Thuốc phiện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thuốc phiện hay á phiện được chiết suất từ các hạt trong vỏ mầm cây anh túc hay cây thẩu (tên khoa học là Papaver somniferum L., còn gọi là P. paeoniflorum thuộc họ Anh túc (Papaveraceae).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh của mầm hoa cây thuốc phiện (anh túc) từ xưa đã được chêm vào các hình tượng tôn thờ, rất lâu trước khi thuốc phiện được tìm ra trong các hạt cây này. Trong phòng triển lãm hình tượng từ nước Assyria tại viện Bảo tàng Thành Phố New York, trên hình điêu khắc nổi từ cung điện của Ashurnasirpal II ở Nimrud (870 TCN - 879 TCN), có một vị thầncánh tay ôm một bó hoa... thuốc phiện thân dài.

Trước khi khám phá ra cách đốt và hút (bắt chước từ người thổ dân châu Mỹ hút thuốc lá), người Âu Á thường nhai hoặc uống thuốc phiện. Trong thế kỷ 17 - 18 thuốc phiện xuất hiện với tên gọi madak, một loại thuốc pha trộn á phiện và thuốc lá. Đến thế kỷ 19, madak bị cấm ở Trung Quốc, thuốc phiện nguyên chất được người chơi hút nhiều hơn và bắt đầu lan tràn khắp nơi trên thế giới.

Hình họa các tay nghiện á phiện trong những phòng hút phía Đông Luân Đôn năm 1874

Trong thế kỷ 19, hoạt động buôn lậu thuốc phiện tới Trung Quốc xuất phát từ Ấn Độ, đặc biệt là hoạt động của người Anh, là nguyên nhân chính gây ra cuộc chiến mang tên Chiến tranh thuốc phiện. Hậu quả của cuộc chiến này là Vương quốc Anh đã chiếm giữ Hồng Kông và thảo ra một thỏa ước mà người Trung Quốc gọi là "sự sỉ nhục thế kỷ". Buôn bán thuốc phiện đã trở thành một trong những nghề thu lời lớn nhất và được nhà nghiên cứu lịch sử thuộc Đại học Harvard, ông John K. Fairbank đánh giá là "tội ác kéo dài nhất và mang tính hệ thống quốc tế trong thời hiện đại."

Không có hạn chế hợp pháp nào về việc nhập hay sử dụng ma túy ở Mỹ cho đến khi sắc lệnh San Francisco, California ra đời cấm hút thuốc phiện trong những lều thuốc phiện vào năm 1875. Luật Ngăn Chặn Ma Túy (The Opium Exclusion Act) năm 1909 cấm nhập cảng thuốc phiện. Pháp chế quan trọng khác bao gồm Luật Thế Thuốc Gây Mê Harrison Narcotics Tax Act năm 1914. Trước thời gian này, các loại thuốc thường chứa thuốc phiện mà không có nhãn cảnh báo. Tổng thống Mỹ William Henry Harrison được chữa trị bằng thuốc phiện vào năm 1841. Ngày nay, có rất nhiều luật quốc gia và quốc tế quản lý việc sản xuất và phân phối chất gây mê. Cụ thể, Article 23 of the Single Convention on Narcotic Drugs yêu cầu các quốc gia sản xuất thuốc phiện chỉ định một cơ quan chính phủ chiếm giữ các vụ mùa thuốc phiện tự nhiên càng sớm càng tốt ngay sau khi thu hoạch chỉ đạo việc bán sỉ và xuất khẩu thông qua cơ quan đó. Việc sử dụng thuốc của thuốc phiện được kiểm soát chặt chẽ trên toàn thế giới và việc sử dụng không vì mục đích chữa bệnh nói chung bị cấm.

Cây anh túc thuốc phiện là loại cây vườn phổ biến và thu hút. Hoa của chúng đa dạng về màu sắc, kích cỡ và hình dáng. Việc trong một lượng nhỏ trong vườn riêng thường không bị quản lý về mặt pháp luật. Vỏ hạt khô của chúng thường được dùng để trang trí và các hạt nhỏ có chứa một lượng không đáng kể chất alkaloids có chứa thuốc phiện được dùng làm lớp mặt phổ biến và có hương thơm của bánh mỳ và bánh ngọt.

