Lăng mộ Tần Thủy Hoàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lăng mộ Tần Thủy Hoàng cùng các tượng binh mã
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Xian guerreros terracota general.JPG
Quốc gia Flag of the People's Republic of China.svg Trung Quốc
Kiểu Văn hóa
Hạng mục i, iii, iv, vi
Tham khảo 441
Vùng UNESCO Châu Á-Thái Bình Dương
Lịch sử công nhận
Công nhận 1987 (kì thứ 11)

Lăng mộ của Tần Thủy Hoàng nằm ở phía bắc núi Ly Sơn (骊山) thuộc địa phận tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc), cách Tây An 50 km về phía đông.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Bên trên mộ bao bọc bởi một lớp đất đắp nổi cao 76 m, từ Nam đến Bắc dài 350 m, từ Tây sang Đông rộng 354 m. Trên mặt đất chung quanh lăng còn có hai lớp tường thành, diện tích thành bên ngoài là 2 km² có cửa. Giữa hai lớp thành có các giác lâu, cung tẩm, chùa chiền, nhà ở... Bên dưới mặt đất là địa cung hình chữ nhật, dài 460 m từ Nam sang Bắc, rộng 392 m từ Tây sang Đông, bốn phía có tường bao bọc. Tường bao cao 27 m, dày 4 m, bốn phía đều có cửa. Tổng diện tích địa cung là 18 vạn m².

Từ trên xuống dưới có ba tầng: trên cùng là ngoại cung, tiếp theo là nội cung và sau cùng là tẩm cung. Diện tích tẩm cung khoảng 2 vạn m². Trong tẩm cung phát hiện nồng độ thủy ngân cao hơn mức bình thường 280 lần. Ngoài địa cung, gần khu vực có lớp đất bao bọc bên trên phát hiện thấy 300 đường hầm bồi táng (chôn kèm theo xác) với trên 5 vạn cổ vật quan trọng. Bộ Sử kí của sử gia thời Tây Hán - Tư Mã Thiên,thuật lại việc xây lăng mộ Tần Thủy Hoàng như sau: "Khi Thủy Hoàng mới lên ngôi đã sai đào núi Ly Sơn. Đến khi thôn tính được thiên hạ thì dời 70 vạn người trong thiên hạ đến xây lăng mộ, đào ba con suối, ở dưới đổ Đồng nung và đưa quách vào. Đem những đồ quý báu của các cung điện, của trăm quan xuống cất đầy ở dưới. Lại sai thợ làm máy bắn tên hễ có ai đào đến gần thì bắn ra. Sai lấy thủy ngân làm một trăm con sông,nhưTrường Giang, Hoàng Hàbiển lớn. Các máy móc làm cho nước sông và biển chảy vào nhau. Ở trên có đủ thiên văn, ở dưới có đủ địa lý, lấy đầu cá nhân ngư để thắp đuốc, trù tính thế nào để cháy mãi mãi."

Sau khi chôn cất xong, có người nói: "Những người thợ làm máy và cất giấu đều biết chỗ cất giấu, thế nào họ cũng tiết lộ việc lớn". Cho nên sau khi cất giấu xong, Tần Nhị Thế (con trai Tần Thủy Hoàng) sai đóng đường hầm đi đến huyệt và cửa ngoài hầm. Những người thợ và người cất giấu không làm sao thoát ra được. Rồi sai trồng cây, trồng cỏ lên trên ngụy trang thành cái núi.

Công việc khai quật[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1974, một phần hầm mộ được khai quật. Đầu tiên là đường hầm Binh mã dũng số 1. Các nhà khảo cổ ước lượng có đến 8000 tượng làm bằng đất sét gồm có quan văn, quan võ, binh lính và ngựa những người than cận và trung thang với Tần Thuỷ Hoàng.Năm 1994 tiếp tục khai quật đường hầm số 2. Đây được coi là "tinh hoa trong tinh hoa" của Binh mã dũng, chứa đựng trận thế kị binh và các cung thủ với các tư thế bắn tạo hình phong phú, tính nghệ thuật cao.

