Vạn Lý Trường Thành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vạn Lý Trường Thành
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
GreatWall 2004 Summer 4.jpg
Quốc gia Flag of the People's Republic of China.svg Trung Quốc
Kiểu Văn hóa
Hạng mục i, ii, iii, iv, vi
Tham khảo 438
Vùng UNESCO Châu Á-Thái Bình Dương
Lịch sử công nhận
Công nhận 1987 (kì thứ 11)

Vạn Lý Trường Thành (chữ Hán giản thể: 万里长城; phồn thể: 萬里長城; Bính âm: Wànlĭ Chángchéng; có nghĩa là "Thành dài vạn ") là bức tường thành nổi tiếng của Trung Quốc liên tục được xây dựng bằng đất và đá từ thế kỷ 5 TCN cho tới thế kỷ 16, để bảo vệ Đế quốc Trung Quốc khỏi những cuộc tấn công của người Hung Nô, Mông Cổ, người Turk, và những bộ tộc du mục khác đến từ những vùng hiện thuộc Mông CổMãn Châu. Một số đoạn tường thành được xây dựng từ thế kỷ thứ 5 TCN, trong đó nổi tiếng nhất là phần tường thành do Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc là Tần Thủy Hoàng ra lệnh xây từ năm 220 TCN200 TCN, nằm ở phía bắc xa hơn phần Vạn Lý Trường Thành hiện nay của Trung Quốc xây dưới thời nhà Minh, và hiện chỉ còn sót lại ít di tích.

Một nghiên cứu sơ bộ công bố hồi năm 2009 ước tính công trình có chiều dài 8.850 km (3.948 dặm Anh). Nhưng theo số liệu mới được công bố, Vạn Lý Trường Thành dài 21.196 km, chiều dài này được đưa ra dựa trên một cuộc khảo sát mới nhất. Chiều cao trung bình tường thành là 7m so với mặt đất, mặt trên của trường thành rộng trung bình 5-6m. Vạn Lý Trường Thành bắt đầu từ Sơn Hải Quan trên bờ Biển Bột Hải ở phía đông, tại giới hạn giữa Trung Quốc bản thổ ("đất Trung Quốc gốc") và Mãn Châu đến Lop Nur ở phần phía đông nam Khu tự trị người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trường thành dưới thời nhà Tần. Đỏ: thành, Cam: ranh giới quốc gia của Trung Quốc ngày nay.
Trường thành dưới triều Hán.
Tần Thủy Hoàng
Trường thành dưới thời nhà Minh.
Vạn Lý Trường Thành vào mùa đông, đoạn gần Bắc Kinh
Tranh vẽ Vạn Lý Trường Thành vào năm 1900

Lý do để Tần Thủy Hoảng xây Vạn Lý Trường Thành bắt nguồn từ một câu "sấm": "Vong Tần giả, Hồ dã" (Tần mất là do Hồ). Tần Thủy Hoàng tưởng chữ "Hồ" là chỉ giặc Hồ phương Bắc. Dù người làm mất nhà Tần hóa ra là Thái tử "Hồ" Hợi, di sản mà hoàng đế thống nhất Trung Quốc để lại cũng đã đặt nền móng cho Vạn Lý Trường Thành sau này.[2]

Một tường thành có tính chất phòng thủ biên giới phía bắc được xây dựng và duy trì bởi nhiều triều đại trong nhiều khoảng thời gian trong lịch sử Trung Quốc. Mục đích chính của nó là bảo vệ người Trung Quốc khỏi sự di cư của người Mông Cổ và người Thổ Nhĩ Kỳ. Có năm đoạn thành chính:

  1. 208 TCN (nhà Tần)
  2. thế kỷ thứ 1 TCN (nhà Hán)
  3. thế kỷ thứ 7 (nhà Tùy)
  4. 1138 - 1198 (Thời Nam Tống)
  5. 1368 - 1640 (từ vua Hồng Vũ đến vua Vạn Lịch của nhà Minh)

Đoạn tường thành chính đầu tiên được xây dựng dưới thời cai trị của Tần Thuỷ Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên của nhà Tần với thời gian tồn tại ngắn ngủi. Bức tường này không được xây dựng bởi nỗ lực của một nhóm mà là việc ghép nối nhiều đoạn tường thành của các vùng, từng được xây dựng ở thời Chiến Quốc, vào nhau. Bức tường được nối vào nhau ở thời gian đó làm bằng đất nện với những tháp canh được xây ở các khoảng cách đều nhau. Nó nằm xa hơn về phía bắc so với Vạn lý trường thành hiện tại với điểm cực đông nằm ở Bắc Triều Tiên hiện nay. Chỉ còn ít phần của nó còn sót lại - các bức ảnh cho thấy những ụ đất thấp, dài.

Triều đình bắt người dân phải làm việc để đắp thành, và các công nhân luôn bị nguy hiểm vì có thể bị bọn cướp tấn công. Bởi vì có nhiều người đã chết khi xây dựng thành, nó được đặt cho cái tên khủng khiếp, "Nghĩa địa dài nhất Trái Đất". Có lẽ khoảng một triệu công nhân đã chết khi xây dựng bức tường thành.[3]

Ước tính 300 ngàn binh lính với không biết bao nhiêu tội nhân, quan lại phạm lỗi, nho sĩ không tuân lệnh đốt sách... phải làm khổ sai trong miền rừng núi trùng trùng điệp điệp, mùa đông thì lạnh buốt, nước đóng băng, mùa hè thì không khí nóng như nung, mù mịt cát bụi. Trên thành cất những đồn canh, và có đường rộng chạy ngựa được giữa các đồn với nhau. Không biết bao nhiêu lời than thở, bao nhiêu nước mắt của thân nhân những người đó, không văn nhân thi sĩ nào chép lại hết được. Trong dân gian còn truyền lại nỗi khổ của nàng Mạnh Khương: "Nàng thương nhớ chồng, đi 10 ngàn dặm đường để thăm chồng bị bắt đi xây thành, đến nơi thì chồng nàng đã chết rồi. Xung quanh chỉ là rừng núi và đá. Không biết kiếm xác chồng ở đâu, nàng tuyệt vọng, khóc mấy ngày mấy đêm, khóc tới nỗi chính cái thành cũng phải mủi lòng, tự động tách ra cho nàng tìm thấy hài cốt chồng."

Bức tường dài tiếp theo được nhà Hán[4], nhà Tùy, và giai đoạn Thập Quốc xây dựng tiếp với cùng kiểu thiết kế.[5] Nó được làm bằng đất nện với nhiều tháp canh nhiều tầng được xây cách nhau vài dặm. Các bức tường thành cũng đã bị hư hại nhiều và đã lẫn vào phong cảnh xung quanh, bị ăn mòn bởi gió và nước mưa.

Về mặt quân sự, những bức tường này có ý nghĩa về mặt phân chia ranh giới hơn là công sự bảo vệ có giá trị. Chắc chắn rằng chiến lược quân sự của Trung Quốc không diễn ra quanh việc giữ vững bức tường thành.

Vạn Lý Trường Thành ngày nay được xây ở thời nhà Minh, bắt đầu khoảng năm 1368[6] và kết thúc khoảng năm 1640. Ước tính có khoảng 25.000 tháp canh đã được xây dựng dọc theo bức tường.[7] Trong một đoạn trong kinh Koran, các nhà địa lý Ả Rập cũng liên hệ Alexander đại đế với việc xây dựng tường thành. Bức tường này được xây với tầm vóc to lớn bằng những vật liệu tốt (đá cứng được dùng ở các bề mặt và ở trên đỉnh thành) hơn so với trước đó. Mục đích đầu tiên của bức tường là để ngăn bước những giống người bán du mục phía bên ngoài (như người Mông Cổ dưới sự chỉ huy của hãn vương AltanOirats dưới sự chỉ huy của Esen Taiji) vào cướp bóc bên trong Trung Quốc khi họ sử dụng ngựa để di chuyển; hay ngăn cản sự quay trở về của họ với những thứ cướp bóc được.

Vạn Lý Trường Thành thời nhà Minh bắt đầu từ điểm phía đông tại Sơn Hải Quan (山海关), gần Tần Hoàng Đảo, ở tỉnh Hà Bắc gần Vịnh Bột Hải. Kéo dài qua chín tỉnh và 100 huyện, 500km cuối cùng vẫn còn nhưng đã thành những đống gạch vụn, và hiện nay nó kết thúc ở điểm cuối phía tây di tích lịch sử Gia Dục Quan (嘉峪关), nằm ở phía tây bắc tỉnh Cam Túc tại biên giới với Sa mạc Gobi và những ốc đảo của Con đường tơ lụa. Gia Dục Quan được xây để tiếp đón những nhà du hành dọc theo Con đường tơ lụa. Mặc dù Vạn Lý Trường Thành kết thúc ở Gia Dục Quan, tại đó có rất nhiều "phong hoả đài" (烽火台) trải dài về phía Gia Dục Quan dọc theo Con đường tơ lụa. Những đài quan sát đó dùng dấu hiệu bằng khói để cảnh báo có xâm lược.

Năm 1644, người Mãn Kokes vượt qua bức tường thành bằng cách thuyết phục một vị tướng quan trọng là Ngô Tam Quế mở cửa những cánh cổng Sơn Hải Quan để cho người Mãn Châu vượt qua. Truyền thuyết kể rằng quân Mãn Châu mất ba ngày mới vượt hết qua đèo. Sau khi người Mãn Châu chinh phục Trung Quốc, bức tường thành không còn giá trị chiến lược nữa, đa phần bởi vì người Mãn Châu đã mở rộng quyền kiểm soát chính trị của họ ra xa phía bắc, còn xa hơn cả triều Trung Quốc trước đó. Xem thêm ở nhà Thanh (Mãn Châu).

Đoạn tường cuối cùng thời nhà Minh thực sự là một công sự quân sự về một số mặt. Tuy nhiên, các nhà sử học quân sự thường gạt bỏ giá trị thực của bức tường thành vĩ đại này. Người ta tốn cực kỳ nhiều tiền của và công sức để xây dựng, duy trì và đóng giữ. Số tiền nhà Minh chi phí vào bức tường này đáng ra có thể để chi vào cải thiện khả năng quân sự khác như mua pháo kiểu châu Âu hay súng trường. Sự thực là bức tường thành không hề có giá trị trong việc giúp ngăn chặn sự sụp đổ của nhà Minh.

Tình trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Dục Quan đang được sửa chữa

Trong khi một số đoạn gần các trung tâm du lịch được giữ gìn và thậm chí xây dựng lại, tại hầu hết các vị trí bức tường đang bị bỏ mặc không được sửa chữa, được dùng làm chỗ chơi cho những người dân làng và là nơi khai thác đá để làm đường hay làm nhà.[8] Các bề mặt của tường thành còn bị sơn vẽ graffiti. Nhiều phần đã bị phá hủy vì bức thành nằm chắn đường tới các địa điểm xây dựng..[9] Các phần không bị đụng chạm đến hay được sửa chữa là gần những điểm phát triển du lịch và thường bị những người bán hàng rong và khách du lịch làm giảm giá trị. Sa mạc Gobi cũng đang tiến sát tới bức tường thành ở một số địa điểm. Một số ước tính rằng chỉ 20% bức tường thành là đang ở tình trạng tốt. Năm 2005, các bức ảnh về một bữa tiệc điên dại trên Vạn lý trường thành xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng Trung Quốc. Chúng đã gây nên sự phẫn nộ bởi vì trong những bức ảnh do người nước ngoài, và người Trung Quốc chụp, những thanh niên uống rượu bia, đi tiểu tiện, đại tiện và có những hành vi tình dục trên bức thành được chiếu ở khắp nước. [10]

Tháng 8 năm 2012, một đoạn dài khoảng 36m của thành bị sụp đổ hoàn toàn.[11]

