Chiến tranh Việt-Chiêm 1367-1396

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chiến tranh Việt – Chiêm 1367-1396 là cuộc chiến giữa nước Đại Việt thời hậu kỳ nhà Trần và nước Chiêm Thành phía Nam. Chiến tranh bùng nổ ác liệt nhất trong hơn 20 năm dưới thời vua Chế Bồng Nga của Chiêm Thành (1367 – 1390).

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến giữa Đại ViệtChiêm Thành, theo ý kiến của Trần Trọng Kim và Trần Xuân Sinh, bắt đầu từ cái chết của vua Chiêm là Chế Mân[1][2] năm 1307.

Đón Huyền Trân, bắt Chế Chí[sửa | sửa mã nguồn]

Từ sau khi liên minh chống quân Nguyên Mông thắng lợi, quan hệ giữa Đại ViệtChiêm Thành khá tốt đẹp. Nhà Trần gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân để đổi lấy châu Ô và châu Rí[3]. Nhà Trần đổi gọi hai đất này là Tân BìnhThuận Hóa. Năm 1307, Chế Mân chết, theo tục lệ Chiêm Thành thì Huyền Trân phải hỏa táng chết theo. Vua Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung mượn tiếng thăm viếng và dùng kế đưa Huyền Trân về nước. Vì vậy vua Chiêm mới là Chế Chí không phục nhà Trần, có ý đòi lại đất Ô Rí đã dâng.

Năm 1311, Trần Anh Tông mang đại quân đi đánh Chiêm. Đến trại Câu Chiêm, Anh Tông dụ Chế Chí. Chế Chí biết mình thế yếu bèn theo đường biển ra hàng. Anh Tông tuy phong Chế Chí làm vương nhưng bắt về giam lỏng ở Gia Lâm, cho em Chí là Chế Đà A Bà Niêm làm tước hầu, trấn giữ nước Chiêm. Năm 1313, Chế Chí chết tại Gia Lâm. Các nhà nghiên cứu cho rằng từ việc nhà Trần cướp lại công chúa Huyền Trân và giam Chế Chí tới hết đời, Đại Việt và Chiêm Thành kết thù oán mãi đến sau này[1][2].

Hai lần can thiệp ngôi vua Chiêm[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Chế Đà A Bà Niêm mất năm 1318, Đại Việt can thiệp vào chính trường Chiêm Thành, đánh đuổi vua Chiêm là Chế Năng chống đối và lập một vị vua thần phục mình là Chế A Nan làm vương.

Năm 1342, Chế A Nan chết, con là Chế Mộ và con rể là Trà Hoa Bố Đế tranh nhau ngôi vua. Người Chiêm ủng hộ Bố Đế, năm 1352 Chế Mộ yếu thế phải chạy sang Đại Việt cầu cứu. Năm sau (1353), Trần Dụ Tông lại can thiệp vào ngôi vua Chiêm, cho quân đưa Chế Mộ về nước. Nhưng lần đó quân Trần bị quân Chiêm đánh bại phải rút về.

Chiêm Thành lấn cướp biên giới Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1360, Trà Hoa Bố Đế chết, em là Chế Bồng Nga lên thay.

Vua Chiêm thấy quân đội nhà Trần không còn hùng mạnh như trước nên liên tục cướp phá biên giới Hóa châu của Đại Việt vào các năm: 1361, 1362, 1365, 1366. Dù các tướng biên giới nhà Trần đẩy lui được quân Chiêm nhưng các cuộc cướp phá không chấm dứt. Vì vậy Trần Dụ Tông quyết định khởi binh đi đánh Chiêm Thành.

Giao tranh 1367-1368[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1367, Trần Dụ Tông cử Trần Thế Hưng làm Thống quân hành khiển đồng tri, Đỗ Tử Bình làm phó, mang quân đi đánh Chiêm Thành.

Tháng 4 âm lịch năm 1368, quân Trần tiến vào Chiêm Động (Quảng Nam). Quân Chiêm đặt phục binh, quân Trần rơi vào chỗ phục kích, bị thua trận. Trần Thế Hưng bị bắt, Đỗ Tử Bình chạy thoát, mang tàn quân chạy về nước.

Chiêm Thành thấy binh lực nhà Trần ngày càng sút kém, bèn sai Mục Bà Ma đi sứ sang đòi đất Hóa châu nhưng không thành.

