con trai của Minh Mục TôngHiếu Định hoàng hậu họ Lý.

Năm 1572, Minh Mục Tông băng hà. Chu Dực Quân mới chưa đầy 10 tuổi được lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Vạn Lịch (萬曆), Hoàng thái hậu Lý thị dạy bảo và phụ chính.

Trung thần Cao Củng thấy vậy liền than rằng:...Tại sao lại đứa một thằng nhóc 10 tuổi lên trị vì thiên hạ ?. Thật ra Cao Củng nói vậy vì quá lo lắng cho xã tắc triều Minh và sợ một công việc khó khăn sẽ đè nặng hết lên đầu của thái tử như Chu Dực Quân chứ không có ý gì khác. Thái giám Phùng Bảo đem chuyện này nói lại với tân hoàng đế Vạn Lịch thì nhà vua rất tức giận, cho là Cao Củng có ý chống đối mình làm vua nên định xử phạt Cao Củng. Cao Củng thấy vậy liền liệt kê ra những bậc hoàng đế trước đây đã giết nhầm người tài dẫn đến quốc gia suy yếu rồi sụp đổ. Nhưng Vạn Lịch còn quá nhỏ, không biết phân biệt phải trái nên vẫn giữ nguyên án phạt tử hình cho Cao Củng. Đến ngày thi hành án tử hình thì Cao Củng lại giả vờ bị điên nhưng vẫn bị Vạn Lịch đuổi về quê.

Sau khi Cao Củng đi rồi, Vạn Lịch cũng chẳng được yên thân khi lúc trước khi chết, Mục Tông Long Khánh đế còn giao việc phò tá Vạn Lịch cho vị quan thanh liêm là Trương Cư Chính. Trương Cư Chính là vị thầy rất nghiêm khắc, Vạn Lịch hồi đó cũng khá nể sợ nên đành ăn nói lễ phép với ông ta và tạm thời kiềm chế tật xấu của của mình.

Khi Vạn Lịch phạm lỗi, Trương Cư Chính nhân danh Thái hậu bắt vua phải quỳ mấy canh giờ trước bài vị tổ tông đại Minh. Bản thân Trương Cư Chính không cho người khác ăn hối lộ, nhưng chính ông ta lại là người ăn hối lộ nhiều nhất trong triều. Khi phụ thân Trương Cư Chính mất, ông ta ngồi kiệu 8 người khiêng về quê, trên đường lại ăn uống xa xỉ tiêu tốn cả ngàn lượng bạc. Khi Trương Cư Chính muốn sửa phủ đệ, Vạn Lịch còn ít tuổi nên tưởng Trương Cư Chính là quan thanh liêm nên cố gắng tìm 1000 lượng bạc tặng thầy, nhưng sau đó nhà vua được biết phủ đệ của Trương Các lão (cách gọi người đứng đầu nội các) tiêu tốn mấy vạn lượng bạc, nhà vua tuổi nhỏ nên cảm thấy mình bị Trương Cư Chính lừa dối. Những việc này đã làm Vạn Lịch có ác cảm với Trương Cư Chính. Tuy nhiên Trương Cư Chính vẫn được Thái hậu trọng dụng, việc triều chánh diễn ra tốt đẹp, đây gọi là thời kỳ Vạn Lịch trung hưng (萬曆中興). Thực tế trong thời gian này, người đứng đầu đất nước thật sự là Trương Cư Chính, chứ không phải tiểu hoàng đế Vạn Lịch.

Vạn Lịch trung hưng (1572-1582)[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1572 đến năm 1582 là thời kì hưng thịnh của triều Vạn Lịch. Kho lương tích trữ đủ dùng trong hơn 10 năm, quốc khố có hơn 400 vạn lượng vàng.

Năm 1573, Trương Cư Chính một mặt giảm bớt quan lại vô dụng, mặt khác bắt đầu kiểm soát chi phí hoàng thất, bởi vậy đã mang lại nhiều hiệu quả nhất định.

Năm 1577, Trương Cư Chính đề xuất tiến hành đo đạc đất đại trong cả nước, tăng cường sản xuất. Tới năm 1581, Trương Cư Chính hoàn tất việc đo đạc đất đai, tổng số đất đo đạc là 900 vạn khoảnh, nhiều hơn 800 vạn khoảnh thời Minh Hiếu Tông Hoằng Trị. Đồng thời Trương Cư Chính còn trọng dụng hiền tài như Thích Kế Quang, Lý Thành Lương và Vương Sùng Cổ và tìm nhiều chính sách để vỗ về với nhà Bắc Nguyên ở Mông Cổ. Vạn Lịch khen Trương Cư Chính biết dùng người thỏa đáng.