Một số cửa quan-cửa ải nổi tiếng dọc Vạn Lý Trường Thành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sơn Hải quan: cửa ải đầu tiên của Trường Thành, nằm ở nơi giáp ranh giữa hai tỉnh Hà Bắc và Liêu Ninh, khởi điểm của Trường Thành, phía nam của dãy núi Yên Sơn, phía bắc của Biển Bột Hải, do tướng Từ Đạt nhà Minh xây dựng. Tên Sơn Hải quan cũng là do đứng ở nơi đây có thể ngắm được, quan sát được toàn cảnh núi non và biển cả hùng vỹ, với non xanh nước biếc, đồi núi và biển cả soi bóng. Cửa ải này có 4 cửa, cửa phía Đông có một bức hoành phi với dòng chữ "Thiên hạ đệ nhất quan" dài 5,9 m, rộng 1,6 m. Chiều cao của chữ là 1,45 m, rộng 1,09 m do Tiêu Hiển, tiến sĩ, nhà thư pháp nổi tiếng của Nhà Minh viết.
  • Gia Dục quan: còn gọi là Hoà Bình Quan, là cửa quan nằm ở khởi điểm phía tây của Trường Thành, trên địa bàn thành phố Gia Dục Quan, tỉnh Cam Túc, xây dựng vào năm thứ 5 Hồng Vũ 1372.
  • Nương Tử quan: còn gọi là Vi Trạch Quan, thuộc địa bàn huyện Bình Định, tỉnh Sơn Tây. Địa thế hiểm trở, núi non trùng điệp, dễ phòng khó công nên được mệnh danh là "Tam tấn môn hộ". Hồi đầu nhà Đường, công chúa Bình Dương, con gái thứ 3 của Lý Uyên từng dẫn vài vạn tướng sĩ canh giữ tại đây. Công chúa Bình Dương võ nghệ cao cường, đạo quân của công chúa được gọi là "nương tử quân". Bởi vậy mọi người đổi tên cửa ải này thành Nương Tử Quan. Đến nay trên cánh cửa đông môn thành trì Nương Tử Quan còn có 5 chữ "Trực thuộc Nương tử Quan".
  • Ngọc Môn quan: ở Tiểu Phương Bàn Thành phía tây Huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc. Tên Ngọc Môn Quan là do tất cả đá ngọc sản xuất ở Hoà Điền, Tân Cương thời cổ đều phải đi qua cửa ải này.
  • Biển Đầu quan: cửa ải thuộc huyện Biển Đầu, tỉnh Sơn Tây, một vùng đất không bằng phẳng, phía đông cao, phía tây thấp, nên mọi người mới gọi là Biển Đầu Quan.
  • Nhạn Môn quan: nằm trên một thung lũng ở huyện Đại, tỉnh Sơn Tây, có khí thế hoành tráng, hai bên là vách núi dựng đứng, chỉ những con nhạn, con én mới bay qua được mà chỉ bay dọc theo thung lũng qua phía trước cửa ải, bởi vậy mọi người mới gọi là Nhạn Môn Quan.
  • Cư Dung quan: ở núi Tử Kinh, huyện Dị, tỉnh Hà Bắc.

Các tháp canh và trại lính[sửa | sửa mã nguồn]

Tháp canh

Bức tường thành được bổ sung những điểm đóng quân bảo vệ, để những người lính bảo vệ có thế rút lui nếu quân địch quá đông.

Mỗi tháp chỉ có một lối lên duy nhất và các cửa vào cũng như đường lên rất hẹp làm cho những kẻ tấn công dễ bị rối loạn.

Các trại lính và các trung tâm hành chính nằm ở những khoảng cách lớn.

Các loại vật liệu chính để xây thành[sửa | sửa mã nguồn]

Các vật liệu được sử dụng là những thứ có sẵn gần nơi xây dựng. Gần Bắc Kinh bức tường được làm bằng những khối đá vôi khai thác tại mỏ. Ở những nơi khác có thể là đá granite hay gạch nung. Nếu sử dụng những vật liệu đó, đầu tiên họ dựng hai bức tường sau đó nén đất và gạch đá vào giữa cùng một lớp phủ cuối cùng bên ngoài để tạo thành một khối duy nhất. Ở một số vùng các khối đó được gắn với nhau bằng một hỗn hợp nhớp dính của gạolòng trắng trứng.