Giao tranh 1371[sửa | sửa mã nguồn]

Qua năm sau, Đại Việt có biến cố. Trần Dụ Tông mất, con là Nhật Lễ lên ngôi. Mẹ Nhật Lễ là vợ cũ của kép hát Dương Khương; Nhật Lễ giết mẹ Dụ Tông và muốn đổi sang họ Dương. Được hơn 1 năm (1370), Nhật Lễ bị hoàng tử Trần Phủ lật đổ giành ngôi, tức là vua Trần Nghệ Tông.

Mẹ Nhật Lễ chạy sang Chiêm Thành xin Chế Bồng Nga đánh Đại Việt trả thù.

Thăng Long thất thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 nhuận năm 1371, Chế Bồng Nga mang quân ra đánh. Quân Chiêm vượt biển đánh vào cửa Đại An[4], tiến thẳng vào kinh thành Thăng Long. Quân Chiêm vào đến Thái Tô, huyện Thọ Xương. Quân Trần chống cự không nổi. Trần Nghệ Tông phải đi thuyền qua sông chạy sang Đông Ngàn để tránh ở Cổ Pháp, làng Đình Bảng.

Ngày 27 tháng 3 nhuận, quân Chiêm tiến vào Thăng Long, cướp phá cung điện, bắt phụ nữ, lấy của cải ngọc lụa mang về. Kinh thành bị cướp sạch trơn.

Quân Chiêm rút về nước. Trần Nghệ Tông trở lại kinh đô, cho xây dựng sửa sang lại, dùng người tông thất đứng ra làm chứ không dùng sức dân[5].

Giao tranh 1376-1377[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Duệ Tông củng cố lực lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Nghệ Tông lập em là Trần Kính làm thái tử và sang năm 1372 thì truyền ngôi vua lên làm thượng hoàng. Trần Kính trở thành vua Trần Duệ Tông.

Để trả thù việc Chiêm Thành đánh cướp kinh thành, Trần Duệ Tông ra sức xây dựng quân đội. Tháng tám năm 1374, ông cho dân đinh xung vào quân ngũ: hạng nhất xung vào Lan Đô, rồi đến hạng nhì, hạng ba. Năm 1375, Duệ Tông xuống chiếu chọn các quan viên, người nào có tài năng, luyện tập nghề võ, thông hiểu thao lược, thì không cứ là tông thất đều làm tướng coi quân, đồng thời cho ra khỏi quân ngũ những người lính già cả, ốm yếu, bệnh tật.

Năm 1376, vua Chiêm là Chế Bồng Nga lại mang quân xâm lấn. Duệ Tông sai Đỗ Tử Bình đi đánh. Chế Bồng Nga sợ hãi, xin dâng 10 mâm vàng tạ tội. Nhưng Tử Bình giấu vàng đi, lại tâu về triều rằng vua Chiêm kiêu ngạo không thần phục[6]. Duệ Tông nổi giận, quyết định thân chinh đi đánh. Các quan đại thần Lê Tích, Trương Đỗ can ngăn không nên thân chinh nhưng Duệ Tông không nghe, sai quân dân Thanh Hóa, Nghệ An, Diễn Châu tải 5 vạn thạch lương đến tích trữ ở Hóa châu và rước thượng hoàng Nghệ Tông đi duyệt binh ở sông Bạch Hạc.

Trận Đồ Bàn[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12 âm lịch (đầu năm 1377), Trần Duệ Tông cầm 12 vạn quân tiến vào đất Chiêm Thành. Vua Trần sai Lê Quý Ly (tức Hồ Quý Ly) đốc vận lương thảo đến cửa biển Di Luân (Quảng Bình) rồi dừng quân 1 tháng để luyện sĩ tốt. Người Tân BìnhThuận Hóa bắt được nhiều người Chiêm mang nộp.

Tháng giêng năm 1377, quân Trần tiến đến Cầu Đá ở cửa Thi Nại (Quy Nhơn), đánh lấy đồn Thạch Kiều rồi tiến tới kinh thành Đồ Bàn nước Chiêm. Chế Bồng Nga lập đồn giữ ngoài thành, rồi cho người đến trá hàng, nói với Trần Duệ Tông rằng Chế Bồng Nga đã bỏ thành trốn.