Thời gian 10 năm đầu thời Vạn Lịch, nhà Minh được chứng kiến sự phát triển về quân sự và thịnh vượng về kinh tế trong hơn cả trăm năm từ thời Vĩnh Lạc (1402-1424) của Minh Thành Tổ và thời Nhân-Tuyên chi trị (1424-1435) của Minh Nhân TôngMinh Tuyên Tông.

Năm 1582, Trương Cư Chính lâm bệnh mà qua đời. Ông ta giao lại quyền triều chính cho Vạn Lịch. Nhưng Vạn Lịch hoàn toàn khác xa lúc còn nhỏ. Ngay sau khi lên nắm quyền, Vạn Lịch trở nên ngang ngược, hống hách. Vì không muốn chấp nhận số phận của mình trong thời gian sống với Trương Cư Chính, Vạn Lịch rất căm giận ông ta và đã sai người về tận quê nhà của Trương Cư Chính bắt và giết hết họ hàng, anh em của Trương Cư Chính, đồng thời xóa bỏ hết những cải cách của Trương Cư Chính. Hành động này của Vạn Lịch được các sử gia đời sau cho là trò bất nghĩa với thầy.

Vạn Lịch chấp chính (1582-1600)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Trương Cư Chính mất rồi, Vạn Lịch quyết định nắm trọn quyền hành điều khiển đất nước, trong thời gian đầu tự mình chấp chính, Vạn Lịch chứng tỏ được mình là một hoàng đế có thẩm quyền và siêng năng. Nhìn chung, thời gian này (1582-1600) đất nước vẫn phát triển về kinh tế và hùng mạnh về quân sự. Khác với thời gian 20 năm cuối đời, lúc này Vạn Lịch vẫn tham dự các buổi thiết triều sáng và lắng nghe, thảo luận các vấn đề của đất nước.

Trong thời gian 18 tự mình chấp chính, Vạn Lịch hoàng đế đã thực hiện 3 chiến dịch quân sự lớn một cách thành công:

  1. Phòng thủ trước sự tấn công của Mông Cổ: Ở biên giới phía bắc, một cuộc phản loạn nổ ra và thủ lĩnh phản quân đã kết minh với quân Mông Cổ, đề nghị làm nội ứng cho quân Mông Cổ và yêu cầu quân Mông Cổ tấn công nhà Minh. Vạn Lịch cử Lý Thành Lương và các con đi dẹp, đánh lùi được quân Mông Cổ và diệt được phản loạn.
  2. Chiến tranh Nhật Bản-Triều Tiên (1592-1598) (hay Chiến tranh Nhâm Thìn): Toyotomi Hideyoshi sau khi thống nhất Nhật Bản, bắt đầu có ý tưởng bành trướng ra ngoài nên quyết định xâm lược Trung Quốc. Ông cho 20 vạn quân tiến tới Triều Tiên và gửi thư tỏ ý muốn mượn đường đánh nhà Minh, tuy nhiên yêu cầu bị bác bỏ, Hideyoshi quyết định tấn công Triều Tiên để làm bàn đạp tiến vào lục địa. Cuộc chiến mở đầu bất lợi cho Triều Tiên, vì Triều Tiên đã lâu không quan tâm tới việc quân sự trong khi Nhật Bản vừa mới thống nhất và có thể sử dụng các chiến binh dũng mãnh nhất châu Á thời bấy giờ. Vua Triều Tiên gửi thư cầu cứu nhà Minh và được Vạn Lịch đáp trả với việc gửi quân tới Triều Tiên. Vạn Lịch cho thực hiện 3 nước đi chiến lược: đầu tiên, nhà vua gửi 3000 quân tiếp viện Triều Tiên; thứ 2, nếu người Triều Tiên tiến vào lãnh thổ nhà Minh, nhà vua sẽ cho họ chỗ trú ẩn; cuối cùng, nhà vua hạ lệnh cho khu vực Liêu Đông chuẩn bị phòng thủ cho các cuộc đổ bộ của quân Nhật. Hai trận đánh đầu tiên của quân Minh là những thất bại khi Lý Như Tùng bị áp đảo khi phải đối phó với 20 vạn quân Nhật. Vạn Lịch sau đó cho gửi 8 vạn quân tiếp viện, lần này đã thành công hơn khi đánh lui quân Nhật. Việc này buộc Hideyoshi phải rút quân và ký hòa ước có lợi cho nhà Minh. Năm 1596, quân Nhật một lần nữa xâm lược Triều Tiên. Tuy nhiên Hideyoshi chết cùng năm làm cho tướng lĩnh Nhật Bản mất ý chí chiến đấu. Cùng với các chiến thắng của đô đốc hải quân Triều Tiên Lý Thuấn Thần và sự sa lầy của lực lượng bộ binh ở lục địa, quân Nhật đồng ý ký hòa ước và rút quân. Cuộc chiến này tuy xác định vị trí bá chủ của nhà Minh ở khu vực Đông Á, nhưng nó đã tiêu hao gần hết những thành quả kinh tế đạt được trước đó trong triều Vạn Lịch.
  3. Cuộc nổi loạn của Dương Ứng Long: Lúc cuộc nổi loạn diễn ra, Vạn Lịch đang tập trung vào chiến tranh Triều Tiên nên chỉ cho 3000 quân đi dẹp, tuy nhiên đội quân này đã bị tiêu diệt và tướng cầm quân cũng bị giết. Sau khi kết thúc chiến tranh Triều Tiên, Vạn Lịch chuyển sự tập trung vào cuộc nổi loạn và cho một đội quân đông hơn đi dẹp. Lần này thì Dương Ứng Long thua trận và bị bắt về kinh đô.