Sự công nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tường thành nằm trong các danh sách "Bảy kỳ quan thời Trung cổ của Thế giới", tất nhiên nó không nằm trong danh sách truyền thống Bảy kỳ quan thế giớingười Hy Lạp cổ đại công nhận.

Bức tường thành trở thành Di sản thế giới của UNESCO năm 1987.

Người Trung Quốc có câu nói 不到长城非好汉, có nghĩa "Bất đáo Trường Thành phi hảo hán" đã được khắc bia tại trường thành.

Từ ngoài Trái Đất[sửa | sửa mã nguồn]

Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc trong một hình radar màu giả chụp từ phi thuyền không gian vào tháng 4, 1994

Đã có một sự tranh cãi từ lâu về việc bức tường thành sẽ thế nào nếu nhìn từ vũ trụ. Quan điểm rằng nó có thể được nhìn thấy từ vũ trụ có vẻ xuất hiện trước khi có các chuyến bay của con người vào vũ trụ.

Trong cuốn sách Cuốn sách thứ hai về những kỳ quan của Richard Halliburton năm 1938 có nói Vạn Lý Trường Thành là vật nhân tạo duy nhất có thể nhìn thấy được từ Mặt Trăng, và một truyện tranh tên là "Tin hay không tin của Ripley" ở thời gian đó cũng đưa ra tuyên bố tương tự. Niềm tin này kéo dài và trở thành một truyền thuyết đô thị, thỉnh thoảng thậm chí xuất hiện cả trong những cuốn sách giáo khoa. Arthur Waldron, tác giả cuốn lịch sử Vạn Lý Trường Thành đáng tin cậy nhất trong mọi ngôn ngữ đã chỉ ra rằng sự tin tưởng vào việc Vạn Lý Trường Thành có thể nhìn thấy được từ Mặt Trăng cũng giống như sự phấn khích của một số người khi tin rằng có những "kênh đào" trên bề mặt Sao Hỏa vào cuối thế kỷ 19. Trên thực tế, Vạn Lý Trường Thành đơn giản là không thể nhìn thấy bằng mắt thường nếu không có công cụ hỗ trợ từ Mặt Trăng, chưa nói đến nhìn từ Sao Hỏa.

Khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng khoảng một nghìn lần lớn hơn khoảng cách từ Trái Đất đến con tàu vũ trụ bay trên quỹ đạo gần Trái Đất. Nếu Vạn lý trường thành có thể nhìn thấy được từ Mặt Trăng, thì sẽ dễ dàng nhìn thấy nó từ quỹ đạo gần Trái Đất. Trên thực tế, từ quỹ đạo gần Trái Đất, nó rõ ràng là hơi thấy được, và chỉ trong những điều kiện tốt. Và nó cũng không rõ rệt hơn nhiều vật thể khác do con người tạo ra.

Một nhà du hành tàu con thoi thông báo rằng "chúng tôi có thể thấy những vật nhỏ như những đường băng sân bay [nhưng] Vạn Lý Trường Thành hầu như không nhìn thấy được từ khoảng cách 180 dặm Anh (290 km) trở lên." Nhà du hành vũ trụ William Pogue cho rằng ông đã thấy nó từ Skylab nhưng phát hiện ra rằng trên thực tế ông đang nhìn vào Đại Vận Hà gần Bắc Kinh. Ông phát hiện ra Vạn Lý Trường Thành với ống nhòm, nhưng nói rằng "nó không thể nhìn thấy được bằng mắt thường không có thiết bị hỗ trợ." Một nhà du hành trong chương trình Apollo đã nói không một cấu trúc nào của con người có thể nhìn thấy từ khoảng cách vài nghìn dặm. Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Jake Garn tuyên bố có thể nhìn thấy Vạn Lý Trường Thành bằng mắt thường từ trên quỹ đạo của tàu vũ trụ đầu thập kỷ 1980, nhưng tuyên bố của ông còn đang bị nhiều nhà du hành vũ trụ chuyên nghiệp khác của Mỹ phản đối. Nhà du hành vũ trụ Dương Lợi Vĩ người Trung Quốc sau 21,5 giờ bay vòng quanh Trái Đất đến 14 lần, trở lại mặt đất đã xác minh trên truyền hình là không nhìn thấy được Vạn Lý Trường Thành từ không gian. Điều này dẫn đến việc Trung Quốc phải đính chính lại sách giáo khoa đã đăng thông tin này.

Từ quỹ đạo Trái Đất tầm thấp nó có thể được nhìn thấy với điều kiện thời tiết tốt. Điều này giống như việc có thể thấy các đặc điểm của Mặt Trăng ở những thời điểm nhất định và không thấy chúng vào những thời điểm khác, vì sự thay đổi trong hướng ánh sáng. Vạn Lý Trường Thành chỉ rộng vài mét — kích thước tương đương với đường xa lộ và đường băng — và nó đồng màu với đất đá xung quanh.

Cựu phi hành gia Mỹ Gene Cernan đã nói: "Ở quỹ đạo Trái Đất từ 10km đến 320km, Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc quả thực là có nhìn thấy được bằng mắt thường." Ed Lu, Sĩ quan khoa học Expedition 7 trên Trạm vũ trụ quốc tế, nói thêm rằng, "...nó còn khó nhìn hơn nhiều vật khác. Và bạn phải biết cách tìm nó ở đâu."

Leroy Chiao, một nhà du hành người Mỹ gốc Hoa, đã chụp một bức ảnh từ Trạm vũ trụ quốc tế có hình bức tường thành. Nó không rõ đến mức mà ông không biết có phải đã thực sự chụp nó không. Dựa trên bức ảnh đó, một tờ báo nhà nước của Trung Quốc đã kết luận rằng Vạn Lý Trường Thành có thể được nhìn thấy từ vũ trụ bằng mắt thường, trong những điều kiện quan sát tốt, nếu người ta biết chính xác phải nhìn ở đâu [12].

Thực ra, điều đó là chuyện viễn tưởng, ví dụ nếu ở Mặt Trăng, Vạn Lí Trường Thành, nếu có một chiếc kính thiên văn hoặc thị lực đôi mắt gấp 17000 lần bình thường thì Vạn Lý Trường Thành, với chiều rộng khoảng 6 mét, cũng chỉ như một con giun đất. Đó mới chỉ là ở Mặt Trăng, việc quan sát những bức tường từ không gian là điều mắt người không thể làm được, vượt quá giới hạn vật lý của các tế bào hình nón nằm ở võng mạc.[13]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • VLTT, 9/2004-Albert Hazan

Khác

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Arnold, H.J.P, "The Great Wall: Is It or Isn't It?" Astronomy Now, 1995.
  • Hessler, Peter. "Walking the Wall". The New Yorker, May 21, 2007, pp. 56–65.
  • Lovell, Julia. The Great Wall: China against the World. 1000 BC - 2000 AD. London: Atlantic Books; Sydney, Australia: Picador, 2006. ISBN 978-0-330-42241-3; ISBN 0-330-42241-3.
  • Man, John. (2008). The Great Wall. London: Bantam Press. 335 pages. ISBN 9780593055748. 
  • Michaud, Roland (photographer); Sabrina Michaud (photographer), & Michel Jan, The Great Wall of China. Abbeville Press, 2001. ISBN 0-7892-0736-2
  • Waldron, Arthur, The Great Wall of China: From History to Myth. Cambridge: Cambridge University Press, 1990.
  • Yamashita, Michael; Lindesay, William (2007). The Great Wall — From Beginning to End. New York: Sterling. 160 pages. ISBN 978-1-4027-3160-0. 

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

¹ 10.000 = 5.760 km (3.580 dặm Anh). tại Trung Quốc nếu nói đến Vạn mà không có số từ phía trước như (1 vạn, 2 Vạn...) thì ngụ ý là vô tận, không thể nào đếm được. nhưng Vạn lý trường thành dài hơn 6.350 km nên cũng có thể nghĩ rằng là " tường thành dài vạn dặm(lý)" cũng đúng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ University of Washington: A. The Main Caravan Routes (b) The "Central Route" or "Middle Route."
  2. ^ “Vạn Lý Trường Thành hay nỗi sợ mang tên 'Phương Bắc'”. 
  3. ^ Tham khảo số người chết khi xây Vạn Lý Trường Thành
  4. ^ Coonan, Clifford (27 tháng 2 năm 2012). “British researcher discovers piece of Great Wall 'marooned outside China'”. The Irish Times. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2012. 
  5. ^ Waldron, Arthur N. (1983). “The Problem of The Great Wall of China”. Harvard Journal of Asiatic Studies 43 (2): 643–663. doi:10.2307/2719110. JSTOR 2719110Bản mẫu:Inconsistent citations 
  6. ^ Mooney, Paul and Catherine Karnow (2008). National Geographic Traveler: Beijing. National Geographic Books. tr. 192. ISBN 1-4262-0231-8. 
  7. ^ Szabó, Jozsef, Lorant David and Denes Loczy (2010). Anthropogenic Geomorphology: A Guide to Man-made Landforms. Springer. tr. 220. ISBN 978-9-048-13057-3. 
  8. ^ Ford, Peter (2006, Nov 30). New law to keep China's Wall looking great. Christian Science Monitor, Asia Pacific section. Retrieved March 17, 2007.
  9. ^ Bruce G. Doar: The Great Wall of China: Tangible, Intangible and Destructible. China Heritage Newsletter, China Heritage Project, Australian National University
  10. ^ Tham khảo "Bữa tiệc điên dại"
  11. ^ http://vietnamnet.vn/vn/quoc-te/84028/the-gioi-24h--van-ly-truong-thanh-bi-sap.html
  12. ^ Nhìn Vạn Lý Trường Thành từ ngoài vũ trụ?
  13. ^ “Thấy Vạn lý trường thành từ vũ trụ: Viễn tưởng?”. 

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Arnold, H.J.P, "The Great Wall: Is It or Isn't It?" Astronomy Now, 1995.
  • Beckwith, Christopher I. (2009): Empires of the Silk Road: A History of Central Eurasia from the Bronze Age to the Present. Princeton: Princeton University Press. ISBN 978-0-691-13589-2.
  • Hessler, Peter. "Walking the Wall". The New Yorker, May 21, 2007, pp. 56–65.
  • Lovell, Julia. The Great Wall: China against the World. 1000 BC – 2000 AD. London: Atlantic Books; Sydney, Australia: Picador, 2006. ISBN 978-0-330-42241-3; ISBN 0-330-42241-3.
  • Luo, Zewen, et al. and Baker, David, ed. (1981). The Great Wall. Maidenhead: McGraw-Hill Book Company (UK). ISBN 070707456
  • Man, John. (2008). The Great Wall. London: Bantam Press. 335 pages. ISBN 978-0-593-05574-8. 
  • Michaud, Roland and Sabrina (photographers), & Michel Jan, The Great Wall of China. Abbeville Press, 2001. ISBN 0-7892-0736-2
  • Rojas, Carlos. The Great Wall: A Cultural History (Harvard University Press; 2010) 213 pages; traces the history and considers its imagery in literature, art, and other realms.
  • Schafer, Edward H. (1985) The Golden Peaches of Samarkand. Berkeley: University of California Press. ISBN 978-0-520-05462-2.
  • Yamashita, Michael; Lindesay, William (2007). The Great Wall — From Beginning to End. New York: Sterling. 160 pages. ISBN 978-1-4027-3160-0. 

ISBN 978-0-330-42241-3; ISBN 0-330-42241-3.