Ứng dụng y học[sửa | sửa mã nguồn]

Thuốc phiện đã là vật dụng chính để giao thương trong nhiều thế kỷ, và từ lâu đã được biết đến như là một loại thuốc giảm đau. Nó nổi tiếng với người Hi Lạp cổ, những người đã đặt tên cho nó là opion ("dầu anh túc"), và từ này được la tinh hóa thành từ tiếng Anh cho thuốc phiện (opium).

Nhiều thuốc có bằng sáng chế của thế kỷ 19 dựa tên cồn thuốc phiện (được biết với tên cồn thuốc thuốc phiện, một dạng dung dịch của thuốc phiện trong rượu cồn etylic). Cồn thuốc phiện được kê đơn hiện nay với nhiều lý do, như tiêu chảy nặng, làm thông ruột hồi. Uống dung dịch 10% cồn thuốc phiện (10% thuốc phiện, 90% rượu etylic (rượu trắng) trước bữa ăn 30 phút sẽ làm giảm đáng kể tiêu chảy, cho phép ruột hấp thụ chất lưu khi đi ngoài tốt hơn.

Chế phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Thuốc phiện cổ truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế biến thuốc phiện cổ truyền thì lấy nhựa cây thẩu phết lên trên một tấm giấy bản rồi đem hong khô. Đó là "thuốc sống". Lấy thuốc sống bóc bỏ giấy, đem dầm vào nước sôi, lọc sạch rồi đun cho đặc lại thì thành "thuốc chín". Đây là dạng thuốc dùng hút ở Đông Dương vào đầu thế ky 20.[1]

Morphine[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Morphine

Morphine là một alcaloid có hàm lượng cao nhất (10%) trong nhựa khô quả cây thuốc phiện được sử dụng trong y học như một thuốc giảm đau mạnh.

[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Heroin

Heroin là một dược chất thuộc dạng opioid nhân tạo được bào chế bằng cách ghép axetyl vào morphin, được sử dụng trong y học tương tự như morphine: chống đau nhức, với sự kiểm soát gắt gao của bệnh viện.

Hút thuốc phiện[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn đèn thuốc phiện- một "sáng chế" kết hợp Đông-Tây do thực dân Anh, Pháp đưa vào Việt Nam, Trung Quốc

Thuốc phiện có thể được dùng để hút, đôi khi hút kèm với thuốc lá, nhưng thuốc phiện cần nhiệt độ cao để chất alkaloid bốc hơi, vì thế người ta thường sử dụng những ống điếu đặc biệt mỗi khi hút thuốc phiện. Một giọt nhỏ thuốc phiện bị dính gần lỗ trong ống tẩu là chất rất dễ dính. Người hút, ngồi tựa bên cạnh chiếc đèn, thổi vào chiếc ống phía trên than hồng để tăng nhiệt mà than hồng tỏa ra. Khi thuốc phiện bay hơi, người hút bắt đầu hít vào. Một cách thông dụng khác là làm bay hơi thuốc phiện trên một tấm kim loại được đun nóng từ phía dưới bằng hộp quẹt. Hơi thuốc sau đó được hít vào thông qua một ống nhỏ. Đây là giây phút được gọi là ‘lên tiên’, và đây cũng là một cách chung để hút các thuốc có hòa thuốc phiện bất hợp pháp khác - morphineheroin.

“Lời thú tội của một kẻ nghiện hút người Anh” của Thomas De Quincey (Thomas De Quincey's Confessions of an English Opium-Eater) là một trong những miêu tả đầu tiên về việc nghiện hút từ quan điểm của một con nghiện trong những năm đầu thập niên thập niên 1820. Về sau, việc hút thuốc phiện liên quan đến cộng đồng người Hoa trên toàn Thế giới. Và những “căn lều ma túy” trở thành khu vực khét tiếng của nhiều phố Tàu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002. tr 1505-6

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]