Sau khi dẹp được Dương Ứng Long, Vạn Lịch bỏ hẳn việc nghe triều sáng và lui về hậu cung, việc này kéo dài đến hết thời trị vì của Vạn Lịch.

Vạn Lịch đãi chính (1600-1620)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian 20 năm cuối đời, Vạn Lịch triệt để xa lánh vai trò của mình trong triều đình, hay trên thực tế là bãi công. Nhà vua không nghe triều buổi sáng, không xem tấu chương thậm chí không gặp thần tử. Nhà vua cũng không thèm quan tâm đến việc bổ nhiệm nhân sự, việc này dẫn đến các chức vụ cao cấp của triều đình bị thiếu khuyết, ảnh hưởng đến đất nước. Tuy nhiên nhà vua lại đặt sự tập trung vào việc kiến tạo lăng mộ cho bản thân, một lăng mộ nguy nga hùng tráng mà mất thập kỉ mới hoàn thành.

Không còn ai ngăn cản, Vạn Lịch thả sức ăn chơi. Ông cho khôi phục những chức quan mà Trương Cư chính đã bãi miễn trước đây. Vua tiếp tục cho trọng dụng hoạn quan để ăn chơi trác táng. Vạn Lịch tự vạch ra chế độ sinh hoạt cho riêng mình để tỏ ta uy lực của thiên triều. Ai mà can gián đều bị khép tội phải chết. Vạn Lịch mỗi đêm sau buổi dự triều rất mệt mỏi nên đều về cung uống rượu say khướt đến khuya rồi đánh đập các cung nữ. Vua còn học hút thuốc lá, chơi hoa và chim. Nhà Minh từ đó lại càng suy sụp.

Vạn Lịch còn viện cớ Long thể bất an để không phải tới triều đình. Ông từ chối tất cả các buổi triều kiến. Sứ giả các nước đến cũng không chịu ra gặp mặt. Từ đó các đại thần bắt đầu cởi mũ từ quan, Vạn Lịch cũng không thể hiện sự đau buồn gì, thậm chỉ vua còn cho các quan tự do từ chức. Năm 1602, hiện tượng thiếu quan lại trong triều Minh lên tới đỉnh điểm, vị trí nào cũng thấy thiếu người.

Vì suốt ngày chỉ lo ăn chơi xa xỉ và háo sắc nên sức khỏe của Vạn Lịch ngày một suy nhược, suốt ngày chỉ tiêu tiền cho hoang phí, quốc khố ngày càng cạn kiệt. Khởi nghĩa nông dân bắt đầu nổ ra. Vạn Lịch thường cho những lực lượng rất lớn để đánh dẹp những cuộc khởi nghĩa nhỏ. Như vậy hoàng đế đã tự tiêu hao nhân lực của mình.