  • Luo, Zewen, et al. and Baker, David, ed. (1981). The Great Wall. Maidenhead: McGraw-Hill Book Company (UK). ISBN 070707456
  • Man, John. (2008). The Great Wall. London: Bantam Press. 335 pages. ISBN 978-0-593-05574-8. 
  • Michaud, Roland and Sabrina (photographers), & Michel Jan, The Great Wall of China. Abbeville Press, 2001. ISBN 0-7892-0736-2
  • Rojas, Carlos. The Great Wall: A Cultural History (Harvard University Press; 2010) 213 pages; traces the history and considers its imagery in literature, art, and other realms.
  • Schafer, Edward H. (1985) The Golden Peaches of S
  • Beckwith, Christopher I. (2009): Empires of the Silk Road: A History of Central Eurasia from the Bronze Age to the Present. Princeton: Princeton University Press. ISBN 978-0-691-13589-2.
  • Hessler, Peter. "Walking the Wall". The New Yorker, May 21, 2007, pp. 56–65.
  • Lovell, Julia. The Great Wall: China against the World. 1000 BC – 2000 AD. London: Atlantic Books; Sydney, Australia: Picador, 2006. ISBN 978-0-330-42241-3; ISBN 0-330-42241-3.
  • Luo, Zewen, et al. and Baker, David, ed. (1981). The Great Wall. Maidenhead: McGraw-Hill Book Company (UK). ISBN 070707456
  • Man, John. (2008). The Great Wall. London: Bantam Press. 335 pages. ISBN 978-0-593-05574-8. 
  • Michaud, Roland and Sabrina (photographers), & Michel Jan, The Great Wall of China. Abbeville Press, 2001. ISBN 0-7892-0736-2
  • Rojas, Carlos. The Great Wall: A Cultural History (Harvard University Press; 2010) 213 pages; traces the history and considers its imagery in literature, art, and other realms.
  • Schafer, Edward H. (1985) The Golden Peaches of Samarkand. Berkeley: University of California Press. ISBN 978-0-520-05462-2.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Trung Quốc Di sản thế giới tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc
Di sản văn hóa
Ân Khư | Công viên quốc gia Lư Sơn | Cố cung nhà Minh-nhà Thanh | Cố cung Thẩm DươngCố Cung (Bắc Kinh) | Cung điện Potala | Di chỉ người Bắc Kinh tại Chu Khẩu Điếm | Di Hoà Viên | Điêu lâu Khai Bình | Hang đá Long Môn | Hang đá Vân Cương | Hang Mạc Cao | Khổng Miếu, Khổng Phủ, Khổng Lâm | Khu lịch sử Ma Cao | Kinh thành và lăng mộ Cao Cú Ly | Vườn cây cảnh cổ điển Tô Châu | Lăng tẩm hoàng gia Minh-Thanh | Lăng mộ Tần Thủy Hoàng cùng các tượng binh mã | Núi Thanh Thành và công trình thủy lợi Đô Giang Yển | Quần thể kiến trúc cổ núi Vũ Đang | Carxtơ Nam Trung Quốc gồm Thạch Lâm (Vân Nam), Carxtơ ở Quý ChâuQuảng Tây | Thành cổ Bình Dao | Thành cổ Lệ Giang | Thiên Đàn | Thôn cổ Nam An Huy (Hoản Nam): Tây Đệ, Hoành thôn | Tị Thử Sơn Trang Thừa Đức cùng Ngoại Bát Miếu | Tượng khắc đá Đại Túc | Vạn Lý Trường Thành | Thổ lâu Phúc Kiến | Ngũ Đài sơn | Các công trình lịch sử ở Đăng Phong | Cảnh quan văn hóa Tây Hồ Hàng Châu | Di tích Xanadu | Ruộng bậc thang Ha Ni Hồng Hà | Con đường tơ lụa: Mạng đường Hành lang Trường An- Thiên Sơn (chung với Kazakhstan, Kyrgyzstan) | Đại Vận Hà
Di sản tự nhiên
Khu bảo hộ Tam Giang Tịnh Lưu tại Vân Nam | Khu bảo tồn Gấu Trúc Lớn tại Tứ Xuyên | Khu thắng cảnh Cửu Trại Câu | Khu thắng cảnh Hoàng Long | Vườn quốc gia Tam Thanh Sơn | Khu thắng cảnh Vũ Lăng Nguyên | Trung Quốc Đan Hà | Di chỉ hóa thạch Trừng Giang | Thiên Sơn
Di sản hỗn hợp
Hoàng Sơn | Khu thắng cảnh Vũ Di Sơn | Nga Mi Sơn cùng Lạc Sơn Đại Phật | Thái Sơn