Duệ Tông muốn tiến quân vào thành ngay, đại tướng Đỗ Lễ can ngăn mãi nhưng vua Trần không nghe, nói với quân sĩ rằng:

"Ta mình mặc giáp, tay cầm gươm, dãi gió dầm mưa, lội sông, trèo núi, vào sâu trong đất giặc, không một người nào dám chống lại đó là trời giúp. Huống chi nay vua giặc nghe tiếng bỏ trốn, không có lòng đánh lại. Cổ nhân nói "Dụng binh quý ở nhanh chóng". Nay lại dùng dằng không tiến nhanh, thế là trời cho mà không lấy, để nó lại có mưu khác, thì hối không kịp?"

Duệ Tông thúc quân tiến vào thành. Quân Chiêm tứ phía phục binh đổ ra đánh, chia cắt quân Trần ra từng đoạn. Quân Đại Việt thua to, mười phần chết đến 7, 8 phần. Duệ Tông bị hãm trong vòng vây, bị trúng tên tử trận. Các tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Lạp Hòa, Hành khiển Phạm Huyền Linh cũng tử trận. Ngự Câu vương Trần Húc bị bắt đã đầu hàng Chế Bồng Nga, được gả con gái.

Đỗ Tử Bình trước đã vu cáo vua Chiêm, lúc đó lĩnh hậu quân không tới cứu ứng cho Duệ Tông. Lê Quý Ly cũng sợ hãi bỏ chạy. Tuy nhiên khi về kinh, Quý Ly không hề bị thượng hoàng Nghệ Tông trách cứ, còn Tử Bình chỉ bị đồ làm lính 1 năm, sau đó lại được cất nhắc lên chức vụ cao hơn trước.

Trận Đồ Bàn 1377 là thất bại lớn nhất của quân Trần trong các cuộc giao tranh với quân Chiêm. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông thấy vua em vì việc nước bỏ mình, nên lập con trưởng của Duệ Tông là Trần Hiện lên ngôi, tức là Trần Phế Đế.

Chế Bồng Nga bắc tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thất bại của đại quân Trần năm 1377, Chế Bồng Nga biết binh lực nhà Trần đã rất suy nhược nên liên tục phát binh Bắc tiến. Quân Trần bị thất thế trước sức tấn công từ phương Nam trong nhiều năm.

Đầu tháng 11 năm 1377, vua Chiêm lại theo đường biển tiến đánh Đại Việt. Thượng hoàng Nghệ Tông sai Trấn quốc tướng quân Sư Hiền ra giữ biển Đại An. Chế Bồng Nga thấy Đại An có phòng bị, bèn tiến vào cửa Thần Phù[7] và tiến vào Thăng Long lần thứ 2. Quân Trần không ngăn cản nổi. Quân Chiêm cướp phá kinh thành, đến ngày 12 tháng 11 thì rút lui qua cửa Đại An, bị gió bão chết đuối rất nhiều[8].

Tháng 5 năm 1378, Chế Bồng Nga đưa hàng vương Trần Húc về nước, đánh cướp Nghệ An. Tháng 6, quân Chiêm tiến vào cửa Đại Hoàng. Thượng hoàng Nghệ Tông phục chức cho Đỗ Tử Bình, sai ra chống giữ. Tử Bình đánh không lại, quân bị tan vỡ. Chế Bồng Nga tiến vào Thăng Long lần thứ 3, bắt người cướp của rồi rút về.

Năm 1380, vua Chiêm lại dụ dân Tân Bình và Thuận Hóa đi cướp phá Nghệ An và tiến lên Thanh Hóa. Thượng hoàng Nghệ Tông lại sai Lê Quý Ly lĩnh quân thủy và Đỗ Tử Bình dẫn quân bộ ra chống. Tới tháng 5, quân Chiêm không đánh được phải rút lui.

Tháng 2 năm 1382, quân Chiêm lại tiến đánh Thanh Hóa. Lê Quý Ly đóng đồn ở núi Long Đại[9], sai Nguyễn Đa Phương đóng cọc giữ cửa biển Thần Đầu. Quân Chiêm hai đường tiến đánh. Khi thủy quân Chiêm lại gần, Đa Phương không đợi lệnh Quý Ly, cho mở cọc cắm cừ, tiến ra giao chiến. Quân Chiêm trở tay không kịp, quân Trần dùng hỏa khí ném vào làm thuyền Chiêm bị cháy đắm gần hết. Quân Chiêm thua to, phải bỏ chạy vào rừng núi. Quân Trần vây núi 3 ngày, quân Chiêm nhiều người bị chết đói. Thủy quân Chiêm còn lại bỏ chạy về nước. Quân Trần đuổi theo đánh đến Nghệ An.

Sau hai lần đẩy lui được quân Chiêm, tháng 1 năm 1383, nhà Trần quyết định đi đánh Chiêm. Lê Quý Ly được giao lĩnh quân thủy Nam tiến, nhưng đến huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) gặp gió bão, thuyền bị vỡ, toàn quân phải rút về.

Tháng 6 năm 1383, Chế Bồng Nga lại dẫn quân đánh Đại Việt. Thăng Long kinh động. Thượng hoàng sai Lê Mật Ôn đem quân đi chống giữ. Mật Ôn bị quân Chiêm bắt sống. Thượng hoàng Nghệ Tông chạy qua sông Đông Ngàn để lánh giặc. Có người học trò là Nguyễn Mộng Hoa để cả áo mũ lội xuống nước kéo thuyền ngự lại, xin Nghệ Tông ở lại đánh giặc, nhưng thượng hoàng không nghe. Lòng quân nản, không chống được địch. Chế Bồng Nga tiến vào Thăng Long lần thứ 4 và cướp phá một trận nữa.

Tháng 10 năm 1389, Chế Bồng Nga lại đánh lên Thanh Hóa, tiến vào hương Cổ Vô. Nghệ Tông lại sai Quý Ly đi chống cự. Quân Chiêm đắp ngăn sông Bản Nha ở thượng lưu, quân Trần đóng cọc đối địch, giữ nhau 20 ngày. Quân Chiêm đặt phục binh, giả cách rút lui. Lê Quý Ly chọn những quân khỏe cho đuổi theo. Quân Trần nhổ cọc ra đánh, quân Chiêm phá đập nước. Quân bộ khỏe mạnh đã đi xa, quân thủy bị ngược dòng không tiến lên được. Kết quả quân Trần bị thua to, hàng trăm tướng tử trận[10]. Quý Ly để tỳ tướng Phạm Khả Vĩnh và Nguyễn Đa Phương ở lại cầm cự với giặc, còn mình thì trốn về Thăng Long.

Phạm Khả Vĩnh và Nguyễn Đa Phương chống giữ ở Ngu Giang, biết mình thế yếu, bèn dùng kế giương nhiều cờ xí để nghi binh mà rút lui. Quân Chiêm không dám đuổi theo. Quân Trần rút lui trọn vẹn không bị tổn thất.

Trở về kinh thành, Nguyễn Đa Phương công khai chê Quý Ly là bất tài. Quý Ly căm tức, nói với Nghệ Tông rằng trận thua này là do nghe lời Đa Phương. Nghệ Tông bèn cách chức Phương. Quý Ly lại bảo Nghệ Tông nên giết Phương vì sợ Phương đi hàng Chiêm. Nghệ Tông bèn ép Phương tự vẫn.

Trận Hải Triều 1390[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Nguyễn Đa Phương và Phạm Khả Vĩnh rút về Thăng Long, tháng 11 năm 1389, Chế Bồng Nga thừa thắng tiến theo cửa Hoàng Giang thuộc Nam Xang (Hà Nam).

Trần Nghệ Tông sai đô tướng Trần Khát Chân ra chống giữ. Khát Chân khóc lạy lên đường, Nghệ Tông cũng khóc đưa tiễn. Điều này được các sử gia đánh giá rằng nhà Trần đã quá khiếp nhược trước sự uy hiếp của Chiêm Thành[11][12].

Trần Phế Đế bị thượng hoàng Nghệ Tông nghe lời gièm của Lê Quý Ly mà giết hại năm 1388. Nghệ Tông lập con nhỏ là Ngung lên ngôi, tức là Trần Thuận Tông. Em Phế Đế là Trần Nguyên Diệu mang các thủ hạ đi đầu hàng Chế Bồng Nga.

Trần Khát Chân đến Hoàng Giang xem xét địa thế, thấy không có chỗ nào đóng quân thuận lợi, bèn rút về đóng ở Hải Triều, tức sông Luộc[13].