Có vài lý do để giải thích cho việc Vạn Lịch cố tình lãng quên trách nhiệm của mình khi làm Hoàng đế. Một trong số đó là việc bị tấn công về mặt đạo đức dựa trên tư tưởng Nho gia chính thống của quan lại. Một việc nữa là việc tranh chấp quyền thừa kế ngai vàng. Nhà vua có sủng phi là Trịnh thị, sinh ra được hoàng tử thứ 3 là Chu Thường Tuấn. Vạn Lịch rất muốn lập người con này làm thái tử, nhưng bị sự phản đối kịch liệt của quan lại những người mang tư tưởng Nho gia và lấy cớ tổ tông đặt ra quy củ lập trưởng không lập thứ. Cuộc tranh chấp giữa hoàng đế và quan lại kéo dài 15 năm, cuối cùng vào năm 1601 Vạn Lịch đầu hàng, chấp nhận lập con trưởng Chu Thường Lạc làm thái tử. Việc Vạn Lịch chán ghét con trưởng nên đối xử hà khắc với con, thậm chí ngay cả cháu nội mình là Chu Do Hiệu (Minh Hy Tông sau này) khi lớn lên cũng không được học chữ, trở thành hoàng đế mù chữ đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự cai trị của nhà Minh. Chu Thường Lạc thì cố sức ăn chơi cho bõ những ngày tháng gian khổ, mới ở ngôi 1 tháng thì băng hà, Chu Do Hiệu thì giao hết quyền cho hoạn quan, để mặc hoạn quan tàn sát trung thần và nhiễu loạn đất nước. Mặc dù các quan lại đại thần nhìn như đã thắng trước hoàng đế, Vạn Lịch trả đũa bằng cách sử dụng một chính sách phản kháng thụ động, ông từ chối thực hiện trách nhiệm của mình với đất nước đã làm cho triều đình không thể vận hành thỏa đáng, điều này đã làm cho nhà Minh xuất hiện những vấn đề cả ở trong nước và ngoài biên giới.

Tuy không lập được con thứ làm Thái tử, nhưng sự sủng ái của Vạn Lịch với Chu Thường Tuấn không giảm bớt, nhà vua phong cho con làm Phúc vương, đất phong ở Lạc Dương, Hà Nam. Chu Thường Tuấn giống như cha mình, suốt ngày chỉ biết ăn chơi và vơ vét của cải nhân dân, đương thời nói rằng nhà Phúc vương còn giàu hơn cả quốc khố Đại Minh. Vì chỉ biết hưởng thụ nên người Phúc vương béo mập, di chuyển khó khăn. Tương truyền lúc Mãn Thanh nhập quan, Phúc vương vì quá to béo nên không chạy trốn nổi, bị quân Thanh bắt được, quân Thanh liền đem ông ta giết đi rồi lấy mỡ làm dầu đốt đèn, dùng mãi không hết.

Thời Vạn Lịch đế trị vì đã xuất hiện mầm mống liên quan tới chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường bắt đầu đổi mới, khoa học kĩ thuật bắt đầu phát triển nhanh hơn. Nhưng cũng vì thế, Vạn Lịch đế bắt đầu đi vào lối sống của người hiện đại, tiêu tiền như bùn rác. Quốc khố sạch trơn. Vạn Lịch đế cũng chứng kiến các nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo đầu tiên ở Bắc Kinh, Matteo Ricci. Ông đã mời Ricci về Bắc Kinh ở, Ricci ở đó tới năm 1610 thì mất.

Chính vào lúc này ở đông bắc nhà Minh đã xuất hiện điều mà sau này gọi là sự trỗi dậy của người Mãn Châu. Năm 1616, nhà Hậu Kim tiêu diệt nhà Bắc Nguyên và sai sứ sang nhà Minh giao hảo, lúc đó Nỗ Nhĩ Cáp Xích phát hiện nhà Minh đã suy yếu nên kế hoạch tiêu diệt nhà Minh sắp được thực hiện. Nỗ Nhĩ Cáp Xích sau đó tuyên bố "Thất đại hận", trực tiếp cử quân tấn công nhà Minh. Vào lúc này, sau 20 năm triều đình không hoạt động, quân đội nhà Minh đã mất đi sự hùng mạnh và tính kỷ luật, trong khi đó, quân Nữ Chân tuy ít hơn nhưng lại là các chiến binh dũng mãnh và khát máu. Trong trận Sa Nhĩ Hử năm 1619, quân Minh điều 20 vạn quân để chống lại quân xâm lược Nữ Chân chỉ có 6 vạn. Nỗ Nhĩ Cáp Xích đích thân chỉ huy 6 kỳ cùng 45,000 quân ở chính giữa, còn Đại ThiệnHoàng Thái Cực mỗi người chỉ huy 1 kỳ và 7,500 quân ở 2 cánh. Sau 5 ngày giao chiến, quân Minh thua trận, tử thương hơn 10 vạn người, 7 phần 10 lương thảo bị quân Hậu Kim cướp được. Nhà Minh đã chẳng thể phục hồi sau thảm họa này.

