Ngụ binh ư nông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ngụ binh ư nông (chữ Hán: 寓兵於農), theo nghĩa tiếng Việt là “gửi binh ở nông”, là chính sách xây dựng lực lượng quân sự thời phong kiếnViệt Nam, áp dụng từ thời nhà Tiền Lê đến thời Lê sơ[1].

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là chính sách xây dựng quân đội gắn liền với nông dân, nông nghiệpnông thôn. Nhà Đinh là triều đại phong kiến đầu tiên ở Việt Nam áp dụng chính sách này. Những đinh nam từ 18 tuổi trở lên đến tuổi binh dịch được gọi là hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên gọi là đại hoàng nam, phải gia nhập quân ngũ.

Lực lượng cấm quân chuyên bảo vệ cung điện của nhà vua, đóng xung quanh kinh thành, gọi là thiên tử binh, còn lực lượng quân tại các địa phương gọi là lộ quân hay sương quân. Triều đình chia số quân trong bộ phận sương quân thành từng phiên, một số phiên thường trực, còn lại về quê làm sản xuất nông nghiệp; cứ như vậy từng lượt luân phiên nhau. Số quân không có số nhất định mà cốt lấy người khỏe mạnh đủ có thể tham gia quân ngũ[2].

Như vậy trong thời bình, binh lính chia nhau vừa sản xuất vừa tập luyện. Việc để binh lính tại các địa phương làm nông nghiệp được gọi là gửi binh ở nông (ngụ binh ư nông). Từ tháng 10 năm 1790,

Nhà Trần kế thừa chính sách này của nhà Lý. Thời Lý, Trần triều đình chỉ cấp lương cho quân túc vệ, còn sương binh tự túc lương thực. Sang thời Hậu Lê, chính sách ngụ binh ư nông áp dụng cả với cấm quân ở kinh thành[1]. Từ thời Mạc, áp dụng chế độ "lộc điền" (hay còn gọi là “binh điền”) nhằm ưu đãi cho lực lượng quân đội, chính sách ngụ binh ư nông không còn được triều đaị nào áp dụng[3]. Tới khoảng năm 1790, một dạng của phép ngụ binh ư nông được Nguyễn Ánh thi hành ở khu vực Gia Định, miền cực nam Đại Việt, theo đó binh lính cũng được huy động vào việc sản xuất nông nghiệp. Họ vừa được khuyến khích lẫn bị bắt buộc cầy cấy để tận dụng các mảnh đất bị bỏ hoang vì chiến tranh[4].

Tác dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhu cầu bảo vệ đất nước và bảo vệ chính quyền cai trị cần một lực lượng quân đội hùng hậu. Tuy nhiên, nhu cầu nhân lực để sản xuất nông nghiệp cho đời sống cũng rất lớn. Vì vậy việc đưa quân về địa phương luân phiên cày cấy giúp lực lương này tự túc được về lương thực, bớt gánh nặng về lương thực nuôi quân cho triều đình[5].

Ngụ binh ư nông là việc liên kết hài hoà giữa việc quân sự và nông nghiệp, giữa kinh tế và quân sự, chuyển hóa nhanh từ thời bình và sang thời chiến khi cần. Nhờ chính sách này, triều đình có được lực lượng quân đội hùng mạnh, đông đảo trong khi sản xuất nông nghiệp vẫn được duy trì. Thời Lý có số quân tham chiến chống nhà Tống khoảng 10 vạn người[6], thời Trần khi có chiến tranh chống quân Nguyên có hơn 20 vạn quân[7], sang thời Lê sơ khi có chiến tranh có thể huy động 26-30 vạn quân[8].

Chính sách ngụ binh ư nông phản ánh tư duy nông binh bất phân (không phân biệt quân đội và nông dân), đâu có dân là đó có quân, phù hợp với điều kiện xây dựng nền quốc phòng của một nước đất không rộng, người không đông, cần phải huy động tiềm lực cả nước vừa sản xuất, vừa đánh giặc[9].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Viện Sử học (1996), Vương triều Mạc, NXB Khoa học xã hội
  • Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, NXB Khoa học xã hội
  • Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên (2008), Đại cương lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục
  • Đại Việt sử lược
  • Sơn Nam (2009), Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam (ấn bản 1), Nhà xuất bản Trẻ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b “NGỤ BINH Ư NÔNG”
  2. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 182
  3. ^ Viện sử học (1996), sách đã dẫn, tr 52
  4. ^ Sơn Nam, sách đã dẫn, tr 55-56
  5. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 126
  6. ^ Đại Việt sử lược, quyển 2
  7. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 181
  8. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 174
  9. ^ Nguyễn Trọng Tuấn - ĐẶC SẮC TƯ DUY QUÂN SỰ VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN