Anh túc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Anh túc
Papaver somniferum - Köhler–s Medizinal-Pflanzen-102.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Ranunculales
Họ (familia) Papaveraceae
Phân họ (subfamilia) Papaveroideae
Tông (tribus) Papavereae
Chi (genus) Papaver
Loài (species) P. somniferum
Danh pháp hai phần
Papaver somniferum
L.
Quả chuẩn bị khai thác
Cây anh túc

Anh túc hay còn gọi là a phiến, thẩu, trẩu (người Tày gọi là cây nàng tiên), là loài thực vật có tên khoa học là Papaver somniferum L., thuộc họ Anh túc (Papaveraceae). Được xem là cây dược liệu quý. Trong y học dùng cho giảm đau tốt nhất trong các loại dược liệu cả Đông lẫn Tây y. Chiết suất của cây này làm gây nghiện nặng. Ngành y học khuyến cáo không nên dùng trong các trường hợp thông thường, phải có sự chỉ định chi tiết và giám sát trực tiếp của bác sỹ. Việc lạm dụng quá mức có thể gây nghiện. Chính phủ Việt Nam đã cấm trồng cây này, lập một đơn vị phòng chống ma túy kiểm soát; thuốc phiện và các chất được tinh chiết từ nó, và các chất gây nghiện khác như cần sa..v.v.

Cây[sửa | sửa mã nguồn]

Thân cao 1m-1,5m. Mỗi năm một vụ, mùa gieo hạt khoảng 10-11 âm lịch nằm vào mùa đông, thời gian từ khi gieo hạt đến khi ra hoa lấy mủ khoảng 3 tháng. Thích hợp với khí hậu vùng cao, có khi lên đến 1000m. Hoa của nó khá đặc biệt cùng một thân cây nhưng lại có bông hoa với các màu khác nhau, bông màu vàng tím và bông màu tím, trắng..v.v.

Lấy mủ[sửa | sửa mã nguồn]

Thường rạch dọc trái không trùng với điểm cũ, sau cuối người ta rạch chéo trái. Lấy mủ theo cách thủ công rạch từng quả. Trời càng lạnh càng nhiều mủ, cạo vào các buổi sáng 4-5 giờ. Thời gian cạo trong khoảng 15 ngày sau đó loại bỏ cây vì hết mủ.

Sản lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng khoảng 1 sào bắc bộ (360m²) mới lấy được 3 lạng mủ được cô đen (nha phiến). Sau khi hết mủ khai thác, quả khô bóc vỏ ra hạt ở trong. Hạt này có thể ăn sống được, thường trẻ con hay ăn. Hạt dùng để lấy giống vụ sau.

Tinh chế nha phiến[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu cần 1 kg bạch phiến thì cần phải tinh chế 10 kg nha phiến.

Việc chế biến thuốc phiện cổ truyền thì lấy nhựa thẩu phết lên trên một tấm giấy bản rồi đem hong khô. Đó là "thuốc sống". Lấy thuốc sống bóc bỏ giấy, đem dầm vào nước sôi, lọc sạch rồi đun cho đặc lại thì thành "thuốc chín". Đây là dạng thuốc dùng hút ở Đông Dương vào đầu thế kỷ 20.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002. tr 1505-6

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Papaver somniferum tại Wikimedia Commons