Cuối đời ông, triều đình nhà Minh phải chứng kiến một vụ tai tiếng nữa. Năm 1615, một người đàn ông tên Trương Sái, chỉ có một cây côn gỗ trong tay thế mà đánh đuổi được thái giám canh gác cửa cung, sau đó xông vào Từ Khánh cung, rồi đến Đông cung của Thái tử. Trương bị bắt và ném vào thiên lao. Những lời khai ban đầu cho rằng Trương là kẻ điên, tuy nhiên sau đó Trương đã thú nhận mình được thuê bởi 2 thái giám phục vụ Trịnh quý phi. Hai thái giám đã hứa sẽ thưởng cho Trương nếu thành công tấn công Thái tử, tuy nhiên việc lỡ ra nên liên lụy đến Trịnh thị. Được xem những bằng chứng buộc tội và vì tính nghiêm trọng của vụ án, Vạn Lịch vì muốn bảo toàn Trịnh thị đã tự mình xét án. Hoàng đế đổ hết trách nhiệm cho 2 thái giám, sau đó lôi họ ra chém cùng với Trương Sái. Tuy nhanh chóng được bưng bít, vụ án vẫn lọt ra ngoài để dân chúng bàn tán và trở thành một trong tam đại án nhà Minh.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1620, Vạn Lịch vì hoang dâm vô độ nên đã ngã bệnh và chết ở tuổi 56, ở ngôi 48 năm. Ông được an táng ở Định Lăng trong Minh Thập Tam Lăng. Con của Vạn Lịch là Chu Thường Lạc (朱常洛) lên kế vị ngai vàng, tức Minh Quang Tông. Các con trai của Vạn Lịch, ngoài những người chết non và Minh Quang Tông, những người còn sót lại đều bị quân Thanh giết cùng với người nhà khi Mãn Thanh nhập quan. Dòng dõi Phúc vương có Chu Do Tung chạy ra ngoài, lên ngôi hoàng đế nên vẫn giữ được huyết mạch nhà Minh.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều sử gia Trung Quốc cho rằng triều đại Vạn Lịch là một trong những nguyên nhân đáng kể dẫn đến sự diệt vong của nhà MInh. Ông không thực hiện trách nhiệm của hoàng đế điều khiển triều đình, thay vào đó là giao đại quyền vào tay hoạn quan, những kẻ tự xây dựng thế lực riêng của mình. Những quan lại bất mãn với hoàng đế trung thành với Chu Hi và chống lại Vương Dương Minh đã thành lập đảng Đông Lâm, một tổ chức chính trị tin vào sự cương trực của các cá nhân và cố gây ảnh hưởng trong triều dựa trên những nguyên tắc khắt khe của đạo Khổng Mạnh. Thời Vạn Lịch còn phải đối mặt với các gánh nặng tài chính và áp lực quân sự, nhất là vào những năm cuối khi người Mãn Châu bắt đầu trỗi dậy và cướp phá dọc vùng biên giới phía bắc nhà Minh. Những sự tàn phá này cuối cùng đã dẫn đến sự diệt vong của nhà Minh và năm 1644. Người ta cho rằng nhà Minh mất không phải lỗi của hoàng đế Sùng Trinh mà do sự bỏ bê trách nhiệm khi làm hoàng đế của Vạn Lịch.

Tuy nhiên, theo một cách nhìn tích cực hơn, việc hoàng đế Vạn Lịch đóng góp vào việc bảo vệ Triều Tiên trước quân Nhật đã giúp người dân ở 2 miền đất nước này yêu quý ông. Vào thời nay, người Hàn Quốc vẫn thể hiện sự tôn trọng của mình với Vạn Lịch.

Trên nhiều phương diện, hoàng đế Vạn Lịch vẫn giống với một số các hoàng đế khác trong lịch sử Trung Quốc, ban đầu rất thành công nhưng về cuối đời thì triều đại suy thoái, cuối cùng thì bị lật đổ, tiêu biểu là: Hán Vũ đế nhà Hán, Đường Cao TôngĐường Huyền Tông nhà Đường, Tống Nhân Tông nhà Tống và Thanh Cao Tông Càn Long nhà Thanh.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Song thân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Minh Mục Tông.
  • Mẹ: Hiếu Định hoàng hậu Lý thị (孝定皇后, ? - 1614), từ vị Quý phi tấn phong thành Từ Thánh hoàng thái hậu (慈圣皇太后). Thái hậu giáo huấn Thần Tông Vạn Lịch đế rất nghiêm, mỗi khi Hoàng đế sai phạm đều bắt quỳ rất lâu. Có lúc bà có ý định phế truất Vạn Lịch. Khi Hoàng đế cai trị còn nhỏ tuổi, bà quyết định tham chính.