Một phần của bộ sưu tập tượng đất sét nung trong mộ

Tuy nhiên việc khai quật lăng mộ gặp rất nhiều khó khăn: vượt qua lớp thủy ngân bao bọc (nồng độ cực kỳ lớn),(280 lần so với mức bình thường), phải di chuyển một khối lượng đất khổng lồ, mực nước ngầm dưới lòng đất khá cao. Quan trọng nhất là việc bảo quản các văn vật được đào lên. Các tượng binh mã khi vừa đào lên thì có màu sắc riêng biệt, sau thời gian đều bị phai nhạt hết. Vì vậy bảo quản bằng phương pháp "đông khô" để tránh nứt, vỡ, phai màu. Hiện vật đào lên được đưa ngay vào hầm lạnh -40 độ C để tạo lớp băng mỏng bao bọc, sau đó bảo quản lâu dài trong kho chứa. Trước khi khai quật không quên dựng một nhà bảo quản khổng lồ bao toàn bộ khu lăng mộ. Vì vậy muốn khai quật toàn bộ khu lăng mộ thì phải tốn hàng trăm triệu đôla Mỹ. Cuộc khai quật được tiến hành trong nhiều năm. Những hiện vật phát hiện được là những tư liệu quý về lịch sử Trung Quốc thời Tần Thuỷ Hoàng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 34°22′55″B 109°15′13″Đ / 34,381944°B 109,253611°Đ / 34.381944; 109.253611

Trung Quốc Di sản thế giới tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc
Di sản văn hóa
Ân Khư | Công viên quốc gia Lư Sơn | Cố cung nhà Minh-nhà Thanh | Cố cung Thẩm DươngCố Cung (Bắc Kinh) | Cung điện Potala | Di chỉ người Bắc Kinh tại Chu Khẩu Điếm | Di Hoà Viên | Điêu lâu Khai Bình | Hang đá Long Môn | Hang đá Vân Cương | Hang Mạc Cao | Khổng Miếu, Khổng Phủ, Khổng Lâm | Khu lịch sử Ma Cao | Kinh thành và lăng mộ Cao Cú Ly | Vườn cây cảnh cổ điển Tô Châu | Lăng tẩm hoàng gia Minh-Thanh | Lăng mộ Tần Thủy Hoàng cùng các tượng binh mã | Núi Thanh Thành và công trình thủy lợi Đô Giang Yển | Quần thể kiến trúc cổ núi Vũ Đang | Carxtơ Nam Trung Quốc gồm Thạch Lâm (Vân Nam), Carxtơ ở Quý ChâuQuảng Tây | Thành cổ Bình Dao | Thành cổ Lệ Giang | Thiên Đàn | Thôn cổ Nam An Huy (Hoản Nam): Tây Đệ, Hoành thôn | Tị Thử Sơn Trang Thừa Đức cùng Ngoại Bát Miếu | Tượng khắc đá Đại Túc | Vạn Lý Trường Thành | Thổ lâu Phúc Kiến | Ngũ Đài sơn | Các công trình lịch sử ở Đăng Phong | Cảnh quan văn hóa Tây Hồ Hàng Châu | Di tích Xanadu | Ruộng bậc thang Ha Ni Hồng Hà
Di sản tự nhiên
Khu bảo hộ Tam Giang Tịnh Lưu tại Vân Nam | Khu bảo tồn Gấu Trúc Lớn tại Tứ Xuyên | Khu thắng cảnh Cửu Trại Câu | Khu thắng cảnh Hoàng Long | Vườn quốc gia Tam Thanh Sơn | Khu thắng cảnh Vũ Lăng Nguyên | Trung Quốc Đan Hà | Di chỉ hóa thạch Trừng Giang | Thiên Sơn
Di sản hỗn hợp
Hoàng Sơn | Khu thắng cảnh Vũ Di Sơn | Nga Mi Sơn cùng Lạc Sơn Đại Phật | Thái Sơn