Đầu năm 1390, Chế Bồng Nga và Trần Nguyên Diệu mang hơn 100 chiến thuyền đến Hải Triều đối đầu với Trần Khát Chân. Các thuyền khác của Chiêm Thành chưa kịp đến hội.

Có viên tướng Chiêm là Ba Lậu Kê bị tội với Chế Bồng Nga, sợ bị giết, bèn chạy trốn sang phía quân Trần, đầu hàng Trần Khát Chân. Ba Lậu Kê chỉ cho Khát Chân biết chiếc thuyền nào là chiến thuyền của Chế Bồng Nga. Trần Khát Chân sai các hỏa pháo tập trung chĩa vào chiến thuyền vua Chiêm mà bắn. Chế Bồng Nga bị trúng đạn tử trận. Người trong thuyền kêu khóc ầm ĩ.

Trần Nguyên Diệu thấy vua Chiêm chết, bèn cắt lấy đầu định trở về Đại Việt; hai tướng Đại Việt là Phạm Nhữ Lặc và Dương Ngang giết chết Nguyên Diệu, cướp lấy thủ cấp của Chế Bồng Nga nộp cho Trần Khát Chân. Khát Chân sai Lê Khắc Khiêm bỏ đầu vua Chiêm vào hòm, mang về dâng Trần Nghệ Tông ở Bình Than.

Quân Chiêm tan chạy. Tướng Chiêm là La Ngai thu thập tàn quân, hỏa táng xác Chế Bồng Nga, rồi men theo chân núi rút về. Quân Trần đuổi theo đánh, La Ngai dừng voi lại, tung ra nhiều tiền của để nhân lúc quân Trần mải nhặt đồ mà chạy thoát.

Xung đột biên giới[sửa | sửa mã nguồn]

Về cơ bản, sau cái chết của Chế Bồng Nga, giữa Đại Việt và Chiêm Thành không còn những cuộc chiến quy mô.

Sang năm 1391, Lê Quý Ly và Hoàng Phụng Thế lại mang quân đến Hóa châu, tuần tiễu biên giới Chiêm Thành. Quân Chiêm đặt phục binh đánh tan quân Trần. Phụng Thế bị bắt, sau trốn được về. Lê Quý Ly sai chém 30 viên đại đội phó dưới quyền của Phụng Thế.

Năm 1396, Quý Ly đã hoàn toàn khống chế triều Trần, sai Trần Tùng đi đánh Chiêm Thành, giành được thắng lợi nhỏ, bắt được tướng Chiêm là Bố Đông và lui binh. Đây là cuộc giao tranh cuối cùng giữa quân Trần và quân Chiêm.

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cái chết của Chế Bồng Nga, thế nước Chiêm Thành suy yếu. Tướng La Ngai về nước tự lập làm vua. Các con Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan và Chế Sơn Na bị La Ngai giành ngôi, yếu thế phải chạy sang đầu hàng Đại Việt. Chế Na Mô Đà Nan được phong làm Hiệu chính hầu và Chế Sơn Na được phong làm Á hầu.

Hai thổ hào trung thành với nhà TrầnPhạm Thế CăngPhan Mãnh mang dân quy thuận triều đình trong lúc chiến loạn, được ban thưởng. Nhiều thổ hào ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa và các tướng từng theo Chiêm Thành đều bị hạ lệnh bắt để trị tội như Trần Nguyên Đĩnh, Trần Tông, Nguyễn Động, Nguyễn Doãn, Hoàng Khoa. Nguyên Đĩnh và Trần Tông nhảy xuống sông tự vẫn. Một gia nô của Trần Tông là Trần Khang trốn sang Lào, đổi tên là Thiêm Bình, đến thời nhà Hồ mạo xưng là con của Trần Nghệ Tông, chạy sang Trung Quốc cầu viện nhà Minh, là một nguyên nhân dẫn đến cuộc xâm lăng nước Việt của nhà Minh.

Chiến tranh giữa nhà Trần với Chiêm Thành chấm dứt. Sau nhiều năm giao tranh, cả hai bên đều bị tổn thất nặng nề. Chính sự nhà Trần lọt vào tay Lê Quý Ly và không đầy 10 năm sau thì Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Chiêm Thành sau vụ đòi lại đất không thành năm 1368 đã thực hiện nhiều cuộc Bắc tiến, nhưng cuối cùng vẫn không lấy lại được vùng đất đã hiến cho Đại Việt đổi lấy công chúa Huyền Trân năm 1306. Từ sau khi Chế Bồng Nga chết, nước Chiêm không còn vua giỏi, tiểu quốc này bước vào thời kỳ suy vong[14].