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiếu Đoan Hiển hoàng hậu Vương Hỷ Thư (孝端顯皇后 王喜姐, 1564 - 1620), người Chiết Giang, cha là Vĩnh Niên bá Vương Vĩ (永年伯 王偉).
  • Hiếu Tĩnh Hiển hoàng hậu Vương thị (1565 - 1611), vốn là cung nhân của Từ Thánh hoàng thái hậu, do dung mạo xinh đẹp được sủng hạnh, khiến bà có thai. Thái hậu biết chuyện, sai người đến khám và thực có thai. Năm 1582, sắc phong làm Cung phi (恭妃), sau đó bà sinh ra Trưởng hoàng tử Chu Thường Lạc (朱常洛). Năm 1605, cháu nội là Chu Do Hiệu (朱由校) sinh, Từ Thánh thái hậu nhân đó khuyên Vạn Lịch đế tôn phong Vương Cung phi làm Hoàng quý phi. Khi bà qua đời, được truy phong làm Ôn Túc hoàng quý phi (温肃皇贵妃), khi Chu Thường Lạc lên kế vị, với dâng thụy hiệu Hiếu Tĩnh Ôn Ý Kính Nhượng Trinh Từ Tham Thiên Dận Thánh Hiển hoàng hậu (孝靖温懿敬让贞慈参天胤圣顯皇后).
  • Hiếu Ninh Hiển Hoàng Hậu Trịnh thị (1565 - 1630), sủng phi của Vạn Lịch đế. Năm 1586 tiến phong Hoàng quý phi, bà sinh cho Vạn Lịch ba Hoàng tử và ba Công chúa, nhanh chóng đạt được ngôi vị Phi tần cao nhất Hậu cung, sau khi bà qua đời được truy tôn Cung Khác hoàng quý phi.Sau này, cháu nội Hoằng Quang đế nhà Nam MinhChu Do Tung truy phong bà làm Hiếu Ninh Ôn Mục Trang Huệ Từ Ý Hiến Thiên Dụ Thánh Hiển hoàng hậu (孝寧溫穆莊惠慈懿憲天裕聖顯皇后).
  • Cung Thuận hoàng quý phi Lý thị (? - 1597).
  • Tuyên Ý Chiêu phi Lưu thị (1557 - 1642).
  • Trang Tĩnh Đức phi Hứa thị (? - 1602).
  • Ôn Tĩnh Thuận phi Thường thị (1568 - 1594).
  • Thanh Huệ Thuận phi Lý thị (? - 1623).
  • Hiền phi Ngụy thị.
  • Đoan phi Chu thị.
  • Nghi phi Dương thị.
  • Hi phi Vương thị.
  • Đoan Tĩnh Vinh phi Vương thị.
  • Vinh tần Lý thị.
  • Đức tần Lý thị.
  • Vĩ tần Cảnh thị.
  • Hòa tần Lương thị.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghi chú chung: Ngày trước năm 1582 là ngày trong lịch Julius, không phải trong lịch Gregory đón trước. Ngày sau năm 1582 là ngày trong lịch Gregory, không phải trong lịch Julius vẫn được dùng ở Anh cho đến năm 1752.
  2. ^ Sau khi Hoàng đế qua đời, niên hiệu Vạn Lịch coi như đã chính thức chấm dứt vào ngày 21 tháng 1 năm 1621 (ngày cuối cùng của năm âm lịch). Tuy nhiên, hoàng đế mới, Minh Quang Tông, đã qua đời chỉ một tháng sau, trước ngày 21 tháng 1 năm 1621, là thời điểm để bắt đầu của niên hiệu Thái Xương. Hoàng đế mới Minh Hy Tông quyết định rằng niên hiệu Vạn Lịch được xem như kết thúc kể từ ngày 27 tháng 8 năm 1620, ngày cuối cùng của tháng 7 âm lịch năm đó theo lịch Trung Quốc, để cho niên hiệu Thái Xương được áp dụng trong 5 tháng còn lại của năm này (xem bài Minh Quang Tông).