Tổng kết[sửa | sửa mã nguồn]

Tính trong cuộc chiến gần 30 năm, hai bên giao tranh tất cả 13 lần. Đại Việt Nam tiến 5 lần (1367, 1376-1377, 1383, 1391, 1396) thì chỉ có 1 lần thắng lợi nhỏ khi Chế Bồng Nga đã chết (1396), còn 4 lần đầu đều thất bại, trong đó nặng nề nhất là năm 1377 (năm 1383 ra quân không giao chiến). Chiêm Thành Bắc tiến tất cả 7 lần (1371, 1377, 1378, 1380, 1382, 1383, 1389-1390), trong đó thắng 5 lần (1371, 1377, 1378, 1383, 1389) - 4 lần tiến vào kinh thành Thăng Long của Đại Việt (1371, 1377, 1378, 1383), thất bại 3 lần (1380, 1382, 1390 – năm 1389-1390 thắng trước thua sau).

Cả hai bên đều có vua bị tử trận khi tiến vào lãnh thổ nước địch. Phía Đại Việt là Trần Duệ Tông năm 1377, phía Chiêm Thành là Chế Bồng Nga năm 1390.

Cả hai bên đều có những mâu thuẫn nội bộ trong thời gian chiến tranh và có người chạy sang phía địch quốc. Phía Đại Việt có mẹ Dương Nhật Lễ cùng các tông thất Trần Húc, Trần Nguyên Diệu và các thổ hào vùng biên; phía Chiêm Thành có tướng Ba Lậu Kê, Chế Ma Nô Đà Nan và Chế Sơn Na.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nhìn nhận của các sử gia, nhà Trần thời Trần Dụ Tông trở đi đã suy nhược, không còn hùng mạnh như trước[15][16]. Ông vua duy nhất có hùng tâm thời kỳ này là Trần Duệ Tông có dũng nhưng thiếu mưu trí bị tử trận khiến khí thế quân Trần ngày càng suy kém[17].

Thượng hoàng Trần Nghệ Tông nhu nhược, chỉ biết mang Phế Đế chạy trốn và đem của cải đi chôn giấu vào núi khi quân Chiêm tấn công; về quân sự lại tin dùng mãi hai tướng bất tài là Lê Quý Ly và Đỗ Tử Bình; hai tướng này phạm tội nặng và để thua trận, hao tổn binh lực nhiều lần nhưng vẫn được trọng dụng. Điều đó khiến Chế Bồng Nga đánh ra Bắc, tiến vào Thăng Long "như vào chỗ không người"[18].

Về Chế Bồng Nga, nhiều ý kiến thừa nhận là một ông vua anh hùng ít có của Chiêm Thành. Nhưng theo Trần Xuân Sinh, vua Chiêm cũng chỉ có tài của tướng cướp dữ tợn. Chế Bồng Nga dùng binh đi chinh chiến liên miên nhiều năm khiến nhân lực Chiêm Thành bị tổn thất nặng. Không đòi lại đất đai bị mất để kiến thiết lại, bốn lần tiến vào Thăng Long, vua Chiêm chỉ cướp phá, vơ vét và vội vã rút về, không lần nào ở lâu. Chế Bồng Nga không phải ông vua anh hùng chấn hưng, mở mang đất nước[19].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 66
  2. ^ a ă Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 312
  3. ^ Nam Quảng TrịThừa Thiên-Huế hiện nay
  4. ^ Khoảng xã Quần Liêu, Nghĩa Hưng, Nam Định hiện nay
  5. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 363
  6. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 10
  7. ^ Cửa sông Chính Đại, Yên Mô, Ninh Bình.
  8. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 371
  9. ^ Tức núi Hàm Rồng, Đông Sơn, Thanh Hóa
  10. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 382
  11. ^ Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 72
  12. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 383
  13. ^ Thuộc huyện Hưng Nhân, Thái Bình, giáp với huyện Tiên Lữ, Hưng Yên
  14. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 386
  15. ^ Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 69, 71
  16. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 351
  17. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 368-369
  18. ^ Việt Nam sử lược, bản điện tử, tr 71
  19. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 385